Đọc hiểu Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ (Chế Lan Viên) | Luyện đề đọc hiểu Văn 91. Chim ri mách lúa vàng chín rộ Tu hú kêu vải đỏ trùm cây Tháng năm mười chín rồi đây Ngày sinh nhật Bác nắng đầy tiếng chim... Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi: BỮA CƠM THƯỜNG Ở TRONG BẢN NHỎ Chế Lan Viên 1. Chim ri mách lúa vàng chín rộ Tu hú kêu vải đỏ trùm cây Tháng năm mười chín rồi đây Ngày sinh nhật Bác nắng đầy tiếng chim...
5. Quê em nhỏ bốn bên khe suối Người vắng qua, chim tới chim lui Khi vui ngắm núi làm vui Khi buồn nhặt trái sim rơi đỡ buồn
10. Trái mơ non quả tròn quả méo Đời em như cỏ héo tứ mùa Con vua thì họ làm vua Mình con nhà khó làm mưa ngoài ngàn(1)
15. Từ có Bác cuộc đời chợt sáng Bát cơm no tháng tám ngày ba Cơm thơm ăn với cá kho Công đức Bác Hồ, bản nhớ nghìn năm Lớp bình dân(2) cuối thôn em học Người thêm khôn, đất mọc thêm hoa Chim khôn chim múa chim ca
20. Bản em có Bác như nhà có trăng Muối lên rừng tay bưng tay đặt Bộ đội Bác lên rừng công tác, em thương Khi xưa lên núi không đường Giờ anh lên núi bản mường đợi anh
25. Ra vườn xanh hái nhành vải đỏ Xuống ruộng vàng gặt bó lúa hương Ngày vui nấu bữa cơm thường Thế(3) anh cán bộ lên mường giúp dân. (Chế Lan Viên, Thơ và đời, NXB Văn học, 2012) Chú thích: (*) Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989), quê ở Quảng Trị. (1) Ngàn: cánh rừng già. (2) Lớp bình dân: các lớp học xóa nạn mù chữ cho nhân dân (sau Cách mạng tháng Tám 1945). (3) Thết: Mời ăn uống thịnh soạn để tỏ lòng quý trọng: làm cơm thết khách.
Câu 1
Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Phương pháp giải
Quan sát số tiếng trong từng dòng thơ và cách gieo vần. Nếu các khổ thơ có hai câu bảy tiếng nối tiếp một cặp lục bát thì đó là thể thơ song thất lục bát. Lời giải chi tiết
Thể thơ: song thất lục bát. Giải thích: Đoạn thơ có sự kết hợp các câu 7 tiếng với cặp lục bát (6–8) → đúng đặc trưng thể thơ song thất lục bát. Mở rộng
- Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm cặp song thất (bảy tiếng) và cặp lục bát (sáu – tám tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài. - Gieo vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc). Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng). Tiếng cuối của dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (vần bằng). Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng) và cứ thế tiếp tục. - Ngắt nhịp: Hai dòng thất được ngắt nhịp lẻ, thường là 3/4; dòng lục và dòng bát ngắt nhịp linh hoạt hơn (dòng lục thường ngắt nhịp 2/2/2, dòng bát thường ngắt nhịp 2/2/2/2). - Thanh điệu: Về thanh điệu, thanh bằng (B) - trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định Link tham khảo: Thể thơ Song thất lục bát
Câu 2
Từ khi có Bác Hồ cuộc đời nhân vật “em” và bản mường đã thay đổi như thế nào? Qua bài thơ, em có nhận xét gì về tình cảm của nhân dân dành cho Bác Hồ và các anh chiến sĩ bộ đội? Xem lời giải
Câu 3
Ghi lại một cặp từ trái nghĩa có trong bài thơ. Xem lời giải
Câu 4
Phân tích hiệu quả biện pháp tu từ so sánh trong các dòng thơ sau: “Chim khôn chim múa chim ca Bản em có Bác như nhà có trăng” Xem lời giải
Câu 5
Người dân bản mường trong bài thơ vẫn luôn "nhớ nghìn năm" công đức Bác Hồ - người mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Là học sinh, em sẽ làm gì để bày tỏ tình cảm dành cho Người? Xem lời giải
|

Xem lời giải





Danh sách bình luận