Đọc hiểu Những nỗi lòng tê tái (Nguyễn Du) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12

Lầu xanh mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

NHỮNG NỖI LÒNG TÊ TÁI

(Trích Truyện Kiều)

Lầu xanh mới rủ trướng đào,

Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.

Biết bao bướm lả ong lơi,

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.

Dập dìu lá gió cành chim,

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. (1)

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?

Mặc người mưa Sở, mây Tần, (2)

Riêng mình nào biết có xuân là gì?

Đòi phen gió tựa hoa kề,

Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

Đòi phen nét vẽ câu thơ,

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.

 

Ôm lòng đòi đoạn xa gần,

Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!

Dặm nghìn nước thẳm non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Mối tình đòi đoạn vò tơ,

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.

Song sa vò võ phương trời,

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.

Đã cho lấy chữ hồng nhan,

Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.

Đã đày vào kiếp phong trần,

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!

Song sa vò võ phương trời,

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng

Chú thích:

- Tên đoạn trích: Do GS.TS Trần Đình Sử đặt

- Đoạn trích: Đây là đoạn thơ miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải tiếp khách ở lầu xanh. Khi biết rơi vào lầu xanh, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị lừa, bị đánh đập tàn nhẫn, cuối cùng phải tiếp khách.

(1) Tống Ngọc, Trường Khanh: Tống Ngọc, người nước Sở đời Xuân Thu; Tràng Khanh tức Tư Mã Tương Như, người đời nhà Hán. Tống Ngọc và Trường Khanh, cả hai đều có tài văn học và cũng đều đẹp trai, lãng mạn, đa tình. Tác giả mượn hai nhân vật này, chủ yếu nói lên sự tiếp khách của Kiều đối với đối tượng nào. Vì sớm tối, Kiều phải tiếp khách nhưng toàn là khách phong lưu tài tử (như Tống Ngọc, Tràng Khanh), chớ không phải khách tầm thường. Và cũng do đó, nhờ Kiều mà thanh lâu của mụ Tú Bà càng nổi tiếng, càng đắt khách

(2) Mây Sở mưa Tần: tác giả Truyện Kiều mượn cái tính chất của bọn đầu cơ chính trị để nói đến cái tính chất của khách làng chơi từ xa đâu đâu đến, ý nói về khách làng chơi ở khắp nơi đến để thỏa mãn thú vui và thanh toán sòng phẳng cho Tú Bà.

Câu 1

Đoạn trích miêu tả tâm trạng của nhân vật nào? Trong hoàn cảnh nào?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ phần chú thích và toàn bộ bài thơ để xác định nhân vật và hoàn cảnh của nhân vật

Lời giải chi tiết

- Không gian được miêu tả:

"Biết bao bướm lả ong lơi,

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.

Dập dìu lá gió cành chim,

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh."

Một không khí thật là náo nhiệt, ồn ào, bận rộn, đúng như một cảnh làm ăn rất thịnh vượng nơi thị thành.

- Tâm trạng của Kiều: Tâm trạng triền miên trong chuỗi ngày tiếp khách. Ngày tháng chỉ là một sự chồng chất và kéo dài. Nỗi lòng Kiều hiện lên những lúc vắng vẻ, khi xong việc tự đối diện với chính mình. Đó là nỗi đau thầm kín đằng sau các hoạt động tiếp khách.

Giải thích:

Tâm trạng của Kiều không được bày tỏ trực tiếp qua các từ ngữ biểu cảm mà được thể hiện thông qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (lấy các sự vật thiên nhiên để lột tả cảm xúc nhân vật)

Mở rộng

- Từ ngữ thơ: Từ ngữ trong thơ có tính gợi hình, gợi cảm, đa nghĩa. Từ ngữ trong thơ thiên về khơi gợi, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng để hiểu hết sự phong phú của ý thơ.

- Hình ảnh thơ: là các sự vật, hiện tượng, trạng thái đời sống được tái tạo một cách cụ thể, sống động bằng ngôn từ, khơi dậy cảm giác (đặc biệt là những ấn tượng thị giác) cũng như gợi ra những ý nghĩa tinh thần nhất định với người đọc.

Link tham khảo: Yếu tố trong thơ

Câu 2

Trong đoạn thơ sau tác giả miêu tả Thúy Kiều cố khuây khỏa nỗi buồn bằng những thú vui nào?

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!

Đòi phen nét vẽ câu thơ,

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân."

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ đoạn thơ được cung cấp

- Liệt kê ra các hoạt động cụ thể được nhắc đến.

Lời giải chi tiết

- Kiều đã cố gắng tìm đến những thú vui thanh cao vốn là sở trường của nàng để quên đi thực tại ê chề:

+ Vẽ tranh (nét vẽ).

+ Làm thơ (câu thơ).

+ Chơi đàn (cung cầm).

+ Đánh cờ (nước cờ).

Giải thích:

2 câu thơ cho thấy những tài nghệ của Thúy Kiều và cô lấy chúng giải sầu và quên đi thực tại khổ đau:

"Đòi phen nét vẽ câu thơ,

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa."

Câu 3

Em hiểu thế nào về câu thơ:

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!"

