content-pc content-tablet content-mobile

Cảm nhận về bài thơ Làm ruộng (Nguyễn Khuyến)

I. Mở bài - Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến: Là nhà thơ lớn của dân tộc, nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nổi tiếng với thơ trào phúng và trữ tình đậm chất hiện thực.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến: Là nhà thơ lớn của dân tộc, nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nổi tiếng với thơ trào phúng và trữ tình đậm chất hiện thực.

- Giới thiệu bài thơ "Làm ruộng": Là một tác phẩm đặc sắc khắc họa chân thực, xót xa bức tranh đời sống cơ cực, bế tắc của người nông dân (và chính tâm sự u uất của tác giả) dưới ách thống trị thực dân nửa phong kiến.

- Nêu cảm nhận chung: Bài thơ là tiếng kêu cứu thiết tha, là nỗi niềm chua chát trước cảnh làm ăn thua lỗ, nghèo đói bủa vây.

II. Thân bài

1. Hai câu đầu: Thực trạng làm ruộng thua lỗ, bế tắc

- Câu 1: "Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua"

+ Từ ngữ: "Mấy năm" (chuỗi thời gian dài), "chân thua" (thua thiệt liên tiếp, hoàn toàn).

+ Ý nghĩa: Sự bất lực, cam chịu trước thực tế công sức bỏ ra không thu lại được gì.

- Câu 2: "Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa"

+ Biện pháp điệp từ, cấu trúc đối xứng.

+ Ý nghĩa: Nhấn mạnh sự thất bát toàn diện của cả hai vụ trong năm (chiêm và mùa), thiên tai và thời tiết khắc nghiệt tàn phá mọi hy vọng.

2. Hai câu thực: Gánh nặng nợ nần và chi phí sản xuất

- Các khoản chi chồng chất: "Phần thuế quan Tây, phần trả nợ / Nửa công đứa ở, nửa thuê bò"

+ Thuế quan Tây: Nỗi ám ảnh nặng nề của chế độ thực dân phong kiến đè nặng lên vai người lao động.

+ Trả nợ, công đứa ở, thuê bò: Chi phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt tối thiểu.

- Nghệ thuật: Phép liệt kê kết hợp với nhịp thơ dồn dập, các từ "phần", "nửa" chia nhỏ những thứ vốn đã ít ỏi thành vô nghĩa.

- Ý nghĩa: Làm ra bao nhiêu đều phải gánh trọn các khoản chi phí, cuối cùng người nông dân tay trắng hoàn tay trắng.

3. Hai câu luận: Cuộc sống kham khổ, tằn tiện đến cực điểm

- Ăn uống: "Sớm trưa dưa muối cho qua bữa" -> Món ăn đạm bạc, qua loa cốt để tồn tại sự sống.

- Sinh hoạt, nhu cầu thiết yếu: "Chợ búa trầu chè chẳng dám mua" -> Ngay cả những thứ bình dị nhất của đời sống nông thôn (trầu chè) cũng phải cắt giảm, nhịn thèm.

- Ý nghĩa: Lối sống "cần kiệm" tối đa nhưng vẫn không thể cứu vãn được tình thế, phơi bày sự khốn cùng của kiếp người.

4. Hai câu kết: Tiếng thở dài ngao ngán và nỗi băn khoăn thời đại

- Câu 7: "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ" -> Lời tự vấn mang giọng điệu chua chát, ngậm ngùi. Sự chăm chỉ, tằn tiện hóa ra lại là vô nghĩa trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

- Câu 8: "Bao giờ cho biết khỏi đường lo?"

+ Câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài.

+ Thể hiện sự bế tắc tột cùng, nỗi u hoài, trăn trở khôn nguôi về một lối thoát cho người nông dân (và cũng là nỗi niềm thương nước, thương đời của nhà thơ).

III. Kết bài

- Đánh giá chung về nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật uyển chuyển, ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất dân gian, giọng điệu tự sự pha chút trào phúng mà đượm buồn.

- Khẳng định giá trị nội dung: Bài thơ là bức tranh hiện thực sinh động về nông thôn Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đồng thời bộc lộ tình yêu thương sâu sắc, tấm lòng đồng cảm gắn bó của Nguyễn Khuyến với người lao động nghèo.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Nhà thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là bậc thầy của thơ ca trữ tình phong cảnh mà còn là cây bút hiện thực xuất sắc viết về người nông dân và làng cảnh Việt Nam. Bài thơ Làm ruộng là một bức tranh chân thực, đau xót đến nao lòng về nỗi thống khổ, bế tắc của người nông dân dưới ách áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thấm đượm tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ.

Ngay ở hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã phơi bày thực trạng làm ăn thua lỗ, bế tắc tột cùng của người nông dân:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Cụm từ "mấy năm" gợi khoảng thời gian dài đằng đẵng của sự đói nghèo, kết hợp với từ "chân thua" khẳng định sự thua thiệt toàn tập. Phép điệp cấu trúc và từ ngữ ở câu thứ hai như xoáy sâu vào nỗi đau: mất mùa liên tiếp từ vụ chiêm sang vụ mùa. Thiên tai, thời tiết khắc nghiệt cùng thực tại phũ phàng đã tước đoạt đi mọi thành quả lao động mồ hôi nước mắt của họ.

Không chỉ dừng lại ở sự thất bát, gánh nặng mưu sinh còn đè nặng lên vai người nông dân qua những khoản chi chồng chất:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Nhà thơ sử dụng phép liệt kê kết hợp các từ chỉ định lượng "phần", "nửa" để chia nhỏ những thứ vốn đã ít ỏi thành vô nghĩa. Làm ra bao nhiêu đều phải bù vào tiền thuế cho quan Tây, trả nợ nần chồng chất, trả công người ở và tiền thuê bò cày cấy. Cuối cùng, người nông dân hoàn toàn trắng tay, rơi vào vòng luẩn quẩn không lối thoát. Đời sống vật chất vì thế mà chìm trong sự kham khổ, tằn tiện đến cực điểm:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Bữa ăn chỉ có dưa muối qua ngày, những nhu cầu bình dị nhất của đời sống thôn quê như miếng trầu, chén chè cũng phải nhịn thèm, cắt giảm. Cần kiệm đến mức độ ấy nhưng cuộc sống vẫn hoàn nghèo khó, để rồi đọng lại ở hai câu kết là nỗi niềm u uất:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Lời tự vấn ngậm ngùi cùng câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài chính là tiếng thở dài ngao ngán cho một kiếp người.

 Bài thơ là khúc ca bi thương về người nông dân, qua đó bộc lộ nỗi niềm trăn trở khôn nguôi và tình cảm gắn bó thiết tha của Nguyễn Khuyến với những mảnh đời bất hạnh.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Viết về đề tài nông dân, Nguyễn Khuyến luôn dành trọn sự đồng cảm và thấu hiểu sâu sắc. Bài thơ Làm ruộng là một tác phẩm tiêu biểu như thế, khắc họa sinh động bức tranh sinh hoạt cơ cực, bế tắc của người lao động nghèo, đồng thời gửi gắm tiếng lòng chua xót trước hiện thực xã hội đương thời.

Bức tranh mở ra với tiếng thở dài bất lực trước công việc đồng áng nhọc nhằn nhưng hoàn toàn vô vọng:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Hai chữ "chân thua" kết hợp với điệp ngữ "mất" nhấn mạnh sự thất bát toàn diện. Suốt mấy năm trời dãi nắng dầm sương, người nông dân nhận lại chỉ là sự trắng tay. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên kết hợp với gánh nặng xã hội đã đẩy họ vào bước đường cùng. Điều đó được nhà thơ diễn tả cụ thể qua những khoản chi phí đè nặng lên đôi vai gầy guộc:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Bằng nghệ thuật liệt kê tài tình, Nguyễn Khuyến đã bóc trần bản chất bóc lột tàn nhang của thực dân phong kiến. Tiền thuế nặng nề của "quan Tây", những khoản nợ nần chồng chất, tiền thuê mướn nhân công và tư liệu sản xuất đã ngốn sạch mọi thành quả lao động. Người nông dân làm lụng vất vả quanh năm nhưng chẳng khác nào làm thuê cho chủ nợ và cường quyền.

Chính vì thế, cuộc sống hằng ngày của họ rơi vào cảnh túng quẫn, tằn tiện đến đáng thương:

Sớm trura dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Món ăn đạm bạc "dưa muối" chỉ cốt để duy trì sự sống qua ngày. Thậm chí, thói quen tao nhã chốn thôn quê như "trầu chè" cũng không dám nghĩ tới. Sự tằn tiện ấy tưởng chừng sẽ giúp đổi đời, nhưng hóa ra lại là ảo ảnh:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Câu hỏi tu từ ở cuối bài chứa đựng sự châm biếm đắng cay và nỗi u hoài khôn tả. 

Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó vẫn vang vọng mãi về một thời kỳ đen tối, nơi người nông dân bị bủa vây bởi đói nghèo, thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Bằng ngòi bút tài hoa, chữ tình đượm buồn và đậm chất hiện thực, Nguyễn Khuyến đã dựng lên bức tranh chân thực về nỗi khổ đau của người nông dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX qua bài thơ Làm ruộng. Tác phẩm không chỉ phản ánh quy luật bất công của xã hội cũ mà còn là tiếng kêu cứu đầy xót xa cho những phận người lầm than.

Ngay từ những câu thơ đầu, nhà thơ đã phác họa nên hiện thực phũ phàng của việc nhà nông:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Cụm từ "mấy năm" và "chân thua" cho thấy sự thất bại ê chề kéo dài. Mất vụ chiêm lại nối tiếp mất vụ mùa, người nông dân dường như bị đẩy vào thế chân tường trước sự khắc nghiệt của thời tiết và hoàn cảnh. Sự bế tắc ấy càng được nhân lên gấp bội khi đối mặt với các khoản chi phí chồng chất:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Nhà thơ sử dụng nhịp thơ dồn dập cùng các từ ngữ chỉ sự chia sẻ định lượng ("phần", "nửa") để làm nổi bật cảnh ngộ trớ trêu. Làm ra bao nhiêu đều phải trang trải cho thuế khóa nặng nề của thực dân, trả nợ và thuê mướn lao động. Người nông dân lao động vất vả nhưng chẳng giữ lại được gì cho bản thân, quanh năm quẩn quanh trong vòng vây nghèo đói. Đời sống sinh hoạt vì thế mà thu hẹp lại trong sự thiếu thốn, kham khổ tột cùng:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Ăn uống đạm bạc với dưa muối qua ngày, những nhu cầu tinh thần và vật chất tối thiểu cũng phải tự cắt giảm. Sự chăm chỉ, tằn tiện hóa ra lại trở nên vô nghĩa trước thực tại bất công:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết là lời tự thán mang âm điệu ngậm ngùi, chua chát. Câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài bộc lộ nỗi băn khoăn trăn trở về tương lai mịt mờ của người nông dân.

 Làm ruộng là một bài thơ xuất sắc, khẳng định tài năng của Nguyễn Khuyến trong việc phản ánh hiện thực đời sống và thể hiện tấm lòng gắn bó, yêu thương sâu nặng với người lao động nghèo.

Bài tham khảo Mẫu 1

Có những bài thơ bước vào lòng người bằng vẻ đẹp của trăng, của gió, của mùa thu; nhưng cũng có những bài thơ khiến ta lặng người trước tiếng thở dài của một kiếp người. “Làm ruộng” của Nguyễn Khuyến thuộc về kiểu thơ ấy. Không có những hình ảnh lộng lẫy, không có những lời than khóc bi thiết, bài thơ chỉ thủ thỉ kể về chuyện mùa màng, thuế nợ, dưa muối, trầu chè. Vậy mà phía sau những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại là cả một khoảng trời cơ cực của người nông dân xưa. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một cuộc sống nghèo khó mà còn nhận ra tấm lòng thương dân sâu sắc của một nhà thơ luôn nặng tình với quê hương.

Hai câu thơ đầu mở ra một nghịch cảnh đầy cay đắng:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Đất vốn là nơi người nông dân gửi gắm hy vọng. Họ gieo xuống đó hạt giống, gửi vào đó bao tháng ngày dầm mưa dãi nắng và chờ đợi một mùa thu hoạch. Thế nhưng ở đây, những gì nhận lại chỉ là “mất”. “Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa” – hai vế thơ song song như hai mùa đi qua mà không để lại niềm vui. Điệp từ “mất” khiến thất bại như kéo dài từ vụ này sang vụ khác, từ năm này sang năm khác. Cụm từ “vẫn chân thua” càng gợi một vòng đời quẩn quanh: làm mãi, khổ mãi, nhưng cái nghèo vẫn đứng nguyên ở đó.

Người nông dân không chỉ bị cái khắc nghiệt của thiên nhiên thử thách. Sau những cánh đồng mất mùa là những khoản thuế, những món nợ đang chờ:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Câu thơ giống như một phép cộng của những gánh nặng. Có bao nhiêu thu nhập thì gần như đã có bấy nhiêu khoản phải trả. “Phần thuế”, “phần nợ”, rồi “nửa công”, “nửa thuê bò” – mỗi chữ “phần”, mỗi chữ “nửa” đều như chia nhỏ thành quả lao động vốn đã ít ỏi. Người nông dân làm ruộng nhưng không thực sự làm chủ được thành quả của mình. Họ phải trả cho đủ thứ trước khi nghĩ đến chuyện lo cho bản thân và gia đình.

Cái tài của Nguyễn Khuyến là ông không cần những lời lên án trực tiếp. Chỉ bằng cách liệt kê những khoản chi tiêu, ông đã để hiện thực tự bộc lộ sự khắc nghiệt. Cái nghèo được tính bằng những con số vô hình; nhưng nỗi khổ lại hiện ra rất hữu hình.

