Đọc hiểu Lá đỏ (Nguyễn Đình Thi) - Luyện đề đọc hiểu Văn 9
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Quảng cáo
Câu hỏi
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
LÁ ĐỎ
Nguyễn Đình Thi
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường
Như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa
Chào em em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn...
1974
(Nguyễn Đình Thi toàn tập, tập II, Nxb Văn học, 2009, tr.802)
Câu 1
Xác định thể thơ của văn bản
Xem lời giải
Phương pháp giải
Đếm số tiếng (chữ) trong từng dòng thơ.
Đa số các dòng thơ có 6 hoặc 7 tiếng, cấu trúc linh hoạt, không gò bó theo niêm luật cố định.
Lời giải chi tiết
Thể thơ của văn bản là: Thể thơ tự do
Giải thích:
Văn bản có các dòng thơ dài ngắn khác nhau (dòng 5 tiếng: “Em đứng bên đường”, dòng 6 tiếng: “Rừng lạ ào ào lá đỏ”, dòng 7 tiếng: “Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa”). Thể thơ tự do giúp tác giả ghi lại một cách nhanh chóng, sống động khoảnh khắc gặp gỡ bất ngờ giữa rừng Trường Sơn, phản ánh được nhịp sống khẩn trương, dồn dập của những ngày cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Câu 2
Chỉ ra cách kiến tạo nhạc tính trong văn bản.
Xem lời giải
Phương pháp giải
Khảo sát các yếu tố hình thức văn bản thơ tạo nên nhạc điệu: cách ngắt nhịp (nhịp điệu dồn dập, khẩn trương), cách gieo vần (vần chân, vần cách, phối hợp thanh điệu), và sử dụng từ láy, từ mô phỏng âm thanh.
Lời giải chi tiết
- Nhịp điệu thơ: Bài thơ có cấu trúc nhịp điệu nhanh, dồn dập, gãy gọn (chủ yếu là nhịp 2/3 hoặc 3/4 như: Gặp em / trên cao lộng gió, Rừng lạ / ào ào lá đỏ, Đoàn quân / vẫn đi vội vã). Nhịp điệu này mô phỏng bước chân thần tốc, khẩn trương của đoàn quân ra trận.
- Cách gieo vần và phối thanh: Bài thơ sử dụng vần cách, vần chân linh hoạt (gió - đỏ, đường - hương - trường - phương). Đặc biệt, sự đan xen giữa các thanh bằng (trắc) tạo nên sự trầm bổng, ngân vang: dòng thơ kết thúc bằng thanh trắc đầy tráng chí (gió, đỏ, vội vã, lửa) đan xen với những dòng kết thúc bằng thanh bằng mang âm hưởng ngân xa, tha thiết (đường, hương, trường, phương, Sài Gòn).
- Sử dụng từ mô phỏng âm thanh (từ láy): Từ láy “ào ào” không chỉ đặc tả sức gió, màu lá đỏ chuyển mình mà còn tạo ra thanh âm cộng hưởng, vang vọng như khúc nhạc trầm hùng của núi rừng Trường Sơn.
Giải thích:
Nhạc tính trong “Lá đỏ” không êm ả, phẳng lặng mà mang nhạc điệu của thời đại - nhạc điệu của những đoàn quân xung trận. Sự luân phiên thanh điệu và sự dồn dập của nhịp thơ tạo nên một cấu trúc nội nhạc mạnh mẽ, thúc giục tâm thế người đọc.
Câu 3
Nêu hiểu biết của anh/chị về nhân vật trữ tình “em gái tiền phương”.
Xem lời giải
Phương pháp giải
Phân tích các chi tiết miêu tả ngoại hình, không gian xuất hiện và công việc của “em gái tiền phương” để khái quát lên vẻ đẹp hình tượng mang tính đại diện cho cả một thế hệ.
