Đọc hiểu Dạy trẻ lòng nhân ái ở trường quốc tế Global | Luyện đề đọc hiểu Văn 9
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
(1) “Lòng nhân ái không phải tự sinh ra con người đã có. Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu, là văn hóa của mỗi một con người. Lòng nhân ái có được là do sự góp công của mỗi gia đình và nhà trường tạo lập cho các em thông qua các hoạt động trải nghiệm rèn luyện, học tập, sẻ chia, “đau với nỗi đau của người khác” …
Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
(1) “Lòng nhân ái không phải tự sinh ra con người đã có. Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu, là văn hóa của mỗi một con người. Lòng nhân ái có được là do sự góp công của mỗi gia đình và nhà trường tạo lập cho các em thông qua các hoạt động trải nghiệm rèn luyện, học tập, sẻ chia, “đau với nỗi đau của người khác” …
(2) Lòng nhân ái rất cần trong đời sống, đó là nét văn hóa, là cốt cách của mỗi con người. Các hoạt động từ thiện đã và đang diễn ra tại Trường Quốc tế Global đã góp phần giúp các em học sinh xây dựng tính cộng đồng, tinh thần trách nhiệm, sẻ chia với mọi người và giúp người khi khó khăn hoạn nạn, phát triển toàn diện tri thức và đạo đức để trở thành những công dân ưu tú, có ích cho xã hội, gìn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam.”
(Trích Dạy trẻ lòng nhân ái ở trường quốc tế Global – theo Dân trí – ngày 14/2/2015)
Câu 1
Xác định thể loại và nêu luận đề của đoạn ngữ liệu.
Xem lời giải
Phương pháp giải
- Xác định kiểu văn bản dựa vào mục đích (bàn luận, nêu quan điểm).
- Tìm luận đề bằng cách xem văn bản đang bàn về vấn đề gì xuyên suốt.
Lời giải chi tiết
- Thể loại: Nghị luận.
- Luận đề: Bàn về lòng nhân ái của con người.
Giải thích:
Đoạn văn đưa ra quan điểm, lí lẽ về “lòng nhân ái” => thuộc kiểu văn bản nghị luận. Nội dung cả hai đoạn đều xoay quanh việc khẳng định vai trò, ý nghĩa của lòng nhân ái
Mở rộng
- Văn nghị luận là thể loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, tưởng tượng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các lập luận
- Mục đích của văn bản nghị luận là để thuyết phục người đọc, người nghe về ý kiến, quan điểm của người viết trước một vấn đề đời sống hoặc văn học.
- Nội dung chính của văn bản nghị luận là ý kiến, quan điểm mà người viết muốn thuyết phục người đọc.
- Mọi vấn đề của đời sống xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học,… đều có thể được nêu ra để bàn trong văn bản nghị luận.
- Trong văn bản nghị luận, phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Xác định một yếu tố Hán Việt và cho biết nghĩa của yếu tố Hán Việt trong câu in đậm.
Xem lời giải
Phương pháp giải
- Tìm từ Hán Việt trong câu (thường là từ ghép Hán Việt).
- Tách nghĩa từng yếu tố để giải thích.
Lời giải chi tiết
- Yếu tố Hán Việt: “nhân, ái,...”
- Ý nghĩa của yếu tố Hán Việt trên là: nhân nghĩa là người; ái nghĩa là yêu
Giải thích:
Từ “nhân ái”: “nhân” là người, “ái” là yêu => nghĩa là yêu thương con người
Mở rộng
- Trong tiếng Việt có một số lượng lớn các yếu tố Hán Việt có khả năng cấu tạo nên rất nhiều từ khác nhau.
- Các yếu tố cấu tạo từ Hán Việt thường không có khả năng dùng như một từ đơn để tạo câu như các yếu tố thuần Việt cùng nghĩa.
- Cách xác định nghĩa của những từ có yếu tố Hán Việt:
+ Khi gặp một từ có các yếu tố Hán Việt thông dụng, trước hết, có thể tách từ đó ra thành các yếu tố riêng biệt để xem xét.
+ Tiếp đó, tập hợp những từ đã biết có một trong các yếu tố của từ được tách ở trên và xếp chúng vào các nhóm khác nhau
+ Dựa vào nghĩa chung của một vài từ đã biết trong mỗi nhóm để suy ra nghĩa của từng yếu tố, từ đó, bước đầu xác định nghĩa của từ có yếu tố Hán Việt muốn tìm hiểu.