Rồi từ cánh đồng trở về căn bếp nhỏ, bài thơ chạm đến một nỗi buồn rất đời:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

“Sớm trưa” gợi một ngày dài, còn “cho qua bữa” lại gợi một cuộc sống chỉ cố gắng tồn tại. Bữa ăn không phải để thưởng thức mà để vượt qua cái đói. “Dưa muối” là món ăn dân dã của người quê, nhưng trong bài thơ, nó mang thêm vị mặn của thiếu thốn. Đến cả “trầu chè” – những thức giao tiếp, những thú vui nhỏ bé của đời sống – cũng “chẳng dám mua”. Chỉ một chữ “dám” mà làm hiện lên cả một tâm thế nghèo khó: con người luôn phải cân nhắc, dè sẻn, tự kiềm chế trước từng nhu cầu nhỏ nhất.

Nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy Nguyễn Khuyến không hề nhìn người nông dân bằng ánh mắt thương hại. Ông nhìn họ bằng sự trân trọng. Bởi giữa nghèo khó, họ vẫn giữ được một nếp sống đáng quý:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần kiệm” là hai phẩm chất đẹp đẽ. Họ không lười biếng, không phung phí. Họ làm việc, tiết kiệm, sống chắt chiu. Vậy mà cuộc sống vẫn không thể khá lên. Câu hỏi “không khá nhỉ” nghe nhẹ nhàng nhưng lại chứa một nỗi chua xót rất sâu. Đó là sự ngạc nhiên của một người hiểu rằng nếu chỉ cần cù và tiết kiệm là đủ để có cuộc sống tốt đẹp, thì những con người này đáng lẽ đã phải thoát nghèo từ lâu.

Và rồi câu thơ cuối vang lên:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Không phải “bao giờ giàu”, không phải “bao giờ sung túc”, mà chỉ là “bao giờ” được “khỏi lo”. Ước mơ của người nông dân vì thế thật nhỏ bé. Họ chẳng cần cuộc sống xa hoa, chỉ mong một ngày không còn phải canh cánh chuyện cơm áo. Nhưng ngay cả một mong ước giản dị như thế cũng trở nên xa vời. Câu hỏi ấy vì vậy vừa là lời tự hỏi, vừa là tiếng thở dài, vừa là nỗi day dứt trước một thực tại chưa tìm thấy lối ra.

Về nghệ thuật, bài thơ hấp dẫn bởi chính vẻ tự nhiên, dân dã. Nguyễn Khuyến sử dụng những từ ngữ gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, kết hợp cách liệt kê và phép đối rất linh hoạt. Nhịp thơ khi kể lể, khi chùng xuống, phù hợp với dòng suy nghĩ của nhân vật trữ tình. Đặc biệt, câu hỏi ở cuối bài tạo nên một khoảng ngân dài, khiến bài thơ dừng lại mà nỗi lo thì chưa dừng.

“Làm ruộng” giống như một bức tranh quê được vẽ bằng những gam màu trầm. Trong bức tranh ấy không có ánh vàng của mùa gặt, không có niềm vui được mùa, mà chỉ có những cánh đồng thất bát, những khoản nợ, bữa dưa muối và một tiếng hỏi vọng vào tương lai. Nhưng chính trong bức tranh buồn ấy, vẻ đẹp của con người lại hiện lên rõ hơn: họ cần cù, tiết kiệm, chịu thương chịu khó và luôn cố gắng gìn giữ cuộc sống bằng đôi bàn tay của mình.

Có lẽ vì thế, đọc “Làm ruộng”, ta không chỉ thương một người làm ruộng mà còn thương cả một lớp người đã từng đi qua những tháng ngày cơ cực. Và ta càng hiểu hơn tấm lòng của Nguyễn Khuyến: yêu quê hương không chỉ là ngắm nhìn vẻ đẹp của mùa thu, của ao cá, của ngõ trúc, mà còn là biết cúi xuống trước những nhọc nhằn của con người trên chính mảnh đất quê mình.

Bài tham khảo Mẫu 2

Trong thơ ca Nguyễn Khuyến, làng quê hiện lên với nhiều dáng vẻ. Có một làng quê thanh bình trong sắc thu, có một làng quê mộc mạc với ao cá, ngõ trúc, có một làng quê gắn với những con người chân chất, nghĩa tình. Nhưng bên cạnh vẻ đẹp yên ả ấy còn có một làng quê của những phận người phải vật lộn từng ngày với cái nghèo. “Làm ruộng” là một tiếng nói chân thành về hiện thực ấy. Bằng giọng thơ tự nhiên, ngôn ngữ dân dã và cách diễn đạt tưởng nhẹ nhàng mà thấm thía, Nguyễn Khuyến đã khắc họa nỗi cơ cực của người nông dân, đồng thời bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước một cuộc sống mà sự cần cù vẫn chưa đủ để con người thoát khỏi “đường lo”.

Hai câu đề đã đặt nền móng cho toàn bộ cảm xúc của bài thơ:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

“Mấy năm” không phải một khoảng thời gian ngắn. Đó là những năm tháng người nông dân gắn đời mình với ruộng đất, miệt mài lao động và hy vọng vào mùa màng. Nhưng kết quả lại là “vẫn chân thua”. Từ “vẫn” có sức gợi đặc biệt: nó diễn tả sự kéo dài của tình trạng nghèo khó. Thời gian trôi đi nhưng hoàn cảnh không thay đổi. Con người vẫn ở đó, ruộng đồng vẫn ở đó, còn cái nghèo cũng vẫn bám riết không buông.

Nguyên nhân đầu tiên được chỉ ra là mùa màng:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Điệp từ “mất” xuất hiện liên tiếp tạo cảm giác thất bát triền miên. Hai vụ chiêm, mùa vốn là hai cơ hội để người nông dân có được nguồn sống, nhưng cả hai đều không đem lại kết quả. Câu thơ ngắn mà chứa cả một vòng luẩn quẩn của đời sống: gieo trồng – chờ đợi – thất vọng – lại tiếp tục gieo trồng. Người nông dân sống nhờ đất nhưng lại không thể hoàn toàn làm chủ số phận của mình bởi thiên nhiên luôn có thể lấy đi thành quả chỉ sau một mùa vụ.

Thế nhưng nếu chỉ có mất mùa thì vẫn chưa đủ để lý giải cái nghèo. Phía sau mùa màng thất bát còn là những gánh nặng kinh tế:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Câu thơ nổi bật bởi hàng loạt phép chia: “phần”, “phần”, “nửa”, “nửa”. Thành quả lao động của người nông dân dường như vừa thu được đã bị chia nhỏ cho vô số khoản phải trả. Thuế khóa là một gánh nặng; nợ nần là một gánh nặng; chi phí thuê nhân công, thuê sức kéo lại tiếp tục lấy đi một phần thu nhập. Cách liệt kê không cầu kỳ nhưng có sức tố cáo mạnh mẽ. Nhà thơ không trực tiếp dùng những lời gay gắt, song hiện thực tự nó đã lên tiếng.

Đặc biệt, hình ảnh “thuế quan Tây” còn khiến bài thơ mang dấu ấn của một thời đại. Đó là một xã hội mà người dân phải oằn mình dưới nhiều thứ nghĩa vụ. Người nông dân vốn đã phụ thuộc vào mùa màng lại càng khó có khả năng tích lũy. Vì thế, cái nghèo trong bài thơ không nên được hiểu đơn giản là nghèo do không biết làm ăn. Nguyễn Khuyến đã cho người đọc thấy một sự thật sâu xa hơn: trong một hoàn cảnh xã hội bất ổn và nhiều áp lực, ngay cả người chăm chỉ cũng có thể rơi vào cảnh túng thiếu.

Hai câu luận đưa hiện thực ấy từ cánh đồng vào gian bếp:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

“Sớm trưa” gợi một nhịp sống kéo dài từ sáng đến trưa, còn “cho qua bữa” là một cách nói đầy ám ảnh. Người nghèo không sống bằng những bữa ăn đủ đầy mà chỉ cố gắng “cho qua”. Đằng sau ba chữ ấy là biết bao thiếu thốn. “Dưa muối” vốn là thức ăn bình dị nhưng ở đây lại trở thành dấu hiệu của một đời sống chắt chiu. Còn “trầu chè” – những thứ rất nhỏ trong sinh hoạt – cũng trở thành một khoản xa xỉ đến mức “chẳng dám mua”.

Chữ “dám” đặc biệt đắt. Người nông dân không phải không thích, không phải không muốn, mà là không dám mua vì còn quá nhiều nỗi lo phía trước. Cái nghèo đã tác động không chỉ đến vật chất mà còn chi phối cả tâm lý con người. Họ luôn phải sống trong trạng thái dè dặt trước mọi nhu cầu của bản thân.

Nhưng điều đáng quý nhất ở hình tượng người nông dân là họ không hề buông xuôi:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần kiệm” là sự kết tinh của một lối sống. Họ làm việc chăm chỉ và biết tiết chế nhu cầu. Nhà thơ dường như đang đặt ra một câu hỏi có ý nghĩa xã hội: nếu con người đã “cần”, đã “kiệm”, đã sống hết sức chắt chiu mà vẫn không thể khá lên, vậy nguyên nhân thực sự nằm ở đâu? Câu hỏi ấy khiến tiếng thơ vượt khỏi phạm vi một lời than nghèo để trở thành sự suy ngẫm về thân phận người lao động.

Đỉnh điểm của cảm xúc nằm ở câu kết:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Đây là câu hỏi không có lời đáp. “Bao giờ” mở ra một tương lai mờ mịt; “khỏi đường lo” lại cho thấy điều người nông dân mong mỏi nhất không phải giàu sang mà chỉ là được sống một ngày bình yên, không phải lo nghĩ về miếng ăn, mùa màng, thuế nợ. Chính sự nhỏ bé của ước mơ lại làm nỗi đau trở nên lớn hơn. Khi một con người chỉ mong “khỏi lo” mà cũng chưa biết đến bao giờ, ta hiểu cuộc sống của họ đã bị cái nghèo bủa vây đến mức nào.

Không chỉ giàu giá trị hiện thực, “Làm ruộng” còn thấm đẫm giá trị nhân đạo. Nguyễn Khuyến đã nhìn người nông dân bằng sự đồng cảm chứ không phải bằng khoảng cách. Ông hiểu những nỗi nhọc nhằn của họ, trân trọng đức tính cần cù, tiết kiệm và cất tiếng nói thay cho những phận người ít có cơ hội được lên tiếng. Chính vì thế, bài thơ dù viết về nghèo đói vẫn không làm con người trở nên nhỏ bé. Ngược lại, giữa những thiếu thốn, vẻ đẹp của phẩm chất lao động càng trở nên đáng quý.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ đời thường, cách nói tự nhiên, giàu khẩu ngữ. Những từ như “chân thua”, “mất”, “cho qua bữa”, “chẳng dám mua”, “không khá nhỉ” khiến câu thơ gần với lời tâm sự của người dân quê. Thể thơ thất ngôn bát cú được vận dụng linh hoạt, không tạo cảm giác khuôn sáo mà như một lời kể chân tình. Đặc biệt, hệ thống từ ngữ chỉ sự phân chia và mất mát đã tạo nên một nhịp điệu nặng nề, phù hợp với cảm giác bế tắc của cuộc sống.

“Làm ruộng” vì thế là một bài thơ không ồn ào mà ám ảnh. Nguyễn Khuyến đã không dựng lên những bức tranh nghèo bằng những lời lẽ bi thương; ông chỉ đặt trước mắt người đọc vài mùa vụ thất bát, vài khoản thuế nợ, một bữa dưa muối và một câu hỏi không biết bao giờ mới có lời giải. Nhưng chính những điều giản dị ấy lại khiến người đọc nhận ra chiều sâu của hiện thực và sức nặng của tình thương. Khép lại bài thơ, tiếng hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” dường như vẫn còn vang đâu đó giữa đồng quê, nhắc ta nhớ rằng phía sau vẻ bình yên của làng quê xưa luôn có những con người đã phải dùng cả một đời cần mẫn để kiếm tìm một cuộc sống bình dị mà nhiều khi vẫn ngoài tầm với.

Bài tham khảo Mẫu 3

Trong ký ức của văn học dân tộc, làng quê Việt Nam thường hiện lên với những hình ảnh thật đỗi thân thương: con đường làng quanh co, hàng cau đứng lặng trong chiều, cánh đồng trải dài dưới màu trời, tiếng chim gọi mùa và những con người cần mẫn quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Nhưng đằng sau vẻ đẹp bình dị, yên ả ấy là một hiện thực không phải lúc nào cũng dịu dàng. Có những mùa lúa không đầy bồ, có những mái nhà quanh năm nghe tiếng thở dài vì nợ nần, có những con người làm lụng đến chai sần đôi tay mà vẫn chẳng thể bước qua ngưỡng cửa nghèo khó. Bài thơ “Làm ruộng” của Nguyễn Khuyến chính là một tiếng nói như thế. Không lên gân, không bi lụy, nhà thơ chỉ kể lại những gì diễn ra trong một đời làm ruộng bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên. Nhưng càng đọc, ta càng nghe rõ vị mặn của mồ hôi, vị đắng của cơm áo và một nỗi niềm thương dân lặng lẽ mà sâu xa.

Mở đầu bài thơ là một lời kể tưởng như bình thản nhưng lại chất chứa cả một quãng đời:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Hai chữ “mấy năm” mở ra chiều dài của thời gian. Đó không phải một mùa vụ thất bát nhất thời mà là một cuộc sống kéo dài trong sự thiếu thốn. Người nông dân đã gắn mình với ruộng đất suốt bao năm, nhưng kết quả nhận được vẫn là “chân thua”. Cách nói dân dã ấy gợi một tình cảnh làm mãi mà vẫn không đủ, thu nhập cứ hụt trước hụt sau, cuộc sống chẳng thể ngẩng lên. Đáng buồn hơn, cái nền tảng nuôi sống họ – mùa màng – cũng không chiều lòng người:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Điệp từ “mất” vang lên liên tiếp như một tiếng thở dài. Vụ chiêm mất, vụ mùa cũng mất; hy vọng vừa nhen lên đã bị dập tắt. Với người nông dân, ruộng đồng không chỉ là nơi lao động mà còn là nơi họ gửi gắm tất cả niềm tin vào tương lai. Vì thế, mỗi mùa mất mùa không đơn thuần là thiệt hại về vật chất mà còn là một lần hy vọng bị tổn thương. Nguyễn Khuyến chỉ dùng vài chữ ngắn gọn nhưng đã làm hiện lên cả vòng luẩn quẩn: gieo hạt, chờ đợi, thất vọng, rồi lại tiếp tục làm lụng.

