Đọc hiểu Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải) | Luyện đề đọc hiểu Văn 9
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu,
Bốn bề hổ thét chim kêu,
Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.
Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu, Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.
Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tàn lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên.
Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định, Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay, Trời Nam riêng một cõi này, Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!
Than vận nước gặp khi biến đổi, Để quân Minh thừa hội xâm lăng, Bốn phương khói lửa bừng bừng, Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!
(Trích Hai chữ nước nhà, Trần Tuấn Khải, *Tinh tuyển văn học Việt Nam (1930-1945)*, tập 7, quyển 1, NXB Khoa học xã hội, 2004)
Chú thích:Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I (1924), lấy đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược nước ta: Nguyễn Phi Khanh (cha của Nguyễn Trãi) bị giặc bắt đem sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đi theo, nhưng tới biên giới phía Bắc, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên con nên quay trở về để lo tính việc trả thù nhà, đền nợ nước. Á Nam đã mượn lời người cha dặn dò con để gửi gắm tâm sự yêu nước của mình. Đoạn trích trên đây là phần mở đầu của bài thơ.
Câu 1
Xác định thể thơ của văn bản trên.
Xem lời giải
Phương pháp giải
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết
Thể thơ: song thất lục bát
Giải thích:
Các khổ thơ được tổ chức theo mô hình hai câu bảy tiếng, tiếp đến một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng.
Mở rộng
- Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm cặp song thất (bảy tiếng) và cặp lục bát (sáu – tám tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.
- Gieo vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc). Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng). Tiếng cuối của dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (vần bằng). Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng) và cứ thế tiếp tục.
- Ngắt nhịp: Hai dòng thất được ngắt nhịp lẻ, thường là 3/4; dòng lục và dòng bát ngắt nhịp linh hoạt hơn (dòng lục thường ngắt nhịp 2/2/2, dòng bát thường ngắt nhịp 2/2/2/2).
- Thanh điệu: Về thanh điệu, thanh bằng (B) - trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định
Các thành ngữ: hổ thét chim kêu, xương rừng máu sông
Giải thích:
- “Hổ thét chim kêu” gợi lên một không gian hoang vắng, dữ dội, thê lương, qua đó góp phần khắc họa hoàn cảnh éo le của hai cha con trong cảnh nước mất, nhà tan.
- “Xương rừng máu sông” gợi cảnh chiến tranh khốc liệt, con người chết chóc, đau thương, qua đó nhấn mạnh những thảm họa và mất mát ghê gớm mà dân tộc phải chịu khi đất nước bị quân Minh xâm lược.
Mở rộng
- Thành ngữ là một loại cụm từ cố định, có nghĩa bóng bẩy. Nghĩa của thành ngữ là nghĩa toát ra từ cả cụm từ, chứ không phải được suy ra từ nghĩa của từng thành tố.
- Các cách phân loại cấu tạo thành ngữ:
+ Dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ:
+ Dựa vào kết cấu ngữ pháp
- Vì thành ngữ mang đậm sắc thái biểu cảm nên dễ dàng bày tỏ, bộc lộ được tâm tư, tình cảm của người nói, người viết đối với điều được nhắc tới.
Phân tích tác dụng của phép tu từ nhân hóa được sử dụng trong khổ thơ sau:
"Chốn ái Bắc mây sầu âm đạm,
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu,
Bốn bề hổ thét chim kêu,
Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình."
Xem lời giải
Phương pháp giải
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp nhân hoá
Lời giải chi tiết
- Phép tu từ nhân hoá: “mây sầu”, “gió thảm”
- Tác dụng:
+ Làm cho câu thơ sinh động, giàu hình ảnh, tăng giá trị biểu cảm
+ Nhấn mạnh khung cảnh đìu hiu, ảm đạm khi hai cha con phải chia li trong cảnh mất nước
+ Thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu và xót xa của tác giả.
Giải thích:
“Mây” vốn không thể “sầu”, “gió” vốn không thể “thảm”, nhưng tác giả đã gán cho chúng những trạng thái cảm xúc của con người. Cách nhân hóa này khiến cảnh vật dường như đồng điệu với lòng người: mây mang nỗi sầu, gió mang nỗi thảm. Các hình ảnh “mây sầu ảm đạm”, “gió thảm đìu hiu” kết hợp với “hổ thét chim kêu” tạo nên một bức tranh thiên nhiên hoang vắng, lạnh lẽo và đầy bất an.
