Đọc hiểu Đi thi tự vịnh (Nguyễn Công Trứ) | Luyện đề đọc hiểu Văn 9

Đi không há lẽ trở về không? Cái nợ cầm thư phải trả xong. Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt Trót đem thân thế hẹn tang bồng(1)

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

Đi không há lẽ trở về không?

Cái nợ cầm thư phải trả xong.

Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt

Trót đem thân thế hẹn tang bồng(1)

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông

Trong cuộc trần ai ai dễ biết,

Rồi ra mới biết mặt anh hùng

(Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ)

Chú thích:

(1) Tang bồng hồ thỉ: tang - cây dâu; bồng - cỏ bồng; hồ - cây cung; thỉ - mũi tên. Theo Kinh Lễ, khi nhà vua sinh hoàng tử, quan coi việc lấy cung bằng cây dâu và 6 mũi tên bằng cỏ bồng, bắn ra bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc) rồi bắn lên trời một mũi, bắn xuống đất một mũi, ngụ ý: người con trai lớn lên có chí khí ở bốn phương, tung hoành ngang dọc trong trời đất.

Câu 1

Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đếm số câu, số tiếng trong mỗi câu và nhận diện đặc điểm niêm, luật, đối của bài thơ.

Lời giải chi tiết

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Giải thích:

Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng, có kết cấu đề - thực - luận - kết ⇒ đặc trưng của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2

Chỉ ra từ ngữ thể hiện không gian nghệ thuật trong văn bản.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, xác định những từ ngữ chỉ không gian.

Lời giải chi tiết

Các từ ngữ thể hiện không gian nghệ thuật là: "điền viên", "trong trời đất", "núi sông", "trần ai".

Giải thích:

Những từ ngữ này mở ra nhiều không gian khác nhau: không gian cuộc sống thanh nhàn ("điền viên"), không gian vũ trụ ("trời đất"), không gian đất nước ("núi sông") và cõi đời đầy thử thách ("trần ai").

Câu 3

Nêu hiệu quả của phép đối được sử dụng trong hai câu thơ:

“Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt

Trót đem thân thế hẹn tang bồng”

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định các vế đối, chỉ ra nội dung đối lập và phân tích tác dụng của phép đối đối với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm.

Lời giải chi tiết

Phép đối giữa "rắp mượn" - "trót đem", "điền viên" - "tang bồng", "vui tuế nguyệt" - "hẹn tang bồng" làm nổi bật sự đối lập giữa cuộc sống nhàn tản nơi thôn dã với lí tưởng lập công, giúp bài thơ có giọng điệu mạnh mẽ và khẳng định quyết tâm theo đuổi chí lớn của tác giả.

Giải thích:

Qua phép đối, Nguyễn Công Trứ cho thấy tuy từng muốn sống an nhàn nhưng cuối cùng vẫn lựa chọn dấn thân vì chí làm trai. Điều đó thể hiện khát vọng cống hiến và ý thức trách nhiệm đối với cuộc đời, đất nước.

Câu 4

Nhận xét quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ trong hai câu thơ.

"Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông".

Xem lời giải
Phương pháp giải

Phân tích ý nghĩa của hai câu thơ, từ đó rút ra quan niệm sống và chí làm trai của tác giả.

Lời giải chi tiết

Hai câu thơ thể hiện quan niệm: đã là con người sống trong trời đất thì phải có hoài bão, lập công, lập danh bằng những việc có ích cho đất nước và để lại dấu ấn với non sông.

Giải thích:

Cụm từ "có danh gì với núi sông" nhấn mạnh khát vọng cống hiến, lập nên sự nghiệp có ý nghĩa đối với dân tộc. Qua đó, Nguyễn Công Trứ thể hiện chí làm trai mạnh mẽ, sống có lí tưởng, có trách nhiệm và không chấp nhận một cuộc đời tầm thường.

Câu 5

Tư tưởng trên có gì mâu thuẫn với tư tưởng của Cao Bá Quát? Phải chăng không nên theo đuổi công danh, sự nghiệp. Cần tránh xa vòng danh lợi để rước họa vào thân?

“Xưa nay phường danh lợi

Tất cả trên đường đời

Đầu gió hơi men theo quán rượu

Người say vô số, tỉnh bao người.”

(Trích Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Cao Bá Quát)

Bàn luận về vấn đề này trong một đoạn văn ngắn khoảng 10 dòng.

Xem lời giải
Phương pháp giải

So sánh quan niệm của hai tác giả, giải thích nguyên nhân khác nhau và nêu quan điểm của bản thân về việc theo đuổi công danh, sự nghiệp.

Lời giải chi tiết

Gợi ý: Quan niệm của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát không hoàn toàn mâu thuẫn mà phản ánh hai góc nhìn khác nhau. Nguyễn Công Trứ đề cao chí làm trai, khẳng định con người cần sống có lí tưởng, lập công và cống hiến cho đất nước. Trong khi đó, Cao Bá Quát phê phán những kẻ chạy theo danh lợi mù quáng, đánh mất nhân cách và lí tưởng sống. Vì vậy, không thể cho rằng con người không nên theo đuổi công danh, sự nghiệp. Điều quan trọng là phải xây dựng sự nghiệp bằng năng lực, sự trung thực và khát vọng cống hiến chứ không bất chấp mọi giá để đạt danh lợi.

Giải thích:

Đoạn văn tập trung làm rõ yêu cầu của đề: chỉ ra sự khác nhau giữa hai quan niệm. Nguyễn Công Trứ hướng tới lập công, lập danh để cống hiến, còn Cao Bá Quát phê phán sự mê muội vì danh lợi. Hai tư tưởng đều gặp nhau ở mục đích hướng con người đến một lối sống có ích và giữ gìn phẩm giá.

Tham Gia Group Dành Cho Học Sinh Lớp 9 - Ôn Thi Vào Lớp 10

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close