Thế nhưng, cái nghèo ấy không chỉ đến từ sự khắc nghiệt của đất trời. Phía sau những vụ mùa thất bát còn là những gánh nặng đang chờ sẵn:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Cấu trúc câu thơ liên tiếp chia nhỏ mọi thứ: “phần”, “phần”, “nửa”, “nửa”. Thành quả lao động vốn đã ít ỏi lại bị chia ra cho thuế má, nợ nần, tiền công và tiền thuê bò. Chưa kịp vui vì có chút thu hoạch, người nông dân đã phải nghĩ đến những khoản phải trả. Đặc biệt, cụm từ “thuế quan Tây” khiến bức tranh nghèo khó mang thêm dấu ấn của một thời đại: người dân không chỉ chịu sự bấp bênh của thiên nhiên mà còn phải oằn mình dưới những gánh nặng kinh tế của xã hội cũ.

Cách Nguyễn Khuyến phản ánh hiện thực rất đáng chú ý. Ông không dùng những lời lẽ gay gắt để tố cáo. Nhà thơ chỉ liệt kê. Nhưng chính sự bình thản ấy lại khiến hiện thực trở nên sắc lạnh. Bởi khi một người đã làm lụng quanh năm mà thành quả cứ lần lượt bị lấy đi, bản thân những con số, những khoản chi đã đủ nói lên nỗi bất công.

Từ cánh đồng, bài thơ trở về căn bếp nghèo:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Có lẽ hiếm có hình ảnh nào giản dị hơn “dưa muối”, nhưng cũng hiếm có hình ảnh nào gợi cái nghèo thấm thía đến thế. Người nông dân không có những bữa ăn đủ đầy, họ chỉ “cho qua bữa”. Cụm từ ấy nghe nhẹ tênh mà phía sau là biết bao thiếu thốn. Ăn không còn là một niềm vui, mà chỉ là cách để tiếp tục tồn tại và ngày mai lại bước ra đồng.

“Trầu chè” cũng là những thứ rất nhỏ bé của đời sống. Nhưng đến những thứ nhỏ bé ấy, người nông dân cũng “chẳng dám mua”. Chữ “dám” khiến người đọc không khỏi chạnh lòng. Cái nghèo đã khiến con người phải dè sẻn ngay cả trước những nhu cầu bình thường nhất. Họ không thể cho phép mình một chút hưởng thụ bởi phía trước còn quá nhiều khoản phải lo.

Điều đáng quý là giữa bức tranh đầy thiếu thốn ấy, con người vẫn giữ được phẩm chất đẹp:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần kiệm” là hai chữ như một lời khẳng định. Người nông dân không lười nhác, không hoang phí. Họ đã làm việc và sống hết sức chắt chiu. Vậy mà cuộc sống vẫn không “khá”. Câu hỏi “không khá nhỉ” mang sắc thái nửa như tự hỏi, nửa như ngậm ngùi. Đằng sau nó là một nghịch lý đau xót: nếu chỉ cần chăm chỉ và tiết kiệm là có thể thoát nghèo, thì tại sao những con người ấy vẫn mãi quẩn quanh trong thiếu thốn?

Và rồi câu thơ cuối vang lên như một tiếng thở dài:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

“Bao giờ” là một từ chỉ thời gian nhưng ở đây lại mở ra một khoảng tương lai mịt mờ. Người nông dân không mơ giàu sang, không mong phú quý. Họ chỉ mong một ngày “khỏi lo”. Ước mơ ấy nhỏ bé đến nao lòng. Chính bởi nó quá đỗi bình thường mà việc chưa thể đạt được lại càng khiến hoàn cảnh trở nên xót xa.

Bằng thể thơ thất ngôn bát cú và ngôn ngữ đậm chất đời sống, Nguyễn Khuyến đã đưa hiện thực nông thôn bước vào thơ một cách tự nhiên. Những từ ngữ như “chân thua”, “mất mùa”, “trả nợ”, “dưa muối”, “cho qua bữa”, “chẳng dám mua” đều không cầu kỳ nhưng giàu sức gợi. Nhà thơ đã biến những chi tiết nhỏ bé thành những lát cắt chân thực về cuộc sống. Đặc biệt, giọng thơ không hoàn toàn bi thương mà pha chút hóm hỉnh, chua chát, khiến nỗi đau càng thấm sâu.

“Làm ruộng” vì vậy không chỉ kể về một cuộc sống nghèo. Bài thơ còn là lời bênh vực âm thầm dành cho những con người lao động cần cù. Nguyễn Khuyến nhìn thấy phẩm giá của họ trong chính những ngày tháng thiếu thốn: càng nghèo càng biết tiết kiệm, càng khổ càng cố gắng làm ăn. Qua đó, nhà thơ bộc lộ một tấm lòng nhân hậu, một sự gắn bó chân thành với người dân quê.

Khép lại bài thơ, câu hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” vẫn như còn vang giữa một chiều đồng vắng. Nó không chỉ là câu hỏi của người làm ruộng trong bài thơ mà còn là câu hỏi về thân phận của những con người từng sống trong một xã hội mà mồ hôi nhiều khi không đủ đổi lấy bình yên. Chính vì vậy, “Làm ruộng” tuy viết bằng những lời giản dị mà sức ám ảnh lại bền lâu. Đọc bài thơ, ta không chỉ nhìn thấy một bức tranh đời sống, mà còn nghe được tiếng lòng của Nguyễn Khuyến – một tấm lòng luôn hướng về quê hương, về nhân dân bằng sự thương yêu chân thành và sâu sắc.

Bài tham khảo Mẫu 4

Nếu những bài thơ thu của Nguyễn Khuyến giống như những bức tranh được phủ lên một lớp sương trong trẻo, nơi cảnh vật làng quê chìm trong sắc xanh của trời nước và sự tĩnh lặng của buổi chiều, thì “Làm ruộng” lại đưa ta bước vào một miền quê khác – miền quê phía sau những mùa gặt, phía sau sắc vàng của cánh đồng, nơi có những bàn tay chai sần và những nỗi lo không dễ gọi thành tên. Ở đó, người nông dân sống giữa đất đai nhưng chưa chắc đã được đất đai nuôi dưỡng; họ dành cả đời cho ruộng đồng nhưng vẫn phải chắt chiu từng bữa ăn, từng đồng tiền. Với một giọng thơ giản dị mà thấm đẫm suy tư, Nguyễn Khuyến đã ghi lại một lát cắt chân thực của đời sống nông thôn, để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của con người lao động và nỗi xót xa trước một cuộc đời nhiều nhọc nhằn.

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Hai câu thơ mở ra như một lời tự sự. Không có những tiếng kêu than dữ dội, chỉ có một giọng nói chậm rãi, tưởng như đang kể chuyện thường ngày. Nhưng càng lắng nghe, ta càng nhận ra phía sau lời kể ấy là cả một quãng đời mỏi mệt. “Mấy năm” – thời gian đã đủ dài để con người hy vọng rằng cuộc sống sẽ đổi khác. Thế nhưng chữ “vẫn” xuất hiện như níu giữ họ trong cùng một hoàn cảnh: vẫn nghèo, vẫn thiếu, vẫn “chân thua”.

Đất trời vốn là nơi người nông dân gửi vào đó giấc mơ về một mùa no ấm. Vậy mà:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Điệp từ “mất” tạo thành một nhịp rơi buồn bã. Mỗi lần “mất” là một lần công sức, hy vọng và thời gian bị cuốn đi. Cánh đồng không còn chỉ là màu xanh của lúa mà còn là màu xám của thất vọng. Đối với người sống nhờ nông nghiệp, một mùa mất mùa có thể kéo theo cả một năm thiếu thốn. Thế nên, chỉ hai câu thơ ngắn, Nguyễn Khuyến đã đặt người đọc trước một sự thật: người nông dân phải đối diện với quá nhiều điều không thể kiểm soát.

Nhưng nếu thiên nhiên là một thử thách thì xã hội lại đặt thêm lên vai họ những gánh nặng khác:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Những từ “phần”, “nửa” liên tiếp xuất hiện khiến câu thơ có cảm giác như một phép tính. Nhưng đó là một phép tính buồn. Càng tính càng thấy chẳng còn lại bao nhiêu. Một bên là thành quả ít ỏi; một bên là vô số khoản phải trả. Thuế, nợ, tiền công, tiền thuê bò… cứ lần lượt lấy đi những gì người nông dân vất vả làm ra. Thành quả của họ giống như một dòng nước nhỏ vừa chảy đến đã bị chia thành nhiều nhánh, cuối cùng chẳng đủ làm đầy chiếc chum cuộc sống.

Ở đây, Nguyễn Khuyến đã cho thấy một cái nhìn hiện thực rất tỉnh táo. Nhà thơ không đổ lỗi cho người nông dân. Trái lại, ông chỉ ra rằng họ đã làm tất cả những gì có thể. Họ lao động, họ tiết kiệm, nhưng vẫn bị đẩy vào cảnh nghèo. Đó là một nghịch lý mà càng nghĩ càng đau.

Nếu bốn câu đầu là bức tranh của cánh đồng và những khoản nợ, thì hai câu tiếp theo đưa người đọc về căn nhà nhỏ:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Có một cái gì đó rất mộc mạc trong “dưa muối”, nhưng cái mộc mạc ấy lại mang vị đắng của nghèo khó. “Sớm trưa” nối dài thời gian, còn “cho qua bữa” rút ngắn tất cả niềm vui của cuộc sống. Một bữa cơm đáng lẽ là nơi con người tìm thấy sự sum vầy, nhưng ở đây chỉ còn là một việc cần làm để tiếp tục ngày mai.

Đặc biệt, “trầu chè” vốn là những thứ rất gần với đời sống giao tiếp của người Việt xưa. Một miếng trầu, một chén trà vốn đâu phải cao sang. Vậy mà người trong bài thơ cũng “chẳng dám mua”. Câu thơ nghe nhẹ mà buồn. Cái nghèo không chỉ làm thiếu đi thức ăn ngon mà còn lấy đi cả những niềm vui nhỏ bé, bình thường nhất. Con người dần quen với việc từ chối chính mình.

Vậy mà họ vẫn không ngừng cố gắng:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

Hai chữ “cần kiệm” đặt giữa bài thơ như một điểm sáng. Nó cho thấy vẻ đẹp của người lao động. Họ cần cù trong công việc, tiết kiệm trong sinh hoạt. Họ không tiêu xài hoang phí, không chạy theo những thứ phù phiếm. Thế nhưng cuộc sống vẫn không khá lên. Chính sự đối lập giữa “cần kiệm” và “không khá” đã tạo nên chiều sâu cho bài thơ. Nguyễn Khuyến dường như không chỉ kể chuyện nghèo mà còn đặt ra một câu hỏi về công bằng xã hội: vì sao những con người sống bằng mồ hôi chân chính lại khó có được một cuộc sống đủ đầy?

Câu kết là nơi nỗi niềm ấy kết tinh:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Không phải “bao giờ giàu”, mà là “bao giờ” được “khỏi lo”. Một ước mơ quá đỗi giản dị. Họ chỉ mong một ngày không phải tính toán từng bữa ăn, không phải sợ mùa màng thất bát, không phải nghĩ về những món nợ chưa trả. Nhưng chính điều tưởng như bình thường ấy lại xa vời. Từ “bao giờ” khiến câu thơ mở ra một tương lai không xác định. Câu hỏi không có lời giải, vì thế âm vang của nó càng day dứt.

Thành công của “Làm ruộng” còn nằm ở nghệ thuật. Nguyễn Khuyến sử dụng ngôn ngữ đời thường, đưa lời ăn tiếng nói của người dân quê vào thơ mà không làm mất đi tính hàm súc. Cách liệt kê tự nhiên, những cặp từ đối xứng và câu hỏi tu từ cuối bài khiến cảm xúc phát triển từ hiện thực đến suy tư. Giọng thơ vừa có chút chua chát, vừa có sự thương cảm, đôi lúc tưởng như đùa mà thực ra là một tiếng cười buồn.

Qua “Làm ruộng”, Nguyễn Khuyến hiện lên không chỉ là nhà thơ của mùa thu mà còn là nhà thơ của đời sống. Ông nhìn thấy phía sau những cánh đồng xanh là mồ hôi của người nông dân; phía sau bữa cơm giản dị là những khoản nợ; phía sau sự cần kiệm là một nỗi lo chưa biết bao giờ dứt. Đó là một cái nhìn vừa hiện thực vừa nhân văn.

Và có lẽ, điều khiến bài thơ còn sức lay động đến hôm nay chính là sự chân thành. Nguyễn Khuyến không nói những điều quá lớn lao. Ông chỉ nói về ruộng, về mùa, về thuế, về nợ, về dưa muối và trầu chè. Nhưng từ những điều rất nhỏ ấy, nhà thơ đã chạm đến một vấn đề rất lớn: khát vọng được sống một cuộc đời bình yên của con người. Khép lại tám câu thơ, ta vẫn nghe câu hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” ngân lên trong khoảng lặng. Nó giống như một làn khói mỏng bay trên cánh đồng chiều – nhẹ thôi, nhưng cứ quẩn quanh mãi trong tâm trí người đọc.

Bài tham khảo Mẫu 5

Văn học chân chính không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của con người mà còn lưu giữ những nhọc nhằn mà con người từng đi qua. Nếu có những trang thơ khiến ta yêu hơn một miền đất bởi vẻ thanh bình của nó, thì cũng có những trang thơ khiến ta yêu quê hương bởi ta nhìn thấy trong đó những giọt mồ hôi, những bữa cơm đạm bạc và những phận người âm thầm chịu đựng. “Làm ruộng” của Nguyễn Khuyến là một bài thơ như vậy. Không dựng nên một bức tranh nông thôn bằng những gam màu tươi sáng, tác giả nhìn thẳng vào phía khuất của đời sống: mùa màng thất bát, thuế nợ chồng chất, chi phí sản xuất đè nặng và một cuộc sống phải chắt chiu từng bữa. Nhưng vượt lên trên tất cả là ánh nhìn nhân hậu của nhà thơ đối với người lao động – những con người “cần kiệm” mà vẫn chưa thể tìm được một ngày “khỏi đường lo”.