Câu thơ này đã thể hiện rõ một bút pháp miêu tả tâm lí đặc sắc của Nguyễn Du, đó là bút pháp nào? Hãy trình bày cách hiểu của em về bút pháp nghệ thuật đó.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ cặp câu thơ

- Vận dụng kiến thức về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và phong cách thơ Nguyễn Du

Lời giải chi tiết

- Bút pháp nghệ thuật được dùng để miêu tả tâm lí nhân vật: Bút pháp Tả cảnh ngụ tình.

- Đây là cách dùng cảnh vật để bộc lộ tâm trạng. Cảnh không hiện ra khách quan mà hiện ra qua cảm xúc chủ quan. Nguyễn Du đã nâng bút pháp này lên tầm triết lý: nội tâm và ngoại cảnh luôn đồng điệu, hòa quyện.

Giải thích:

Câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu” cho thấy nỗi buồn của Kiều như lan tỏa vào cảnh vật. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà trở thành sự phản chiếu của tâm trạng, vì thế “người buồn” thì “cảnh có vui đâu bao giờ”.

Mở rộng

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là nghệ thuật mà trong đó tác giả đã mượn khung cảnh để gửi gắm tâm trạng nhân vật. Cảnh không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng của con người. Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng mới chính là mục đích miêu tả. Trong văn học xưa, phương pháp này được sử dụng khá nhiều và quen thuộc. Với tài năng của mình, nhà thơ Nguyễn Du đã cho thấy mình là một trong những bậc thầy của việc sử dụng nghệ thuật này. Và chính ông cũng đã từng khẳng định “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Câu 4

Chỉ ra biện pháp đối trong đoạn thơ sau và phân tích tác dụng.

"Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?"

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ đoạn thơ được cung cấp

- Tìm các cặp đối xứng về từ loại, ý nghĩa, cấu trúc câu trong các cặp lục bát. Chú ý các cặp từ/cụm từ đặt song hành.

- Vận dụng kiến thức về cách phân tích tác dụng phép đối

Lời giải chi tiết

- Tiểu đối: "Khi tỉnh rượu đối với lúc tàn canh".

- Đối giữa các câu:

+ Khi sao phong gấm rủ là (Quá khứ êm đềm) >< Giờ sao tan tác như hoa giữa đường (Hiện tại vùi dập).

+ Mặt sao dày gió dạn sương >< Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân.

- Tác dụng:

+ Tạo nhịp điệu cân xứng, nhịp nhàng; tăng tính biểu cảm và khắc họa rõ nét tâm trạng nhân vật.

+ Nhấn mạnh nỗi đau, sự xót xa, chua chát của Thúy Kiều trước thân phận bẽ bàng.

+ Làm nổi bật sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa danh giá và tủi nhục.

Giải thích:

Các vế đối đặt cạnh nhau làm sự thay đổi của Kiều hiện lên rõ nét: từ “phong gấm” đến “tan tác”, từ một người con gái có phẩm giá đến người bị chà đạp nơi lầu xanh. Phép đối vì thế làm nỗi đau về thân phận càng trở nên thấm thía.

Mở rộng

- Đối: là biện pháp tu từ, theo đó người viết (người nói) xếp đặt những từ ngữ hoặc câu có đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp tương tự hoặc tương phản nhau ở những vị trí đối xứng trong câu hoặc trong văn bản để gợi ra một nội dung hoàn chỉnh, làm nổi bật một ý nghĩa nhất định

- Tác dụng: tạo nên vẻ đẹp cân xứng, hài hoà cho lời thơ, câu văn

Link tham khảo: Khái niệm biện pháp tu từ đối và tác dụng

Câu 5

Qua đoạn trích em cảm nhận được tâm trạng gì của nàng Kiều? Từ tâm trạng đó hãy trình bày cảm nghĩ của em về số phận của người phụ nữ sống dưới xã hội phong kiến? (trình bày khoảng 3-5 câu)

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Khái quát từ số phận Kiều để nêu suy nghĩ về thân phận chung.

- Liên hệ hiểu biết bản thân để bày tỏ suy nghĩ về vấn đề số phận phụ nữ trong xã hội phong kiến

Lời giải chi tiết

- Tâm trạng nàng Kiều: nỗi xót xa cho thân phận bị chà đạp và sự cô độc tuyệt đối giữa chốn lầu xanh

- Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: không có quyền tự quyết định đời mình, phải chịu đựng nhiều đau khổ và bất công.

Đoạn viết tham khảo:

Qua đoạn trích, em cảm nhận được tâm trạng đau đớn, tủi nhục, cô đơn và tuyệt vọng của Thúy Kiều khi bị rơi vào cảnh lầu xanh. Nàng ý thức sâu sắc về thân phận bị vùi dập, nhưng không thể thoát ra khỏi số phận nghiệt ngã. Từ tâm trạng đó, em thấy người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường bị chà đạp, trở thành nạn nhân của những bất công, không có quyền làm chủ cuộc đời mình. Số phận của họ phụ thuộc vào gia đình, xã hội và cả những định kiến khắt khe, khiến họ phải chịu nhiều đau khổ mà không thể tự giải thoát.

Giải thích:

Kiều có tài năng, phẩm giá và khát vọng sống nhưng vẫn bị đẩy vào cảnh “phong trần”, “sỉ nhục”. Qua số phận của nàng, Nguyễn Du cho thấy những bất công mà người phụ nữ phải chịu đựng trong xã hội phong kiến.

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close