- Tìm các chi tiết cụ thể dùng để làm sáng tỏ luận điểm (hoạt động, dẫn chứng thực tế).
- Chọn 2 dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn.
Lời giải chi tiết
Bằng chứng trong đoạn ngữ liệu trên là:
- Sự góp công của mỗi gia đình và nhà trường tạo lập cho các em thông qua các hoạt động trải nghiệm rèn luyện, học tập, sẻ chia, “đau với nỗi đau của người khác”
- Các hoạt động từ thiện đã và đang diễn ra tại Trường Quốc tế Global
Giải thích:
Các chi tiết như “gia đình, nhà trường rèn luyện qua hoạt động…” và “hoạt động từ thiện ở Trường Global” là những minh chứng cụ thể. Chúng giúp làm rõ cách hình thành và biểu hiện của lòng nhân ái nên được coi là bằng chứng.
Mở rộng
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
- Xác định câu nêu ý chính trong đoạn (thường ở đầu đoạn).
- Khái quát lại thành một ý ngắn gọn.
Lời giải chi tiết
Luận điểm trong đoạn ngữ liệu trên là: Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu, là văn hóa của mỗi một con người: Lòng nhân ái là phẩm chất của con người
Giải thích:
Câu “Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu…” nêu trực tiếp ý chính. Vì vậy luận điểm là khẳng định lòng nhân ái là phẩm chất quan trọng của con người
Mở rộng
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
Từ vấn đề nghị luận được đặt ra, em rút ra bài học gì về lòng nhân ái? (Hãy viết đoạn văn trả lời từ 4 đến 6 dòng).
Xem lời giải
Phương pháp giải
- Từ vấn đề nghị luận => rút ra bài học nhận thức và hành động.
- Viết đoạn ngắn: nêu vai trò => biểu hiện => liên hệ bản thân.
Gợi ý:
- Lòng nhân ái rất cần trong đời sống, đó là nét văn hóa, là cốt cách của mỗi một con người
- Lòng nhân ái là cách con người trao cho nhau tình thương mà không cần sự đền đáp, trả ơn từ người mình đã giúp đỡ.
- Quan tâm đến những người xung quanh.
- Chia sẻ, cảm thông với những nỗi đau của người khác.
- Lòng nhân ái của con người trong thời chiến, thời bình
- Phê phán những kẻ chỉ biết có mình, ích kỉ, vì lợi ích của bản thân, không quan tâm đến người khác.
- Mỗi người phải rèn luyện cho mình đức tính tốt đó là: tinh thần yêu thương, san sẻ cho nhau trong cuộc sống; tự bản thân phải sống tốt và ngày càng hoàn thiện mình hơn.
Lời giải chi tiết
Lòng nhân ái là một phẩm chất vô cùng quan trọng của con người, góp phần tạo nên nét đẹp văn hoá và cốt cách mỗi cá nhân. Đó là sự yêu thương, quan tâm, sẵn sàng chia sẻ với những người xung quanh, đặc biệt là những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Trong cuộc sống, lòng nhân ái được thể hiện qua những hành động cụ thể như giúp đỡ người khác, tham gia các hoạt động thiện nguyện, biết “đau với nỗi đau của người khác”. Tuy nhiên, vẫn còn những người sống ích kỉ, thờ ơ, cần bị phê phán. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện lòng nhân ái, sống yêu thương để góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Giải thích:
Văn bản nhấn mạnh lòng nhân ái được hình thành qua rèn luyện và rất cần trong cuộc sống (“nét văn hoá”, “cốt cách”).
Mở rộng
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG
[…] Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoạn, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Trong thái độ tích cực với bản thân chúng ta cần phải có ước mơ. Lỗ Tấn từng nói: “Ước mơ không phải là cái gì sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có. Ước mơ giống như con đường chưa có, nhưng con người phải khai phá và vượt qua".
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Mấu chốt của thành đạt là ở đâu? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Việc tử tế không phải là những gì to tát, phi thường mà đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị như câu chuyện được lan truyền trên mạng xã hội của cậu bé Đạt “thông cống” khi trời mưa, câu chuyện của nữ sinh nhặt được của rơi trả người đánh mất, cụ bà 80 tuổi với kinh nghiệm 20 năm vá đường không công, sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi…
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Tôi luôn ngưỡng mộ những học sinh không chỉ học xuất sắc mà còn dành được nhiều thời gian tham gia vào các hoạt động ngoại khóa. Họ thường nắm giữ những vị trí quan trọng ở các câu lạc bộ trong trường và ngoài xã hội.
Danh sách bình luận