Ngay câu thơ đầu tiên, Nguyễn Khuyến đã đặt người đọc vào một thực tại không dễ dàng:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,”

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở “chân thua” mà còn ở chữ “vẫn”. Nếu “thua” gợi sự thất bại về kinh tế thì “vẫn” lại nhấn mạnh tính kéo dài, dai dẳng của nó. Đã “mấy năm” làm ruộng mà cuộc sống vẫn không tiến triển. Thời gian vốn thường đem đến hy vọng về một sự thay đổi, nhưng ở đây thời gian dường như đứng yên trước cái nghèo. Con người lao động không thiếu sự cố gắng, song thành quả vẫn không đủ để họ thoát khỏi tình trạng thiếu trước hụt sau.

Nguyên nhân của nghịch cảnh ấy được tiếp tục khắc họa:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Một câu thơ mà có đến hai lần chữ “mất”. Sự lặp lại ấy không đơn thuần tạo nhịp điệu mà còn gợi cảm giác thất bát nối tiếp thất bát. Với người nông dân, ruộng đất là kế sinh nhai; mất mùa đồng nghĩa với mất nguồn sống. Nếu một vụ thất bát còn có thể cố gắng vượt qua, thì “chiêm mất”, “mùa mất” liên tiếp lại biến khó khăn thành một vòng xoáy. Cái nghèo vì thế không còn là một biến cố mà trở thành một trạng thái thường trực.

Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến không dừng lại ở nguyên nhân thiên nhiên. Bốn câu thơ đầu cho thấy phía sau người nông dân còn có những gánh nặng xã hội:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Cách tổ chức câu thơ như một phép chia khiến người đọc hình dung rõ sự eo hẹp của đời sống. Thành quả thu được đã ít lại còn bị phân bổ vào quá nhiều khoản. “Thuế” và “nợ” là hai từ gợi sức ép kinh tế trực tiếp. Nhưng chưa dừng ở đó, để làm ra được mùa màng, người nông dân còn phải thuê người, thuê bò. Nghĩa là ngay cả quá trình tạo ra sản phẩm cũng cần đến những khoản chi phí mà người nông dân phải tự gánh chịu.

Hai chữ “nửa” lặp lại càng làm cái nghèo trở nên cụ thể. Dường như thành quả chưa kịp thuộc về người làm ruộng đã bị chia nhỏ. Cách diễn đạt ấy đồng thời tạo nên một nghịch lý: người trực tiếp lao động lại là người hưởng được ít nhất từ thành quả lao động.

Nguyễn Khuyến không cần phải cất lên một lời tố cáo lớn tiếng. Ông chỉ đặt trước mắt người đọc những khoản phải trả. Chính những khoản ấy tự chúng đã trở thành bằng chứng cho sự bấp bênh của đời sống. Đây là điểm đặc sắc trong nghệ thuật phản ánh hiện thực của nhà thơ: cái đau không được nói bằng tiếng kêu, mà được để lộ qua những chi tiết đời thường.

Hai câu tiếp theo là một bước chuyển từ “ngoài đồng” vào “trong nhà”:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Nếu cánh đồng thất thu biểu hiện cái nghèo ở phương diện sản xuất thì bữa ăn biểu hiện cái nghèo ở phương diện đời sống. “Dưa muối” là món ăn dân dã, nhưng ở đây không còn đơn thuần là một lựa chọn ẩm thực. Nó trở thành biểu tượng cho sự đạm bạc. Đáng chú ý nhất là cụm từ “cho qua bữa”. Người ta ăn không phải để tận hưởng mà để chống chọi với cái đói. Một ngày nối tiếp một ngày, một bữa nối tiếp một bữa, cuộc sống chỉ được duy trì trong sự chắt chiu.

“Chợ búa trầu chè chẳng dám mua” lại mở rộng nỗi nghèo sang đời sống tinh thần. Trầu và chè vốn là những thứ nhỏ bé nhưng gắn với phong tục, giao tiếp và niềm vui đời thường. Thế mà người nông dân cũng phải từ bỏ. Chữ “dám” chứa đựng một sắc thái tâm lý đặc biệt: người nghèo không chỉ thiếu tiền mà còn hình thành thói quen tự hạn chế nhu cầu của chính mình. Họ luôn phải nghĩ đến ngày mai, đến mùa sau, đến những món nợ chưa trả.

Nhưng Nguyễn Khuyến không để người nông dân xuất hiện như những con người chỉ biết than nghèo. Hai câu kết đã trả lại cho họ một vẻ đẹp đáng trân trọng:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

“Cần kiệm” trước hết là một lời ngợi ca. Người nông dân vẫn chăm chỉ làm ăn, vẫn biết tiết chế chi tiêu. Họ không tìm kiếm sự giàu sang bằng con đường bất chính; họ chỉ dựa vào sức lao động của chính mình. Vậy mà kết quả lại là “không khá”. Chính sự đối lập này tạo nên chiều sâu tư tưởng của bài thơ.

Câu “Cần kiệm thế mà không khá nhỉ” có vẻ như một lời nói nhẹ nhàng, thậm chí có chút tự trào, nhưng bên trong là một câu hỏi xã hội đầy day dứt. Nếu một con người đã cần cù đến vậy, tiết kiệm đến vậy mà vẫn không thể thoát nghèo, thì rõ ràng không thể quy nguyên nhân cho sự lười biếng hay hoang phí. Nguyễn Khuyến đã nhìn thấy sự bất hợp lý trong hoàn cảnh sống của người lao động.

Câu thơ cuối càng khiến nỗi đau lan rộng:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Đây là câu hỏi hướng về tương lai, nhưng tương lai lại không có một mốc thời gian cụ thể. “Bao giờ” có thể là ngày mai, năm sau, hoặc một thời điểm rất xa. Chính sự mơ hồ ấy tạo nên cảm giác bế tắc. Đặc biệt, ước mơ của người nông dân chỉ là “khỏi lo”. Họ không mong nhà cao cửa rộng, không mơ giàu sang phú quý; họ chỉ mong một ngày có thể sống mà không phải thấp thỏm trước những khoản thuế, món nợ, mùa màng. Một ước mong giản dị đến thế mà vẫn không biết bao giờ thành hiện thực – đó chính là điều khiến câu thơ trở nên ám ảnh.

Về nghệ thuật, “Làm ruộng” hấp dẫn trước hết bởi chất khẩu ngữ tự nhiên. Nguyễn Khuyến đã đưa vào thơ những từ ngữ tưởng như rất đời thường: “chân thua”, “mất”, “trả nợ”, “thuê bò”, “dưa muối”, “cho qua bữa”, “chẳng dám mua”. Chính lớp ngôn ngữ ấy khiến bài thơ mang dáng dấp một lời tâm sự hơn là một lời diễn thuyết. Bên cạnh đó, phép đối, phép điệp và cách liệt kê tạo nên nhịp thơ vừa đều đặn vừa nặng trĩu. Đặc biệt, câu hỏi tu từ cuối bài mở ra một khoảng lặng lớn, để người đọc tự suy ngẫm về số phận của người lao động.

Đằng sau bức tranh hiện thực ấy là một tấm lòng nhân đạo đáng quý. Nguyễn Khuyến không chỉ nhìn thấy cái nghèo mà còn nhìn thấy nguyên nhân của cái nghèo, không chỉ thương người dân mà còn trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ. Nhà thơ đứng về phía những con người bình dị, lắng nghe tiếng nói của họ và biến những lo toan đời thường thành chất liệu nghệ thuật.

“Làm ruộng” vì thế là một bài thơ ngắn mà có sức chứa lớn. Tám câu thơ không chỉ kể một câu chuyện về làm ruộng mà còn dựng lên cả một lát cắt xã hội, nơi người lao động phải đối diện với thiên tai, thuế nợ và những thiếu thốn triền miên. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn có một ánh sáng âm thầm: đó là sự cần cù, tiết kiệm và phẩm giá của con người. Đọc bài thơ hôm nay, ta càng thấm thía rằng giá trị của văn chương không chỉ nằm ở việc làm đẹp cuộc đời bằng những hình ảnh lung linh, mà còn ở khả năng cúi xuống trước những phận người nhỏ bé, gọi tên nỗi đau của họ và giữ lại trong trang thơ một tiếng nói nhân hậu. “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” – câu hỏi khép lại bài thơ nhưng không khép lại suy tư; nó vẫn ngân dài như một lời nhắc nhở về khát vọng muôn đời của con người: được lao động, được sống và được bình yên trên chính mảnh đất mình yêu thương.

Bài tham khảo Mẫu 6

Nhà thơ Nguyễn Khuyến, với danh hiệu "Tam nguyên Yên Đổ", đã để lại cho nền văn học dân tộc một gia tài thơ ca vô giá. Bên cạnh những vần thơ trữ tình mộc mạc viết về làng cảnh Bắc Bộ, thơ trào phúng sắc sảo, ông còn là một nhà hiện thực lớn với tấm lòng nhân đạo dạt dào hướng về người nông dân. Đọc bài thơ Làm ruộng, ta như cảm nhận được tiếng nấc nghẹn ngào, một nỗi đau âm ỉ đọng lại từ thực tại đen tối của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Tác phẩm không đơn thuần là lời than vãn về chuyện mùa màng thất bát, mà sâu xa hơn, đó là bức tranh bi tráng về bi kịch sinh tồn của con người dưới ách áp bức của thực dân phong kiến.

Bức tranh hiện thực được mở đầu bằng một tiếng thở dài ngao ngán, đắng cay cho cái nghề gốc rễ của nhà nông:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Khuyến đã thu trọn cả một chuỗi đời dâu bể, nhọc nhằn. Cụm từ "mấy năm" gợi lên một khoảng thời gian dài đằng đẵng của sự mòn mỏi, nơi hy vọng cứ cạn kiệt dần theo năm tháng. Từ "chân thua" vang lên như một sự thừa nhận đầy bất lực trước quy luật nghiệt ngã của thiên nhiên và hoàn cảnh. Đã thế, bi kịch còn được nhân lên gấp bội qua điệp từ "mất" gắn liền với hai vụ chiêm và mùa. Thiên tai, hạn hán hay bão lũ cứ nối tiếp nhau tàn phá những giọt mồ hôi, công sức mà người nông dân chắt chiu vun vén. Sự thất bát toàn diện ấy đẩy họ vào một cái bẫy đói nghèo không có đường lui, biến bao ước mơ về một vụ mùa bội thu thành những bọt nước vỡ tan.

Nhưng thiên nhiên khắc nghiệt chưa phải là đòn chí mạng duy nhất; gánh nặng xã hội mới chính là thứ bóp nghẹt hơi thở cuối cùng của người lao động:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Bằng nghệ thuật liệt kê tài tình kết hợp với các từ chỉ định lượng mang tính cắt xẻ như "phần", "nửa", nhà thơ đã phơi bày một cách trần trụi bản chất bóc lột dã man của thời đại. Làm ra bao nhiêu, người nông dân chưa kịp cầm lấy hạt gạo nuôi sống bản thân đã phải vội vã chia năm xẻ bảy. Nào là tiền thuế nặng nề oằn vai gánh nặng của quan Tây, nào là những khoản nợ nần chồng chất từ những năm đói kém trước, rồi tiền trả công cho người ở, tiền thuê bò cày bừa. Cấu trúc câu thơ dồn dập như nhịp đập của sự hoảng loạn, sợ hãi. Họ làm lụng vất vả quanh năm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, nhưng rốt cuộc lại trở thành những kẻ trắng tay, làm thuê chính trên mảnh đất của mình để gánh gồng những cỗ máy bóc lột lạnh lùng.

Chính vì sự bòn rút tận xương tủy ấy, đời sống sinh hoạt của họ rơi vào cảnh túng quẫn, kham khổ đến cùng cực:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Mâm cơm đạm bạc chỉ có vài ba đĩa "dưa muối" mặn mòi qua ngày để duy trì sự sống leo lắt. Những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu nhất của đời sống nông thôn – như miếng trầu, chén chè vốn là thước đo tình nghĩa, nét văn hóa bao đời – nay cũng phải bóp mồm bóp miệng, cắt giảm hoàn toàn vì không dám nghĩ tới. Một đời người gắn liền với sự tằn kiệm, chắt chiu từng hạt cơm manh áo, tưởng chừng đức tính tốt đẹp ấy sẽ đổi lại được một cuộc đời bình yên. Thế nhưng, hiện thực phũ phàng lại tát thẳng vào niềm hy vọng mong manh ấy:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một giọng điệu ngậm ngùi, chua chát đến xé lòng. "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ" là một lời tự vấn đầy mỉa mai, một tiếng kêu thảng thốt trước nghịch lý của xã hội: chăm chỉ, tằn kiệm hóa ra lại là tội lỗi trong một hệ thống thối nát. Câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài "Bao giờ cho biết khỏi đường lo?" không chỉ là nỗi băn khoăn của riêng nhà thơ mà còn là tiếng lòng khắc khoải của cả một thế hệ trước tương lai mịt mờ, không lối thoát.