Mở rộng
- Nhân hoá là gọi vật hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người làm cho thế giới loài vật, đồ vật, cây cối,… trở nên gần gũi với con người, đồng thời biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.
- Có ba kiểu nhân hoá thường gặp là:
+ Dùng những từ ngữ vốn gọi người để gọi vật.
+ Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.
- Qua đoạn trích phần đầu Hai chữ nước nhà, tác giả đã mượn một câu chuyện lịch sử có sức gợi cảm vô cùng lớn để bộc lộ được tình cảm mãnh liệt với đất nước, khích lệ lòng yêu nước của đồng bào, dân tộc.
- Đoạn mở đầu là nỗi lòng người cha trong cảnh ngộ éo le, đau đớn
Giải thích:
Mở đầu đoạn trích là bức tranh thiên nhiên ảm đạm ở “ải Bắc”, “trời Nam”, qua đó gợi ra cảnh chia li đầy đau xót. Tiếp đó là hình ảnh người cha “hạt máu nóng”, “chút thân tàn”, “tầm tã châu rơi”, cho thấy nỗi đau của một người đang phải xa con trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng. Từ nỗi đau riêng, lời thơ mở rộng thành nỗi đau chung trước cảnh “quân Minh” xâm lăng, “khói lửa bừng bừng”, “xương rừng máu sông”. Đồng thời, niềm tự hào về “giống Hồng Lạc” và truyền thống anh hùng của dân tộc đã làm nổi bật tình yêu nước và khát vọng cứu nước của tác giả.
Mở rộng
Nội dung là hiện thực cuộc sống được miêu tả, phản ánh trong văn bản từ cách nhìn nhận, suy nghĩ và lựa chọn của tác giả. Bao gồm các yếu tố như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo…
Đọc đoạn trích, em thấy tâm trạng người cha đầy buồn bã, đau xót và lo lắng. Những hình ảnh như “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tàn lần bước dặm khơi” cho thấy tình yêu nước nồng nàn, nhưng đồng thời là nỗi bất lực trước cảnh đất nước lâm nguy. Giọt nước mắt “tầm tã châu rơi” của người cha thể hiện sự xót thương cho con, cho chính bản thân và cho vận mệnh dân tộc. Lời khuyên con trở về lo việc nước vừa là sự nhắn nhủ, vừa là trăng trối thiêng liêng, chứa chan tình thương và lòng trách nhiệm với non sông. Qua đó, đoạn trích gợi lên hình ảnh người cha vừa yêu con, vừa đau đáu nỗi lo cho vận mệnh đất nước, khiến người đọc xúc động sâu sắc.
Giải thích:
“Hạt máu nóng” có thể hiểu là hình ảnh gợi dòng máu, nhiệt huyết và tình yêu tha thiết dành cho non sông; còn “chút thân tàn” cho thấy thân phận người cha đang ở trong hoàn cảnh đau khổ, yếu thế và bất lực. Hình ảnh “tầm tã châu rơi” trực tiếp diễn tả nước mắt của người cha khi phải chia xa con, đồng thời là nước mắt trước cảnh nước mất, nhà tan. Dù đau đớn đến tột cùng, người cha vẫn khuyên con trở về để lo việc nước. Điều đó cho thấy tình yêu nước đã vượt lên trên nỗi đau cá nhân.
Mở rộng
- Tình cảm, cảm xúc trong thơ là những rung động nội tâm, những cảm nhận của nhà thơ về cuộc sống. Tình cảm, cảm xúc trong thơ đánh thức những rung động tinh tế trong trái tim người đọc.
- Những cảm xúc này có thể là: Niềm vui, hạnh phúc; nỗi buồn, đau khổ; nỗi nhớ, hoài niệm; tình yêu (đôi lứa, gia đình, quê hương);...
- Những cảm xúc này không chỉ được thể hiện trực tiếp qua các từ ngữ miêu tả mà còn được biểu đạt gián tiếp thông qua hình ảnh, ẩn dụ, so sánh, và nhịp điệu của bài thơ.
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Ân dưỡng dục suốt đời ghi tạc
Nghĩa sinh thành nguyện khắc trong tâm
Nắng mưa cha mẹ dãi dầm
Nuôi con khôn lớn âm thầm chở che
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngó trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Danh sách bình luận