Đọc hiểu Đời thừa (Nam Cao) | Luyện đề đọc hiểu Văn 12

Tóm tắt phần trước: Hộ vốn là một nhà văn nghèo, có hoài bão lớn, luôn mong sẽ viết được một tác phẩm làm lu mờ hết các tác

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

ĐỜI THỪA

Tóm tắt phần trước: Hộ vốn là một nhà văn nghèo, có hoài bão lớn, luôn mong sẽ viết được một tác phẩm làm lu mờ hết các tác phẩm cùng thời. Anh đã cứu vớt, cưu mang mẹ con Từ khi Từ bị tình phụ. Nhưng từ khi ghép đời Từ vào cuộc đời của mình, Hộ có cả một gia đình phải chăm lo. Những gánh nặng cơm áo gạo tiền đã khiến Hộ phải điên người lên, phải viết vội vàng. Chính Hộ phải xấu hổ về những tác phẩm vô vị, nhạt nhẽo của mình. Cuộc sống ngày một khó khăn, Hộ đau khổ vì vỡ mộng, hoài bão tiêu tan. Anh tìm đến với bia rượu, mỗi lần say anh trở thành kẻ vũ phu, khi tỉnh rượu lại ân hận, thề thốt, hứa hẹn với Từ như một người chồng tốt...

Sáng hôm sau, hắn thức dậy trên cái giường nhà hắn. Hắn thấy mình mệt đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng, cổ thì ráo và rát cháy. Hắn đưa tay với ấm nước ở trên bàn để uống. Ấm nước đầy và nước hãy còn ấm. Đó là sự ý tứ của Từ. Hộ hiểu thế, và lòng buồn nao nao. Bởi hắn lờ mờ nhớ ra rằng: hình như đêm qua hắn say rượu, lại gây sự với Từ; hình như hắn lại đánh cả Từ, đuổi Từ đi, rồi mới đóng cửa lại và đi ngủ... Hắn đột nhiên hoảng sợ, nhảy dậy, mắt ngơ ngác tìm Từ. Nhưng không! Từ vẫn còn ở nhà... Chắc hắn trong lúc quá say, hắn gài cửa nhưng chưa gài được, thành thử khi thấy hắn ngủ mệt rồi, Từ lại bế con vào. Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Đầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trượt ra ngoài mép võng, xệ xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng: một đôi lúc, nếu nhìn kỹ thì Từ khổ mặt lắm. Đột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kỹ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao? Hắn rón rén, để chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lắm. Da mặt Từ xanh nhợt; môi nhợt nhạt; mi mắt hơi tím tím và chung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại. Hắn dịu dàng nắm lấy tay xệ xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra, làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc. Cái cẳng tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực... Một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật, cần được hắn vỗ về an ủi... Thế mà hắn đã làm gì để cho đời Từ đỡ khổ hơn? Hắn đã làm gì để cho Từ khỏi khổ? Nước mắt hắn bật ra như nước từ quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc... Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thế không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng dụi hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc:

- Anh... anh... chỉ là... một thằng... khốn nạn!...

- Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà anh khổ...

Từ bảo thế. Tay Từ níu mạnh hơn một chút. Ngực Từ thon thả. Từ chực ngả đầu sát vào vai Hộ. Nhưng đứa con, bị giằng, khóc thét lên. Từ vội buông chồng ra để dỗ con. Tiếng vẫn còn ướt lệ, Từ dỗ nó:

- A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình... Mợ thương...

Hộ đã tránh chỗ để Từ đưa võng... Từ vừa đưa vừa hát:

Ai làm cho khói lên trời,

Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly;

Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ,

Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân...

( Trích " Đời thừa"- Nam Cao truyện ngắn tuyển chọn, NXBVH, Hà Nội, 2004, tr 274, 275)

Câu 1

Xác định ngôi kể và nêu căn cứ xác định ngôi kể.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ nội dung văn bản.

- Vận dụng kiến thức đã học về các ngôi kể.

Lời giải chi tiết

- Ngôi kể thứ ba

- Căn cứ: người kể chuyện ẩn danh

Giải thích: Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.

Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Câu 2

Chỉ ra những hành động của nhân vật Hộ khi nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kỹ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Đọc kĩ đoạn trích.

- Tìm các chi tiết hình ảnh thể hiện.

Lời giải chi tiết

“Hắn rón rén, để chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lắm".

Giải thích: Những hành động rón rén, khẽ khàng và đầy nâng niu ấy cho thấy sự ân hận tột cùng, lòng trắc ẩn sâu sắc cùng tình thương yêu chân thành mà Hộ dành cho vợ sau cơn say vô thức, đồng thời phơi bày một tâm hồn lương thiện, đau đáu trước nỗi thống khổ của người bạn đời.

Câu 3

Nêu tác dụng của ngôn ngữ thân mật trong lời thoại sau: “A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình... Mợ thương...”

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Chỉ ra ngôn ngữ thân mật.

- Nêu tác dụng nghệ thuật.

Lời giải chi tiết

- Ngôn ngữ thân mật xuất hiện trong lời nói của Từ với con

- Đặc điểm:

+ Từ địa phương: "Mợ”

+Tình thái từ: "A!" "Chào ôi!"