Bằng thể thơ thất ngôn bát cú uyển chuyển, ngôn ngữ mộc mạc đậm chất dân gian nhưng vô cùng hàm súc, Nguyễn Khuyến đã tạc vào lịch sử văn học một bức tượng đài sinh động về người nông dân nghèo. Bài thơ Làm ruộng vượt qua giới hạn của một thời điểm lịch sử, trở thành tiếng nói nhân đạo lớn lao, lay động tâm can người đọc mọi thời đại về tình yêu thương, sự trân trọng và niềm xót xa khôn nguôi trước những phận người lầm than, bọt bèo trong giông bão cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 7

Trong bức tranh văn học trung đại Việt Nam, khi viết về đề tài người nông dân, Nguyễn Khuyến giữ một vị trí vô cùng đặc biệt. Khác với những nhà thơ chỉ đứng bên lề để quan sát, Tam nguyên Yên Đổ gắn bó máu thịt với làng quê, thấu hiểu từng giọt mồ hôi và nỗi nhọc nhằn của người lao động. Bài thơ Làm ruộng chính là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất kết tinh từ cái nhìn hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo sâu nặng ấy. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một bức tranh sinh hoạt cơ cực đến nghẹt thở, mà còn cảm nhận được nhịp đập của một trái tim đang thổn thức trước nỗi đau đồng loại.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã trực diện đối mặt với một thực tại phũ phàng, nơi mồ hôi và nước mắt không thể đổi lại mật ngọt của cuộc đời:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Cụm từ "mấy năm" mang theo sức nặng của thời gian, đó là chuỗi ngày dài đằng đẵng người nông dân phải oằn mình chống chọi với đói nghèo, khốn khó. Hai chữ "chân thua" vang lên như một tiếng thở dài ngao ngán, khẳng định một sự thất bại toàn diện, tuyệt đối. Sự cay đắng ấy càng được khắc sâu hơn ở câu thơ tiếp theo với điệp từ "mất" lặp lại hai lần trong cấu trúc đối xứng chặt chẽ: mất vụ chiêm lại nối tiếp mất vụ mùa. Dường như thiên nhiên tàn nhẫn đã hợp sức cùng thời cuộc để tước đoạt đi mọi tia hy vọng cuối cùng của người lao động. Sức người có hạn, trước sự hủy diệt của thiên tai và hoàn cảnh, họ hoàn toàn trở thành những kẻ thua cuộc tội nghiệp trên chính mảnh ruộng của mình.

Thế nhưng, nỗi đau của người nông dân không chỉ dừng lại ở sự khắc nghiệt của thời tiết, mà nó còn bị đẩy đến bờ vực thẳm bởi những đòn bách hại từ chế độ xã hội đương thời:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Nhà thơ sử dụng nghệ thuật liệt kê vô cùng tinh tế và ám ảnh. Các từ định lượng như "phần", "nửa" xuất hiện dày đặc như những nhát dao cắt xẻ nhỏ nhoi tấm thân gầy guộc của người lao động. Làm ra bao nhiêu, họ chưa từng được hưởng thụ. Tiền thuế nặng nề dưới ách thống trị của thực dân Pháp ("thuế quan Tây"), những khoản nợ nần chồng chất từ mùa trước, tiền thuê mướn nhân công, tiền thuê bò cày bừa... tất cả cấu thành một gánh nặng ngàn cân đè nặng lên đôi vai người nông dân. Họ giống như những cỗ máy bị vắt kiệt sức lao động, làm việc ngày đêm chỉ để cung phụng cho những kẻ ăn trên ngồi trốc.

Bị tước đoạt toàn bộ thành quả lao động, đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân rơi vào cảnh túng quẫn, kham khổ đến đáng thương:

Sớm trura dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Mâm cơm đạm bạc chỉ có vài món ăn nghèo khó "dưa muối" cốt để níu giữ sự sống qua ngày, đoạn trường qua từng bữa. Thậm chí, những nhu cầu tinh thần vô cùng bình dị của người Việt Nam xưa như miếng trầu, chén chè – thứ tình cảm giao tiếp chốn thôn quê – nay cũng phải bóp mồm bóp miệng, tuyệt nhiên "chẳng dám mua". Sự tằn kiệm đến mức tột cùng ấy cứ tưởng sẽ là chiếc phao cứu sinh giúp họ vượt qua giông bão, thế nhưng:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết là sự bùng nổ của nỗi u uất, ngậm ngùi. Lời tự vấn "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ" mang giọng điệu chua chát, như một cái tát vào mặt hiện thực bất công, nơi sự chăm chỉ và đức tính tốt đẹp lại không thể nuôi sống nổi con người. Câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài chính là nỗi u hoài khôn tả về một tương lai mịt mờ, không lối thoát.

Làm ruộng là một minh chứng hùng hồn cho tài năng và tâm huyết của Nguyễn Khuyến. Bằng ngòi bút hiện thực sắc bén thấm đẫm tinh thần nhân đạo, nhà thơ đã dựng lên một tượng đài bi tráng về người nông dân, để từ đó đánh thức lòng trắc ẩn và sự đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn người đọc muôn đời.

Bài tham khảo Mẫu 8

Nhắc đến Nguyễn Khuyến, người ta thường nhớ đến những áng thơ thu thanh nhã, đượm buồn của một bậc đại nho ẩn dật. Tuy nhiên, nếu bỏ qua mảng thơ viết về người nông dân và hiện thực xã hội của ông thì đó là một thiếu sót lớn. Bài thơ Làm ruộng là một tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút hiện thực pha lẫn trữ tình sâu sắc, nơi nhà thơ trút bỏ mọi lớp vỏ bọc tao nhã để trực diện đối mặt với nỗi cơ cực, bế tắc của những kiếp người lầm than ở làng quê Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Tác phẩm mở ra bằng một tiếng kêu thương, tóm lược toàn bộ bi kịch của cả một đời người lao động:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Cụm từ chỉ thời gian "mấy năm" gợi lên sự mỏi mòn, bế tắc của một chuỗi ngày dài đằng đẵng chìm trong đói nghèo. Từ "chân thua" được sử dụng đắt giá, thể hiện sự thất bại toàn diện, không thể cứu vãn. Nỗi đau ấy lại được nhân đôi qua cấu trúc song hành và điệp từ "mất" ở câu thơ tiếp theo. Mất vụ chiêm nối tiếp mất vụ mùa, thiên tai khắc nghiệt, hạn hán bão lũ đã cướp đi toàn bộ thành quả mồ hôi nước mắt của người nông dân. Họ đổ mồ hôi xuống ruộng đồng nhưng thứ thu về chỉ là những cành khô lá héo và một tương lai xám xịt, đói kém.

Nhưng thiên tai suy cho cùng cũng chỉ là một phần nguyên nhân; điều tàn nhẫn hơn cả chính là gánh nặng từ cấu trúc xã hội thực dân nửa phong kiến đang bủa vây lấy họ:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Bằng tài năng nghệ thuật bậc thầy trong việc sử dụng phép liệt kê và các từ định lượng ("phần", "nửa"), Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh kinh tế gia đình khánh kiệt đến cùng cực. Làm ra hạt lúa, người nông dân chưa kịp ấm bụng đã phải chia năm xẻ bảy để trả nợ đời: nào là tiền thuế nặng nề của thực dân Pháp ("thuế quan Tây"), nào là những khoản nợ nần chồng chất từ những năm mất mùa trước, rồi tiền trả công cho người làm thuê, tiền thuê bò cày cấy. Nhịp thơ dồn dập như tiếng giục giã của chủ nợ, như tiếng thở gấp của những con người đang bị bóp nghẹt. Họ hoàn toàn trở thành những cỗ máy làm việc không công, bị bóc lột đến tận xương tủy.

Chính hoàn cảnh túng quẫn ấy đã đẩy đời sống sinh hoạt của họ vào một sự thiếu thốn, kham khổ đến đau lòng:

Sớm trura dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Mâm cơm qua loa với vài đĩa "dưa muối" mặn mòi chỉ đủ để duy trì sự sống leo lắt qua ngày. Ngay cả những nhu cầu văn hóa tối thiểu, những thói quen bình dị chốn thôn quê như miếng trầu, chén chè cũng bị cắt giảm triệt để, "chẳng dám mua". Lối sống tằn kiệm, chắt chiu ấy vốn là truyền thống đạo đức tốt đẹp của người Việt, nhưng trong bối cảnh bấy giờ, nó trở nên vô nghĩa trước guồng quay khắc nghiệt của thời đại:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào, một lời tự thán đầy chua chát. "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ" là sự phủ định phũ phàng đối với quy luật "có làm thì mới có ăn" trong xã hội cũ. Và câu hỏi tu từ ở cuối bài "Bao giờ cho biết khỏi đường lo?" là một câu hỏi lơ lửng hướng về tương lai, thể hiện sự bất lực tột cùng, nỗi u hoài khôn nguôi của nhà thơ trước cảnh đời đen tối.

Làm ruộng không chỉ là một bài thơ phản ánh hiện thực xã hội sắc sảo, mà còn là minh chứng cho tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Khuyến. Tác phẩm đã chạm đến những góc khuất đau thương nhất của người nông dân, lưu giữ mãi trong lòng người đọc niềm xót xa, thương cảm và sự trân trọng đối với những con người lao động nghĩa tình nhưng bất hạnh

Bài tham khảo Mẫu 9

Có những miền quê bước vào thơ ca bằng hương lúa mới, bằng sắc trời xanh trong, bằng tiếng chim ngân trên những triền đê chiều muộn. Nhưng quê hương trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ có vẻ đẹp thanh bình của ao thu, ngõ trúc, cánh bèo hay vầng trăng lặng lẽ. Ẩn sau bức tranh làng quê tưởng như yên ả ấy còn là những phận người âm thầm đi qua tháng ngày bằng đôi bàn tay chai sạn, bằng những mùa vụ mong manh và những nỗi lo chẳng biết gửi vào đâu. “Làm ruộng” là một bài thơ như thế. Tám câu thơ thất ngôn không cầu kỳ, không phô diễn, chỉ nhẹ nhàng kể về một đời làm ruộng, vậy mà từ những câu chữ bình dị ấy, cả một miền quê nghèo hiện lên với màu đất, màu mồ hôi và một nỗi buồn sâu lắng. Đọc bài thơ, ta như nghe được tiếng thở dài khe khẽ vọng ra từ những cánh đồng sau mùa gặt, nơi con người đã cần cù gieo xuống đất biết bao hy vọng mà vẫn chưa thể hái về một mùa bình yên.

Ngay từ hai câu mở đầu, Nguyễn Khuyến đã đặt trước mắt người đọc một nghịch cảnh:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

“Mấy năm” – hai chữ tưởng như đơn sơ mà gợi cả một chiều dài của thời gian. Đó là những tháng năm người nông dân gắn đời mình với ruộng đồng, với nắng mưa, với những đường cày và hạt giống. Họ đã gửi tuổi trẻ, sức lực và niềm hy vọng vào đất. Thế nhưng sau tất cả, “vẫn chân thua”. Chữ “vẫn” nghe thật buồn. Thời gian đã đi qua nhưng cuộc sống dường như vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ. Người nông dân vẫn nghèo, vẫn phải lo toan, vẫn chưa thể bước ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của cơm áo.

Rồi mùa màng cũng không mỉm cười với họ:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Hai chữ “mất” rơi xuống liên tiếp, giống như những hạt mưa lạnh rơi trên cánh đồng đã xác xơ. Chiêm mất, mùa cũng mất; một năm trôi qua mà chẳng có mùa nào đem lại niềm vui trọn vẹn. Đối với người nông dân, ruộng đất vốn là nơi gửi gắm sự sống. Vì thế, mất mùa không chỉ là mất thóc, mất tiền, mà còn là mất đi một phần hy vọng. Nguyễn Khuyến không cần tả một cánh đồng xác xơ, không cần kể những khuôn mặt buồn; chỉ một điệp từ “mất” cũng đủ để người đọc hình dung ra cả một miền quê đang oằn mình trước sự khắc nghiệt của cuộc sống.

Nhưng nếu thiên nhiên đã không cho họ một mùa no đủ thì cuộc đời lại tiếp tục đặt lên vai họ những gánh nặng khác:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Câu thơ như một phép tính, nhưng đó là một phép tính buồn. Thành quả ít ỏi vừa thu về đã phải chia thành từng “phần”, từng “nửa”. Một phần cho thuế, một phần trả nợ; một nửa tiền công cho người làm, một nửa để thuê bò. Điệp cấu trúc “phần... phần...”, “nửa... nửa...” khiến người đọc cảm thấy thành quả lao động cứ nhỏ dần đi, như một nắm thóc vừa đong đã bị vơi mất quá nửa.

Đằng sau những câu thơ ấy là một hiện thực xã hội không thể làm ngơ. Người nông dân sống nhờ ruộng nhưng lại không thể tự do hưởng thành quả từ ruộng. Họ phụ thuộc vào thời tiết, mùa vụ, lại phải gánh thêm thuế khóa và nợ nần. Cái nghèo vì thế không chỉ là câu chuyện của một gia đình mà là bóng tối phủ lên cả một lớp người. Điều đáng quý là Nguyễn Khuyến không nhìn hiện thực bằng ánh mắt lạnh lùng của một người đứng ngoài. Ông nhìn nó bằng cái nhìn của một con người từng sống giữa làng quê, hiểu từng nỗi nhọc nhằn của người dân.

Từ cánh đồng, bài thơ khẽ bước vào căn nhà nhỏ:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Nếu bốn câu đầu mang theo vị mặn của mồ hôi thì hai câu này dường như mang theo vị mặn của bữa cơm nghèo. “Dưa muối” là món ăn giản dị đến mức gần như trở thành biểu tượng của đời sống nông thôn. Nhưng Nguyễn Khuyến không viết “ăn dưa muối” mà viết “cho qua bữa”. Cụm từ ấy khiến bữa ăn mất đi ý nghĩa của một niềm vui. Con người ăn để tồn tại, để ngày mai lại tiếp tục bước ra đồng.

Đặc biệt, “trầu chè” vốn chỉ là những thức nhỏ bé trong sinh hoạt thường ngày. Một miếng trầu, một chén chè đâu phải điều gì xa xỉ. Vậy mà người nông dân “chẳng dám mua”. Chữ “dám” khiến câu thơ bỗng chùng xuống. Cái nghèo đã đi sâu vào tâm hồn con người, khiến họ không chỉ thiếu thốn mà còn phải dè sẻn cả những niềm vui nhỏ bé. Họ không dám tiêu tiền cho bản thân bởi phía trước còn biết bao điều phải lo.

Thế nhưng, trong cái nghèo ấy lại sáng lên vẻ đẹp của một phẩm chất:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần kiệm” là hai chữ đẹp nhất trong bức tranh đời sống mà Nguyễn Khuyến dựng nên. Người nông dân vẫn làm việc, vẫn tiết kiệm, vẫn cố gắng giữ gìn cuộc sống bằng chính đôi tay của mình. Họ không phung phí, không lười nhác. Nhưng nghịch lý đau lòng là càng cần cù, càng chắt chiu, họ vẫn chưa thể “khá”. Câu thơ như một lời tự hỏi, nhưng sâu xa hơn là một tiếng thở dài trước sự bất công của hoàn cảnh.