Lời giải chi tiết
- Hoàn cảnh sống và chiến đấu: Xuất hiện ở một không gian ngã ba đường, trên đỉnh đèo” cao lộng gió” của tuyến đường Trường Sơn khốc liệt, thực hiện nhiệm vụ điều tiết giao thông, dẫn đường hoặc cứu thương.
- Vẻ đẹp:
+ Mang vẻ đẹp bình dị, thân thuộc, gợi nhắc đến bóng hình quê hương đất nước
+ Mang tinh thần dũng cảm, kiên cường, tư thế đứng hiên ngang giữa mưa bom bão đạn để bảo vệ mạch máu giao thông cho đoàn quân tiến vào Nam.
Giải thích:
Sự xuất hiện của cô gái giữa khung cảnh “ào ào lá đỏ” và “bụi Trường Sơn nhòa trời lửa” tạo nên một điểm sáng thẩm mỹ tuyệt đẹp. Tác giả không miêu tả chi tiết khuôn mặt mà cảm nhận cô gái qua cái thần thái che chở, ấm áp của hai tiếng "quê hương", biến một con người cụ thể thành biểu tượng cho hậu phương lớn đang đồng hành cùng tiền tuyến.
Câu 4
Nêu nhận xét về sự kết hợp giọng tự sự, trữ tình và kịch trong văn bản.
Xem lời giải
Phương pháp giải
- Chỉ ra biểu hiện của chất tự sự (kể lại một cuộc gặp gỡ, không gian, thời gian).
- Chỉ ra biểu hiện của chất trữ tình (cảm xúc xao xuyến, tình yêu quê hương, niềm lạc quan).
- Chỉ ra biểu hiện của chất kịch (xung đột giữa sự khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp con người; lời thoại, lời chào hẹn gặp đầy kịch tính ở cuối bài)
Lời giải chi tiết
- Chất tự sự (Yếu tố kể): Bài thơ có cốt truyện nhỏ, kể về một cuộc gặp gỡ bất ngờ nhưng đáng nhớ trên đỉnh Trường Sơn giữa người chiến sĩ (nhà thơ) và cô gái tiền phương. Bản văn cung cấp đầy đủ bối cảnh không gian (cao lộng gió, rừng lạ), thời gian (1974), sự kiện (đoàn quân đi vội vã, bụi nhòa trời lửa).
- Chất trữ tình (Yếu tố cảm xúc): Đó là dòng cảm xúc lay động, xao xuyến của nhà thơ trước vẻ đẹp dịu dàng, kiên cường của cô gái. Tình cảm cá nhân hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước sâu nặng và niềm tin tưởng, lạc quan tất thắng vào ngày mai.
- Chất kịch (Yếu tố xung đột): Được thể hiện qua sự tương phản gay gắt giữa một bên là bối cảnh chiến tranh khốc liệt, khẩn trương (ào ào lá đỏ, bụi nhòa trời lửa, đi vội vã) với một bên là tư thế đứng bình thản, nhẹ nhàng của cô gái (như quê hương).
=> Nhận xét: Sự kết hợp này giúp bài thơ vừa có độ chân thực của một bức ký sự chiến trường, vừa có độ bay bổng của tâm hồn trữ tình, lại vừa mang không khí sử thi hoành tráng, hào hùng của thời đại.
Giải thích:
Nếu thiếu tự sự, bài thơ sẽ mơ hồ không rõ hoàn cảnh; nếu thiếu trữ tình, bài thơ sẽ khô khan như một bài báo cáo; nếu thiếu chất kịch, bài thơ sẽ mất đi cái thần thái khẩn trương, thần tốc của chiến dịch giải phóng. Ba yếu tố này thâm nhập vào nhau, nâng đỡ nhau để tạo nên một kiệt tác thơ kháng chiến.
Mẹ cõng con đi hết một kiếp người
Bằng đôi cánh thiên thần của lòng bao dung
Và đôi vai gầy nhọc nhằn năm tháng
Chắp cánh bay cao những ước mơ ngày mai tươi sáng
Danh sách bình luận