+Câu đơn giản, rút gọn: “Mợ thương..."

-Tác dụng:

+ Thể hiện sự gần gũi, chân thật, làm nổi bật tình yêu của người mẹ dành cho con.

+ Giúp khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc, giúp tính cách nhân vật trở nên chân thật hơn.

Giải thích:

- Ngôn ngữ thân mật là phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, tồn tại ở cả dạng viết và nói.

- Trong ngôn ngữ thân mật, chủ thể phát ngôn thường dùng những từ ngữ, câu thể hiện thái độ thân thiện, gần gũi với người tiếp nhận; ở một số trường hợp đặc biệt, có thể dùng tiếng lóng, biệt ngữ xã hội, từ ngữ địa phương... Câu trong ngôn ngữ thân mật thường ngắn và có thể rút gọn thành phần.

Link tham khảo: Ngôn ngữ thân mật.

Câu 4

Nhận xét của anh/ chị về nhân vật Hộ, nhân vật Từ qua các lời thoại: “Anh... anh... chỉ là... một thằng... khốn nạn!...” và “- Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà anh khổ...”

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Liên hệ nội dung văn bản.

- Nhận xét về nhân vật Hộ.

Lời giải chi tiết

- Lời của Hộ là một sự tự thú cay đắng, lời tự trách bản thân khi anh ý thức rõ tội lỗi của mình sau khi đã đánh đập vợ con – những người anh yêu thương và luôn muốn bảo vệ.

- Lời của Từ lại là tiếng nói của lòng vị tha, bao dung và sự thấu hiểu sâu sắc, khi chị không oán trách mà nhận phần khổ về mình, cho rằng chính sự xuất hiện của mình khiến Hộ phải khổ.

Giải thích:

- Lời tự nhận "khốn nạn" không chỉ là sự dằn vặt nhất thời mà còn bộc lộ nhân phẩm đáng quý của một trí thức nghèo luôn trọng danh dự và lương tâm. Dù bế tắc, cay đắng vì cơm áo gạo tiền, Hộ không ngụy biện cho lỗi lầm của mình mà dũng cảm đối diện, nhận hết trách nhiệm về phần mình vì đã trút giận lên những người thân yêu.

- Lời bênh vực chồng xuất phát từ một người phụ nữ giàu lòng hy sinh, thấu cảm và vị tha. Từ hiểu rõ gánh nặng tinh thần và vật chất mà Hộ đang oằn mình gánh chịu, từ đó chọn cách che chở, xoa dịu thay vì oán trách, tô đậm vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu, nghĩa tình và hết lòng vì chồng con.

Câu 5

Viết đoạn văn (khoảng 10- 15 dòng) phân tích ý nghĩa chi tiết “Ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” trong văn bản.

Xem lời giải
Phương pháp giải

- Liên hệ nội dung văn bản.

- Rút ra thông điệp ý nghĩa.

Lời giải chi tiết

- Chi tiết này xuất hiện vào buổi sáng hôm sau, khi Hộ tỉnh dậy sau một cơn say triền miên.

- Chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” là hình ảnh giàu tính biểu tượng, thể hiện:

+ Tình yêu thương, sự chu đáo ân cần và lòng vị tha của người vợ dành cho Hộ.

+ Giúp Hộ bừng tỉnh và nhận ra tình yêu, tấm lòng bao dung của vợ.

- Chi tiết này khắc sâu bi kịch của người tri thức nghèo trong xã hội cũ và tài năng của nhà văn.

Giải thích:

Đây là một chi tiết nghệ thuật nhỏ nhưng mang tính bước ngoặt, đánh dấu khoảnh khắc Hộ bắt đầu tỉnh ngộ sau một đêm say xỉn và hành hạ vợ con.

Đoạn văn tham khảo:

Trong đoạn trích Đời thừa của Nam Cao, chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” là một chi tiết nghệ thuật vô cùng tinh tế, mang giá trị biểu đạt sâu sắc về tình người và nghệ thuật miêu tả tâm lý. Buổi sáng thức dậy sau cơn say tơi tả, giữa cái mệt mỏi rã rời của thể xác, Hộ bắt gặp ấm nước vẫn còn ấm nóng mà Từ đã chuẩn bị sẵn từ trước. Chi tiết bình dị ấy không chỉ cho thấy sự chu đáo, ân cần đến nhói lòng của người vợ bất hạnh mà còn là hiện thân của tấm lòng vị tha, đức hy sinh cao cả mà Từ dành cho chồng dẫu vừa phải chịu đựng những trận đòn vô lý. Đặt trong mạch truyện, ấm nước ấm áp ấy chính là "gáo nước lạnh" làm Hộ bừng tỉnh khỏi cơn mê muội của bi kịch cơm áo gạo tiền, chạm sâu vào phần lương tri hướng thiện của một nhà văn nghèo trọng danh dự nhưng lầm đường lạc lối. Qua chi tiết nhỏ này, Nam Cao một lần nữa thể hiện tài năng bậc thầy trong việc khai thác những góc khuất tâm hồn nhân vật, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp nhẫn nhục, bao dung của người phụ nữ trong xã hội cũ.

 

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close