Và rồi, câu cuối rơi xuống thật nhẹ:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Không phải “bao giờ giàu”, cũng chẳng phải “bao giờ sung túc”, mà chỉ là “bao giờ” được “khỏi lo”. Ước mơ của con người trong bài thơ nhỏ bé biết bao. Họ chỉ mong một ngày được sống mà không phải thấp thỏm vì mùa màng, không phải tính toán từng đồng, không phải nghĩ đến nợ nần. Nhưng chính vì ước mơ ấy quá giản dị mà câu hỏi càng trở nên day dứt. “Bao giờ” không có câu trả lời. Nó mở ra một tương lai mịt mờ, nơi con người vẫn chưa biết bao giờ mình mới được bước ra khỏi những tháng ngày nhọc nhằn.

Bằng những câu thơ dung dị, Nguyễn Khuyến đã biến “Làm ruộng” thành một bức tranh đời sống vừa chân thực vừa giàu sức gợi. Ngôn ngữ thơ gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng không hề đơn giản. Điệp từ “mất”, những cấu trúc “phần... phần...”, “nửa... nửa...” cùng câu hỏi tu từ cuối bài đã tạo nên một nhịp thơ chậm, nặng và buồn. Đó là cái buồn không ồn ào, chỉ âm thầm lan ra như bóng chiều phủ xuống cánh đồng.

Đẹp nhất trong bài thơ có lẽ chính là tấm lòng của Nguyễn Khuyến. Nhà thơ không chỉ nhìn thấy cái nghèo mà còn nhìn thấy con người phía sau cái nghèo ấy. Ông trân trọng sự cần cù, tiết kiệm, thương cảm cho những phận người sống bằng lao động mà vẫn phải quanh quẩn với cơm áo. Vì thế, “Làm ruộng” không chỉ là tiếng nói hiện thực mà còn là một bài thơ giàu tình người.

Khép lại tám câu thơ, ta tưởng như vẫn thấy trước mắt mình một cánh đồng quê trong buổi chiều muộn. Gió thổi nhẹ trên những bờ ruộng, khói bếp mỏng bay lên từ một mái nhà nghèo, và đâu đó có một người nông dân đang lặng lẽ tính toán cho ngày mai. Trên nền trời ấy, câu hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” vang lên thật khẽ. Nhưng chính cái khẽ khàng ấy lại khiến nó ở lại lâu hơn trong lòng người đọc. Bởi thơ ca, đôi khi không cần một tiếng khóc lớn; chỉ một tiếng thở dài chân thật cũng đủ khiến cả một đời người hiện ra.

Bài tham khảo Mẫu 10

Trong thơ Nguyễn Khuyến, quê hương nhiều khi hiện lên như một miền ký ức dịu dàng: có mặt ao thu trong veo, có chiếc thuyền câu bé nhỏ, có ngõ trúc quanh co và một bầu trời thu xanh đến nao lòng. Nhưng nếu chỉ nhìn quê hương qua vẻ đẹp ấy, ta sẽ chưa hiểu hết chiều sâu tâm hồn của nhà thơ. Bởi sau những bức tranh thiên nhiên trong trẻo là một trái tim luôn đau đáu với đời sống của người dân. “Làm ruộng” chính là một tiếng thơ hướng về phía ấy – phía sau cánh đồng, phía sau mùa lúa, phía sau những gì tưởng bình thường của cuộc sống là một thế giới đầy nhọc nhằn. Bài thơ không kể một câu chuyện lớn lao, nhưng lại khiến người đọc nhận ra một điều lớn lao: đằng sau hạt gạo trắng ngần là biết bao mồ hôi và phía sau vẻ bình yên của làng quê là biết bao nỗi lo âm thầm.

Hai câu thơ đầu mở ra bằng một tiếng thở dài:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

“Mấy năm” là thời gian của đời người. Người nông dân đã đi qua không biết bao mùa nắng, mùa mưa, bao buổi sớm ra đồng và bao chiều trở về với đôi chân lấm đất. Thế nhưng chữ “vẫn” xuất hiện như một vòng tròn khép kín. Bao nhiêu năm trôi qua, cuộc sống vẫn không đổi. Họ vẫn ở bên kia của sự đủ đầy.

Câu thơ “Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa” nghe như một lời kể bình thản, nhưng phía dưới sự bình thản ấy là một nỗi đau. Điệp từ “mất” khiến mùa màng dường như lần lượt rời khỏi tay người. Người nông dân gieo xuống đất những hạt giống của hy vọng, nhưng đất trời chỉ trả lại họ những khoảng trống. Vụ chiêm mất, vụ mùa cũng mất. Cái mất ấy nối tiếp cái mất, khiến cuộc sống trở thành một cuộc chờ đợi mà kết quả luôn là thất vọng.

Nguyễn Khuyến đã rất tinh tế khi không miêu tả trực tiếp khuôn mặt người nông dân. Ông để mùa màng nói thay cho họ. Cánh đồng không cần cất tiếng, nhưng qua hai chữ “mất mùa”, ta đã nghe được tiếng thở dài của cả một gia đình.

Nếu thiên nhiên đã khắc nghiệt, xã hội lại tiếp tục đè thêm những gánh nặng lên đôi vai người lao động:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Nhịp thơ như một bàn tay cứ lần lượt chia nhỏ những gì người nông dân có được. “Phần” này chưa xong đã đến “phần” khác; “nửa” này vừa tính đã có “nửa” khác. Thành quả lao động vì thế chẳng còn lại bao nhiêu. Sau một mùa vụ, họ không chỉ nghĩ đến thóc lúa mà còn phải nghĩ đến thuế, đến nợ, đến tiền thuê người, thuê bò.

Câu thơ có vẻ như đang tính toán, nhưng thực chất lại là một bức tranh tâm trạng. Đó là tâm trạng của một con người lúc nào cũng phải sống bằng những phép tính nhỏ bé: hôm nay còn bao nhiêu, ngày mai phải trả gì, mùa sau lấy gì mà làm. Cái nghèo đã biến cuộc sống thành một chuỗi những phép tính không có đáp số.

Để rồi khi trở về căn nhà, cái nghèo lại hiện ra trong một dáng vẻ khác:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Có lẽ “dưa muối” là hình ảnh mang đậm hồn quê nhất trong bài thơ. Nhưng Nguyễn Khuyến không dùng nó để tô điểm vẻ dân dã. Ông đặt nó bên cạnh “cho qua bữa”, để từ một món ăn bình thường trở thành dấu hiệu của sự thiếu thốn. Bữa cơm không còn là nơi con người tận hưởng niềm vui mà chỉ là một cách để “qua” ngày.

Câu thơ “Chợ búa trầu chè chẳng dám mua” lại gợi một nỗi nghèo sâu hơn. Nếu không có tiền mua những món ngon, người ta có thể chịu được. Nhưng đến những thứ rất nhỏ như trầu, chè cũng không dám mua thì cái nghèo đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực. Người ta phải từ bỏ cả những thú vui bé nhỏ để giữ lại chút tiền cho những ngày khó khăn phía trước.

Trong bức tranh ấy, Nguyễn Khuyến vẫn tìm thấy một vẻ đẹp đáng quý:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

Hai chữ “cần kiệm” như một tia sáng mỏng giữa nền trời buồn. Người nông dân vẫn cần cù, vẫn tiết kiệm. Họ không đầu hàng số phận. Họ vẫn cố gắng dùng đôi bàn tay để giữ lấy cuộc sống. Nhưng ngay sau ánh sáng ấy lại là một câu hỏi: “không khá nhỉ”. Câu hỏi nghe như đùa mà thực ra rất buồn. Bởi lẽ, nếu cần cù và tiết kiệm vẫn không thể đem lại một cuộc sống tốt đẹp thì con người biết phải dựa vào đâu?

Câu thơ cuối chính là nơi cảm xúc dồn tụ:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

“Bao giờ” là một khoảng thời gian không định trước. Nó giống như một cánh cửa mở về phía tương lai nhưng phía sau cánh cửa ấy vẫn là màn sương mờ. Người nông dân không biết đến khi nào mình mới có thể sống mà không phải lo. Và điều đáng thương nhất chính là họ chẳng hề đòi hỏi điều gì quá lớn. Họ chỉ mong “khỏi lo” – một mong ước nhỏ bé nhưng xa xôi.

Câu hỏi ấy khiến bài thơ vượt khỏi câu chuyện của một người làm ruộng. Nó trở thành tiếng lòng của cả một lớp người trong xã hội cũ. Những con người quanh năm gắn với đất, nhưng cuộc đời họ lại quá bấp bênh. Họ cần cù mà nghèo, tiết kiệm mà vẫn thiếu. Bởi thế, tiếng hỏi cuối bài vừa mang vẻ riêng tư vừa có sức khái quát lớn.

Về nghệ thuật, sức hấp dẫn của “Làm ruộng” nằm ở sự giản dị. Nguyễn Khuyến không tìm đến những hình ảnh xa lạ mà chỉ dùng những gì thân thuộc nhất với đời sống nông thôn: mùa chiêm, mùa vụ, thuế nợ, thuê bò, dưa muối, trầu chè. Chính chất liệu đời thường ấy làm nên vẻ đẹp chân thật cho bài thơ. Ngôn ngữ mộc mạc nhưng được tổ chức chặt chẽ; phép điệp, phép đối tạo nhịp điệu cân xứng; câu hỏi tu từ ở cuối bài tạo dư âm day dứt.

Đặc biệt, bài thơ cho thấy một Nguyễn Khuyến giàu lòng thương người. Nhà thơ không đứng trên cao để nhìn xuống người nông dân. Ông đứng gần họ, lắng nghe những câu chuyện rất nhỏ của họ và biến những câu chuyện ấy thành thơ. Vì vậy, cái nghèo trong “Làm ruộng” không làm con người trở nên thấp bé; ngược lại, giữa thiếu thốn, vẻ đẹp của sự cần cù và tiết kiệm càng trở nên đáng trân trọng.

Có lẽ, khi khép lại bài thơ, người đọc sẽ không nhớ trước hết đến những khoản thuế hay món nợ, mà nhớ đến một tiếng hỏi rất đỗi con người: “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”. Tiếng hỏi ấy giống như làn khói bếp mỏng bay lên giữa chiều quê – nhẹ nhàng, mong manh nhưng mang theo cả một đời người. Và chính từ sự mong manh ấy, Nguyễn Khuyến đã làm nên sức mạnh của thơ: khiến một câu chuyện về làm ruộng trở thành câu chuyện về khát vọng bình yên của con người trong mọi thời đại.

Bài tham khảo Mẫu 11

Có một miền quê bước ra từ thơ Nguyễn Khuyến không chỉ có màu xanh của trời thu, màu bạc của mặt nước hay dáng trúc nghiêng nghiêng trong gió. Đó còn là miền quê của những người nông dân cúi xuống trên luống đất, của những mùa chiêm mùa vụ thấp thỏm, của bữa cơm chỉ có dưa muối và những buổi chợ mà người ta phải đi qua với bàn tay gần như trống rỗng. Nếu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến đôi khi đẹp đến mức khiến thời gian như ngừng lại, thì con người trong “Làm ruộng” lại phải sống giữa một thời gian khác – thời gian của lao động, của chờ đợi và của những nỗi lo kéo dài không biết đến bao giờ. Bài thơ vì thế giống như một mảnh đất được nhà thơ lật lên: phía trên là vẻ bình yên của làng quê, phía dưới là những tầng sâu của cuộc đời. Và ở tầng sâu ấy, người đọc bắt gặp một Nguyễn Khuyến không chỉ yêu cảnh quê mà còn đau với nỗi đau của những người cùng chung một miền đất.

Hai câu thơ đầu tiên giống như một tiếng thở dài rơi xuống giữa cánh đồng:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Từ “mấy” không xác định một con số cụ thể, nhưng chính sự không xác định ấy lại gợi cảm giác thời gian kéo dài vô tận. Người nông dân đã làm ruộng “mấy năm”, nghĩa là đã trải qua biết bao ngày tháng dầm mưa dãi nắng. Thế nhưng chữ “vẫn” như níu tất cả thời gian trở lại một điểm: vẫn nghèo, vẫn thiếu, vẫn chưa thể ngẩng lên. “Chân thua” là một cách nói dân dã, nhưng càng dân dã càng đau. Nó không phải sự thất bại của một mùa vụ mà là sự hụt hơi trong cả cuộc sống.

Rồi hai mùa trong năm đi qua:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Nhịp thơ lặp lại như những vòng quay của thời gian. Chiêm đến rồi mất, mùa đến rồi cũng mất. Người nông dân đứng giữa dòng thời gian ấy, nhìn công sức của mình tan theo mùa vụ. Điệp từ “mất” được đặt ở những vị trí nổi bật khiến sự thất bát trở thành âm hưởng chủ đạo. Ta có thể hình dung một cánh đồng sau vụ mùa: những thân rạ còn lại, đất ruộng im lìm, căn nhà chờ thóc mà kho vẫn vơi. Nhưng Nguyễn Khuyến không tả trực tiếp những hình ảnh ấy. Ông chỉ nói “mất”, để người đọc tự hình dung phần đời còn lại phía sau chữ ấy.

Nếu đất trời đã không ban cho họ một mùa no đủ, xã hội lại tiếp tục lấy đi phần ít ỏi mà họ kiếm được:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Câu thơ giống như một chiếc cân liên tục nghiêng về phía những khoản phải trả. Thành quả lao động bị chia nhỏ thành “phần” và “nửa”. Đằng sau cách nói tưởng như rất khách quan ấy là một nỗi xót xa sâu sắc. Người nông dân không chỉ chịu sự bất trắc của thiên nhiên mà còn phải gánh trên vai những nghĩa vụ kinh tế nặng nề. Làm ruộng vốn đã nhọc, nhưng để có được mùa màng họ còn cần người làm, cần sức kéo; nghĩa là phải bỏ thêm những khoản tiền mà một gia đình nghèo khó vốn chẳng có bao nhiêu.

Đọc đến đây, ta mới hiểu vì sao “mấy năm làm ruộng” mà vẫn “chân thua”. Cái nghèo không phải vì họ không chịu khó. Trái lại, họ đã làm tất cả những gì có thể. Nhưng sức lao động của họ bị vây quanh bởi quá nhiều bất trắc và gánh nặng. Nguyễn Khuyến không cần nói một lời tố cáo trực tiếp. Ông chỉ cần để những “phần” và “nửa” nối tiếp nhau, thế là đủ để người đọc cảm nhận sự khắc nghiệt của một đời sống mà thành quả lao động chẳng còn lại được bao nhiêu.

Sau cánh đồng là mái nhà. Sau những khoản thuế nợ là bữa cơm:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Hai câu thơ có một vẻ đẹp rất lạ. Chúng bình dị đến mức gần như không có chất thơ nếu nhìn bằng con mắt thông thường. Nhưng chính cái không cầu kỳ ấy lại làm nên sức lay động. “Dưa muối” là thức ăn dân dã, gắn với căn bếp Việt, với những ngày nghèo mà ấm. Nhưng ở đây, nó đi cùng “cho qua bữa”. Chỉ ba chữ ấy đã làm đổi sắc cả hình ảnh. Bữa cơm không còn là nơi thưởng thức mà chỉ là một nhịp nối của sự tồn tại.

Rồi “trầu chè” – những thức quà nhỏ bé của đời sống – cũng bị đặt ngoài khả năng của người nghèo. “Chẳng dám mua” là một cách nói rất đắt. Người ta không phải không thích, không phải không muốn, mà không “dám”. Cái nghèo đã khiến con người phải học cách từ chối niềm vui. Họ phải giữ lại từng đồng cho những ngày chưa biết điều gì sẽ xảy đến. Có lẽ đây chính là một trong những nỗi đau âm thầm nhất của nghèo khó: nó khiến con người quen với việc hy sinh những mong muốn rất nhỏ của chính mình.

Thế nhưng, Nguyễn Khuyến không để bài thơ chìm hoàn toàn trong bóng tối. Ông bất ngờ nhắc đến hai phẩm chất:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần” là chăm chỉ, “kiệm” là biết chắt chiu. Đó là những phẩm chất đẹp của người lao động. Họ đã sống bằng mồ hôi của chính mình, không hoang phí, không buông thả. Nhưng nghịch lý nằm ở chữ “thế mà”. Cần kiệm đến vậy mà vẫn không khá. Câu thơ vì thế vừa là lời nhận xét, vừa là một sự ngạc nhiên, vừa là một tiếng cười chua chát trước nghịch cảnh.

Nguyễn Khuyến dường như đang đặt một câu hỏi lớn hơn câu chuyện làm ruộng: Liệu chỉ cần cù và tiết kiệm có đủ để con người tự quyết định số phận của mình hay không? Trong một xã hội đầy bất trắc, khi thiên nhiên có thể làm mất mùa và những gánh nặng kinh tế có thể lấy đi thành quả, người nông dân dù có tốt đẹp đến đâu vẫn có thể bị đẩy vào nghèo khó. Cái nhìn của nhà thơ vì thế vừa nhân hậu vừa tỉnh táo.

Và sau tất cả, chỉ còn một câu hỏi:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Đây có lẽ là câu thơ buồn nhất của bài. Bởi “bao giờ” không phải là một thời điểm cụ thể. Nó là sự chờ đợi. Còn “khỏi đường lo” lại là một trạng thái tưởng đơn giản mà xa xôi. Người nông dân không ước một cuộc đời giàu sang. Họ chỉ muốn được ngủ một đêm không nghĩ đến nợ, ăn một bữa cơm không tính đến ngày mai, bước ra đồng mà không sợ mùa màng phụ bạc. Một mong ước nhỏ bé đến vậy mà vẫn phải hỏi “bao giờ” – đó chính là chiều sâu bi kịch của bài thơ.

Về nghệ thuật, “Làm ruộng” là minh chứng cho tài năng đưa đời sống vào thơ của Nguyễn Khuyến. Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ bình dị, giàu khẩu ngữ nhưng mỗi chữ đều có sức gợi. Điệp từ “mất”, những cặp cấu trúc “phần... phần...”, “nửa... nửa...” tạo nên cảm giác thiếu hụt, chia nhỏ. Hình ảnh “dưa muối”, “trầu chè” đưa người đọc thẳng vào gian bếp của một gia đình nghèo. Đặc biệt, câu hỏi cuối bài không đóng lại cảm xúc mà mở nó ra, khiến nỗi lo từ một cá nhân lan thành nỗi niềm của cả một lớp người.

Điều đáng quý nhất vẫn là tấm lòng của tác giả. Nguyễn Khuyến đã không nhìn người nông dân từ xa. Ông bước vào đời sống của họ, nghe tiếng nói của họ, hiểu những lo toan rất nhỏ của họ. Nhà thơ thương cái nghèo nhưng không thương hại con người; ông nhìn thấy trong họ sự cần cù, tiết kiệm và lòng tự trọng. Chính vì vậy, “Làm ruộng” không chỉ có màu xám của nghèo khó mà còn có ánh sáng của tình người.

Khép lại bài thơ, ta có cảm giác như đang đứng trước một cánh đồng lúc chiều xuống. Mặt trời đã nhạt, gió thổi qua những bờ ruộng, khói bếp từ những mái nhà nghèo bắt đầu bay lên. Một ngày lao động khép lại nhưng nỗi lo chưa khép. Và giữa không gian ấy, câu hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” vang lên, nhỏ thôi mà day dứt. Nó khiến ta hiểu rằng vẻ đẹp của quê hương không chỉ nằm trong cảnh sắc thơ mộng, mà còn nằm trong những con người đã lặng lẽ làm nên quê hương bằng mồ hôi của mình. Nguyễn Khuyến đã dùng thơ để giữ lại tiếng thở dài ấy, để từ một câu chuyện “làm ruộng” bình thường, ông nâng lên thành câu chuyện về phẩm giá, về nỗi khổ và về khát vọng muôn đời của con người: được sống một cuộc đời bình dị mà không phải mãi cúi mình trước những nỗi lo.

Bài tham khảo Mẫu 12

Nhắc đến Nguyễn Khuyến, người ta thường nghĩ về những vần thơ thu thanh tao, những chiếc ao thu lạnh lẽo hay bóng trúc che ngang ngõ tối. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau lớp áo của một nhà nho ẩn dật ấy là một trái tim luôn thổn thức, rỉ máu cùng những nỗi đau trầm thống của người nông dân làng cảnh Việt Nam. Đọc bài thơ Làm ruộng, ta như bước vào một không gian đượm buồn của mùa màng thất bát, nơi tiếng lòng của thi nhân hòa quyện thành khúc ca bi tráng về kiếp người lầm than.

Bức tranh mở ra bằng một nỗi buồn tê tái, thấm đẫm vào từng nhịp thở của đất trời và con người:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Hai chữ "chân thua" vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào, cay đắng. Đó là sự bất lực của con người trước quy luật nghiệt ngã của thiên nhiên và hoàn cảnh. Suốt "mấy năm" dài đằng đẵng, người nông dân đổ biết bao mồ hôi, nước mắt xuống bùn sâu, để rồi đổi lại chỉ là những vụ mùa trơ gốc rạ. Điệp từ "mất" lặp lại như một lưỡi dao cứa vào hy vọng mỏng manh. Vụ chiêm nối tiếp vụ mùa, thiên tai, hạn hán bão lũ tàn phá tất cả, để lại trên gương mặt người lao động những nếp nhăn hằn học của sự túng quẫn, bơ vơ.

Nhưng bi kịch của người nông dân đâu chỉ dừng lại ở sự khắc nghiệt của thời tiết? Đòn chí mạng giáng xuống đời họ chính là gánh nặng oằn vai của chế độ xã hội đương thời:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Bằng ngòi bút tài hoa và đầy tinh tế, Nguyễn Khuyến đã mổ xẻ hiện thực bằng những từ ngữ cắt xẻ đau đớn: "phần", "nửa". Làm ra hạt lúa, người nông dân chưa kịp đưa lên miệng đã phải vội vã chia năm xẻ bảy để trả nợ đời. Nào là tiền thuế nặng nề của "quan Tây", nào là nợ nần chồng chất từ những năm đói kém, rồi tiền công thuê người, tiền thuê bò cày cấy. Nhịp thơ gấp gáp, dồn dập như tiếng thở dài ngao ngán, như gánh nặng ngàn cân đè bẹp lên đôi vai gầy guộc. Họ làm lụng vất vả quanh năm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, mà cuối cùng vẫn hoàn trắng tay, như những cái bóng mờ nhạt chìm khuất trong giông bão.

Chính vì thế, mâm cơm mỗi ngày của họ cũng chìm đắm trong sự đạm bạc, nghèo nàn đến xé lòng:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Vài đĩa "dưa muối" mặn mòi qua ngày để níu giữ chút hơi ấm sự sống leo lắt. Những thói quen tao nhã, những nét văn hóa bình dị nhất của người Việt như miếng trầu, chén chè – thứ tình cảm giao tế chốn thôn quê – nay cũng phải bóp mồm bóp miệng, cắt giảm hoàn toàn vì không dám nghĩ tới. Sự tằn kiệm đến tột cùng ấy cứ ngỡ sẽ là chiếc phao cứu sinh, nhưng hóa ra lại là một vòng kim cô trói buộc họ vào kiếp nghèo hèn:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một nỗi u hoài khôn nguôi. Câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài vang lên như tiếng vọng từ cõi lòng đầy trắc ẩn của nhà thơ.

 Làm ruộng không chỉ là một bức tranh hiện thực, mà còn là giọt nước mắt ấm nóng mà Nguyễn Khuyến dành tặng cho những phận người lầm than, bọt bèo trong dâu bể cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 13

Giữa bức tranh văn học trung đại mang đậm cảm hứng trang nhã, thơ của Nguyễn Khuyến hiện lên như một miền quê yên bình nhưng đượm buồn. Thế nhưng, đằng sau vẻ tĩnh lặng ấy lại là những con sóng ngầm của một trái tim đa cảm, luôn trăn trở khôn nguôi trước số phận của người nông dân nghèo. Bài thơ Làm ruộng là một bản tình ca buồn, nơi thơ ca hóa thành tiếng lòng thổn thức trước cảnh ngộ bế tắc, cơ cực của những con người gắn liền với bùn đất và luống cày.

Tác phẩm mở đầu bằng một tiếng thở dài não nề, buông rơi giữa không gian tĩnh lặng của làng quê:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.

Cụm từ "mấy năm" mang theo sức nặng của thời gian, gợi nhắc một chuỗi ngày dài mỏi mòn hy vọng rồi lại tuyệt vọng. Hai chữ "chân thua" là một định mệnh nghiệt ngã, khẳng định sự trắng tay hoàn toàn của người lao động. Thiên nhiên dường như nhẫn tâm hơn khi trút hết giận hờn lên những cánh đồng qua điệp từ "mất". Mất vụ chiêm lại nối tiếp mất vụ mùa, sức người bé nhỏ trước cuồng phong bão táp đã gục ngã hoàn toàn. Mồ hôi và nước mắt của người nông dân đổ xuống chỉ để đổi lấy những khoảnh khắc bẽ bàng, chua chát.

Không chỉ đối mặt với thiên tai, cuộc đời họ còn bị bủa vây bởi những thòng lọng vô hình của xã hội thực dân nửa phong kiến:

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Nhà thơ sử dụng các từ ngữ chia cắt định lượng như "phần", "nửa" để phơi bày sự tàn nhẫn của hoàn cảnh. Những hạt lúa vàng óng chưa kịp ấm hạt gạo trong nồi đã phải vội vàng chia sẻ cho muôn vàn chủ nợ: thuế khóa nặng nề của quan Tây, nợ cũ chưa dứt nợ mới đã chồng chất, tiền trả công người làm, tiền thuê bò cày cấy. Cuộc đời người nông dân giống như một chiếc lá khô bị xé vụn giữa dòng nước lũ. Họ lao động cật lực nhưng rốt cuộc chỉ làm thuê cho chính mồ hôi của mình, chìm sâu vào vòng luẩn quẩn không lối thoát.

Chính vì thế, đời sống sinh hoạt của họ thu hẹp lại trong sự túng quẫn, kham khổ đến nghẹn ngào:

Sớm trura dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Bữa cơm đạm bạc chỉ có vài đắp dưa muối mặn mòi qua ngày. Thậm chí, những nét văn hóa tao nhã, những niềm vui nhỏ nhoi như miếng trầu, chén chè cũng bị gạt phăng đi vì sự túng thiếu. Sự tằn kiệm, chắt chiu tưởng chừng là đức tính cao đẹp nay lại trở thành một gánh nặng cay đắng khi đặt cạnh hiện thực phũ phàng:

Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Hai câu kết là tiếng nấc nghẹn ngào của nhà thơ. Câu hỏi tu từ lơ lửng giữa không trung, mang theo nỗi u hoài khôn tả về một tương lai mịt mờ, không lối thoát.

 Làm ruộng là minh chứng tuyệt đẹp cho tình yêu thương sâu nặng và tấm lòng nhân đạo cao cả mà Nguyễn Khuyến gửi gắm vào đất mẹ và con người Việt Nam.

Bài tham khảo Mẫu 14

Trong đời sống của người nông dân, có lẽ không gì gần gũi hơn đất và cũng không gì chứa đựng nhiều hy vọng hơn một mùa màng. Người ta cúi xuống gieo hạt giữa lòng đất, gửi vào đó mồ hôi, công sức và cả niềm tin giản dị rằng sau những tháng ngày nhọc nhằn, ruộng đồng sẽ trả lại một mùa no đủ. Thế nhưng, trong “Làm ruộng”, Nguyễn Khuyến lại đặt con người trước một nghịch cảnh đau lòng: làm ruộng quanh năm mà vẫn “chân thua”, sống “cần kiệm” mà vẫn chẳng thể “khỏi đường lo”. Đằng sau tám câu thơ ngắn gọn là cả một câu chuyện lớn về thân phận người nông dân trong xã hội cũ. Nhà thơ không khóc than thay họ bằng những lời bi thiết; ông chỉ để những sự thật đời thường lần lượt hiện ra. Và chính sự bình thản ấy làm nỗi buồn của bài thơ trở nên sâu hơn.

Câu thơ “Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua” ngay lập tức đặt ra một nghịch lý. “Mấy năm” là thời gian của sự bền bỉ; “làm ruộng” là công việc đòi hỏi sức lực và sự nhẫn nại; vậy mà kết quả lại là “chân thua”. Một người có thể nghèo trong một mùa vụ, nhưng nếu “mấy năm” vẫn nghèo thì cái nghèo ấy đã không còn là một tai nạn. Nó đã trở thành một hoàn cảnh bao vây lấy cuộc sống.

Đáng chú ý nhất là chữ “vẫn”. Chỉ một chữ thôi nhưng nó khiến thời gian trong câu thơ trở nên nặng nề. Thời gian đáng lẽ phải đưa con người đi về phía trước, nhưng ở đây lại chỉ làm nổi bật sự trì trệ của số phận. Mấy năm trôi qua, con người vẫn ở nguyên trong cái vòng luẩn quẩn của thiếu thốn. Nguyễn Khuyến vì thế không chỉ kể một mùa làm ăn thất bại mà còn gợi ra cảm giác bế tắc của một kiếp người.

Nguyên nhân trước mắt của cái nghèo được thể hiện qua câu:

“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

Người nông dân vốn sống dựa vào đất, nhưng đất lại không phải lúc nào cũng hào phóng. “Mất” được lặp lại hai lần, tạo cảm giác những mùa hy vọng cứ lần lượt rơi khỏi tay người lao động. Vụ chiêm mất, vụ mùa cũng mất. Một năm đi qua mà không có mùa nào đủ đầy. Nhịp câu đều đặn nhưng nội dung lại chất chứa sự bất thường: thời gian cứ tuần hoàn mà cuộc sống chẳng thể sinh sôi.

Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến không dừng lại ở chữ “mất mùa”. Nếu chỉ thất bát bởi thiên tai, người nông dân còn có thể hy vọng vào vụ sau. Nhưng ngay cả khi có chút thành quả, họ vẫn phải đối diện với những khoản phải trả:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Đây là hai câu thơ đặc biệt giàu giá trị hiện thực. Nhà thơ không dùng những khái niệm trừu tượng về đói nghèo mà đưa ra những khoản rất cụ thể. Thuế, nợ, tiền công, tiền thuê bò – những thứ ấy nối tiếp nhau như một chiếc lưới vây quanh người nông dân. Cấu trúc “phần... phần...” rồi “nửa... nửa...” khiến người đọc có cảm giác thành quả lao động cứ bị chia nhỏ mãi. Chưa kịp trở thành của cải, nó đã phải rời khỏi bàn tay người làm ra nó.

Đáng suy ngẫm hơn, câu thơ không chỉ phản ánh cái nghèo mà còn chỉ ra một nghịch lý của lao động: người làm ra sản phẩm chưa chắc là người được hưởng trọn thành quả của mình. Họ cày ruộng, gieo hạt, chăm lúa, nhưng sau cùng lại phải tính xem còn lại được bao nhiêu sau thuế, nợ và chi phí. Bởi thế, cái nghèo trong bài thơ không thể giản đơn quy về sự lười biếng hay kém cỏi. Nó là kết quả của một hoàn cảnh mà người lao động phải gánh quá nhiều sức ép.

Từ những con số của đồng ruộng, Nguyễn Khuyến đưa người đọc về một căn nhà nghèo:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Nếu “phần” và “nửa” ở hai câu trên nói về sự hao hụt của vật chất, thì “cho qua bữa” lại nói về sự thu hẹp của đời sống. Con người không còn ăn để thưởng thức, mà ăn để tồn tại. “Dưa muối” là món ăn dân dã, thân thuộc với làng quê, nhưng đặt cạnh “cho qua bữa”, nó mang một sắc thái khác: đó là biểu tượng của sự đạm bạc và thiếu thốn.

Đặc biệt, cụm từ “chẳng dám mua” khiến cái nghèo hiện ra không chỉ ở vật chất mà còn ở tâm lý. Một chén chè, một miếng trầu vốn chẳng phải thứ xa hoa. Vậy mà người nghèo cũng không dám mua. Họ phải sống bằng sự tự kiềm chế liên tục. Niềm vui bị cân đo bằng tiền bạc, và ngay cả một thú vui nhỏ cũng trở thành điều phải đắn đo.

Nhưng chính lúc ấy, Nguyễn Khuyến lại đưa vào bài thơ hai chữ đẹp nhất:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,”

“Cần kiệm” là phẩm chất của người lao động. Họ không hề buông xuôi. Họ làm việc và tiết chế. Họ biết quý từng đồng tiền, từng hạt gạo. Nhưng “thế mà không khá” – một chữ “mà” đủ tạo nên cả nghịch lý. Càng chăm chỉ, càng tiết kiệm, họ càng nhận ra mình vẫn chưa thể thoát khỏi cảnh nghèo.

Câu thơ có vẻ như một lời than nhẹ, nhưng thực chất là một câu hỏi có chiều sâu xã hội. Nếu cần cù và tiết kiệm vẫn không đủ để đổi lấy một cuộc sống bình yên, thì số phận người lao động đang phụ thuộc vào những điều gì? Câu hỏi ấy không được Nguyễn Khuyến trả lời trực tiếp. Ông để chính hiện thực trả lời.

Và rồi câu kết:

“Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

Đây là câu hỏi làm cả bài thơ lắng xuống. “Bao giờ” hướng về tương lai, nhưng tương lai không có hình dáng. Còn “khỏi đường lo” là một ước mơ hết sức nhỏ bé. Người nông dân không mơ giàu sang, không mơ cuộc sống xa hoa. Họ chỉ mong được sống mà không phải lo. Nhưng ngay cả một mong ước giản dị như vậy cũng trở nên xa xôi.

Cái tài của Nguyễn Khuyến là biến một tiếng hỏi đời thường thành một câu hỏi có sức vang lớn. Nó không còn chỉ là lời tự hỏi của một người làm ruộng. Nó là tiếng lòng của biết bao người lao động nghèo trong xã hội cũ. Và có lẽ, chính vì câu hỏi ấy không có câu trả lời nên dư âm của nó càng buồn.

Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi sự giản dị mà hàm súc. Nguyễn Khuyến đưa lời ăn tiếng nói của đời sống vào thơ, sử dụng những hình ảnh rất gần gũi: mùa chiêm, mùa vụ, thuế, nợ, dưa muối, trầu chè. Ông không trang sức cho cái nghèo bằng những hình ảnh cầu kỳ; ông để cái nghèo hiện ra nguyên vẹn trong đời sống. Phép điệp, phép đối, cách liệt kê và câu hỏi tu từ góp phần tạo nên nhịp thơ vừa tự nhiên vừa ám ảnh.

Nhưng vượt lên trên giá trị hiện thực, “Làm ruộng” còn là một bài thơ của lòng thương người. Nguyễn Khuyến không nhìn người nông dân như những bóng dáng mờ nhạt phía sau cánh đồng. Ông nhìn thấy ở họ sự cần cù, tiết kiệm, tự trọng; nhìn thấy nỗi lo của họ và cất tiếng nói thay cho họ. Nhà thơ không chỉ thương cái nghèo mà còn trân trọng phẩm chất của những con người trong nghèo khó.

“Làm ruộng” vì thế giống như một hạt thóc nhỏ: hình thức giản dị nhưng bên trong chứa cả một mùa đời. Đọc bài thơ, ta hiểu thêm rằng đằng sau mỗi hạt gạo là một câu chuyện về đất, trời và mồ hôi; đằng sau một bữa cơm bình thường là biết bao lo toan; và đằng sau một câu hỏi tưởng như rất riêng tư là tiếng vọng của cả một lớp người. Có lẽ giá trị lớn nhất của bài thơ chính là ở đó: Nguyễn Khuyến đã làm cho nỗi lo cơm áo của người nông dân trở thành một nỗi niềm có sức lay động lâu dài, để từ trang thơ, những con người nhỏ bé ấy không còn vô danh trước thời gian.

Bài tham khảo Mẫu 15

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến là một hồn thơ đặc biệt. Thơ ông có khi trong trẻo như một buổi thu quê, có khi hóm hỉnh mà thâm thúy, nhưng cũng có lúc lặng xuống bởi những nỗi lo rất đời, rất người. Nếu “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm” đưa người đọc về một làng quê Bắc Bộ thanh sơ, tĩnh tại thì “Làm ruộng” lại mở ra một bức tranh khác: làng quê hiện lên với những nhọc nhằn, thiếu thốn và nỗi lo cơm áo của người nông dân. Qua tám câu thơ giản dị mà đắng đót, Nguyễn Khuyến không chỉ kể chuyện làm ruộng mà còn gửi vào đó sự thấu hiểu sâu sắc đối với cuộc sống cơ cực của người dân quê.

Ngay từ hai câu mở đầu, nhà thơ đã đặt người đọc trước một nghịch cảnh tưởng như vô lý:

“Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.”

“Mấy năm làm ruộng” là cả một quãng thời gian dài gắn bó với đất đai, mồ hôi và công sức. Thế nhưng sau từng ấy năm, người nông dân vẫn “chân thua”, nghĩa là vẫn không thể có được một cuộc sống khấm khá. Cách nói dân dã khiến cái nghèo hiện ra không trừu tượng mà gần gũi, cụ thể. Đáng buồn hơn, mùa màng lại liên tiếp thất bát: “Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa”. Điệp từ “mất” như những nhát gõ liên tiếp vào cuộc sống vốn đã mong manh của người nông dân. Họ trông chờ vào ruộng đất để tồn tại, nhưng chính ruộng đất lại không thể đem đến cho họ một cuộc sống đủ đầy.

Nếu hai câu đầu nói về cái nghèo do thiên nhiên, mùa màng thì hai câu tiếp theo lại hé mở những gánh nặng đến từ cuộc sống xã hội:

“Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.”

Cấu trúc “phần... phần...”, “nửa... nửa...” khiến những khoản phải chi cứ nối tiếp nhau, trong khi thành quả lao động vốn đã ít ỏi. Thuế má, nợ nần, tiền thuê nhân công, thuê trâu bò – tất cả như những bàn tay vô hình lần lượt lấy đi thành quả của người nông dân. Họ làm lụng quanh năm nhưng chẳng mấy khi được hưởng thành quả từ chính công sức của mình. Đằng sau lời thơ tưởng như chỉ là một phép tính thu – chi, người đọc nhận ra một sự thật cay đắng: cái nghèo không đơn giản bắt nguồn từ sự lười biếng hay thiếu cần cù, mà còn do những gánh nặng kinh tế đè lên đôi vai người dân.

Đến hai câu luận, bức tranh cuộc sống càng trở nên xác xơ:

“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.”

Những món ăn “dưa muối” vốn rất đỗi dân dã nay trở thành biểu tượng của một cuộc sống chỉ đủ để “cho qua bữa”. Đặc biệt, cụm từ “chẳng dám mua” gợi một nỗi nghèo đã chạm đến tận cùng. Người ta không chỉ không có tiền để hưởng thụ mà còn phải dè sẻn từng đồng, đến những thức quà nhỏ bé như “trầu chè” cũng không dám mua. Nguyễn Khuyến không dùng những hình ảnh lớn lao mà chỉ lựa chọn những gì thân thuộc nhất của đời sống. Chính sự giản dị ấy lại khiến nỗi nghèo trở nên ám ảnh.

Đáng chú ý, hai câu cuối mang sắc thái vừa chua chát vừa xót xa:

“Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?”

“Cần kiệm” vốn là phẩm chất đáng quý của người Việt. Người nông dân đã làm lụng chăm chỉ, sống tiết kiệm, không hoang phí, vậy mà “không khá”. Câu hỏi tu từ “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” vang lên như một tiếng thở dài. Đó không chỉ là câu hỏi của riêng người làm ruộng mà dường như là tiếng lòng của biết bao người dân nghèo trong xã hội cũ. “Bao giờ” là một thời điểm không biết đến khi nào mới tới; còn “đường lo” lại gợi một vòng luẩn quẩn của cơm áo, nợ nần và bất an. Câu thơ vì thế khép lại bài thơ mà dư âm vẫn còn mở ra trong lòng người đọc.

Thành công của “Làm ruộng” trước hết nằm ở nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đời thường. Nguyễn Khuyến không cầu kỳ, không tô vẽ mà đưa thẳng vào thơ những hình ảnh rất đỗi dân gian: ruộng chiêm, ruộng mùa, thuế, nợ, dưa muối, trầu chè. Cách liệt kê tự nhiên cùng những cấu trúc đối xứng “phần... phần...”, “nửa... nửa...” khiến bài thơ giống như một lời kể chân thành về cuộc sống. Nhưng đằng sau cái giọng kể tưởng bình thản ấy là một nỗi xót xa sâu sắc.

“Làm ruộng” vì thế không chỉ là bài thơ viết về cái nghèo. Đó còn là bài thơ về phẩm giá của người lao động: họ cần cù, tiết kiệm, chịu thương chịu khó nhưng vẫn không thể thoát khỏi cảnh túng thiếu. Đồng thời, qua cái nhìn đầy cảm thông ấy, ta thấy được một Nguyễn Khuyến gần gũi với nhân dân, đau cùng cái đau của quê hương và nhạy cảm trước những nghịch cảnh của đời sống.

Khép lại bài thơ, câu hỏi “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” vẫn ngân lên như một tiếng thở dài giữa đồng quê. Có lẽ điều làm “Làm ruộng” sống lâu trong lòng người đọc không phải những lời than vãn dữ dội, mà chính là sự chân thành. Nguyễn Khuyến đã để cho cái nghèo tự cất tiếng nói bằng những hình ảnh nhỏ bé của đời thường. Và từ những “dưa muối”, “trầu chè”, từ những mùa chiêm mùa vụ thất bát, nhà thơ đã dựng nên cả một thế giới mà ở đó, mồ hôi của người lao động nhiều khi vẫn không đủ đổi lấy một ngày mai bình yên. Đó chính là giá trị nhân văn bền vững của bài thơ.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close