Viết bài văn bàn luận về nhận định "Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi… " . Hãy làm rõ ánh sáng riêng mà tác phẩm Mẹ (Viễn Phương) đã soi rọi vào tâm hồn em

I. Mở bài Dẫn dắt: Đi từ bản chất của nghệ thuật — một cuộc viễn du đi tìm sự đồng điệu tâm hồn và khả năng thức tỉnh con người của văn chương.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

Dẫn dắt: Đi từ bản chất của nghệ thuật — một cuộc viễn du đi tìm sự đồng điệu tâm hồn và khả năng thức tỉnh con người của văn chương.

Nêu vấn đề: Trích dẫn ý kiến của Nguyễn Đình Thi: "Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi…"

Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ Mẹ của Viễn Phương chính là một "ánh sáng riêng" diệu kỳ như thế, rọi chiếu vào chốn sâu thẩm nhất của tình mẫu tử bao la và thức tỉnh đạo làm con trong mỗi người.

II. Thân bài

1. Giải thích nhận định của Nguyễn Đình Thi

"Ánh sáng riêng": Là giá trị tư tưởng, tình cảm, là cái hay, cái đẹp độc đáo mà nhà văn gửi gắm vào tác phẩm. Ánh sáng ấy mang tính phát hiện, soi chiếu vào những khoảng tối, những góc khuất hay những giá trị cao quý trong tâm hồn con người.

"Không bao giờ nhòa đi": Sức sống bền bỉ của nghệ thuật chân chính; thứ ánh sáng không bị giam cầm bởi thời gian, có khả năng khắc sâu vào tâm trí, biến đổi và nuôi dưỡng nhân cách con người qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa chung: Ý kiến khẳng định thiên chức cao quý của văn học: không chỉ phản ánh đời sống mà quan trọng hơn là nâng đỡ, thanh lọc và bồi đắp tâm hồn con người bằng những giá trị nhân văn cao đẹp.

2. Phân tích bài thơ Mẹ của Viễn Phương để làm rõ "ánh sáng riêng"

Lớp ánh sáng thứ nhất: Khái quát bức chân dung người mẹ với sự hy sinh thầm lặng, thanh cao

Khổ 1: Khởi nguồn từ lời ru và hình ảnh hoa sen — biểu tượng của sự thuần khiết, bao nãm âm thầm tỏa hương giữa đất trời.

Khổ 2: Sự so sánh trực tiếp "Mẹ nghèo như đoá hoa sen". Mẹ nghèo vật chất nhưng giàu tình yêu thương. Hình ảnh "giọt máu hoà theo dòng lệ" cùng cụm từ "âm thầm lặng lẽ" diễn tả sự vắt kiệt ruột gan, hy sinh dâng trọn "hương đời" cho con.

Lớp ánh sáng thứ hai: Ánh sáng của sự đối lập xót xa giữa sự lớn khôn của con và sự tàn gầy của mẹ

Khổ 3: Nghệ thuật tương phản triệt để: Con trở thành "đoá hoa thơm" đối lập với "đời mẹ lắt lay chiếc bóng"; "Con đi… chân trời gió lộng" (tương lai rộng mở) đối lập với "Mẹ về… nắng quái chiều hôm" (sự cạn kiệt của kiếp người).

Nhịp thơ gãy khúc, dấu chấm ba chấm như nốt lặng chứa đựng niềm xót xa, chua xát trước quy luật nghiệt ngã của thời gian.

Lớp ánh sáng thứ ba: Sự trường tồn của tình mẫu tử và sự bất tử hóa hình ảnh người mẹ

Khổ 4: Hình ảnh "Sen tàn rồi sen lại nở" ngụ ý quy luật tuần hoàn của thiên nhiên, đối lập với sự ra đi vĩnh viễn của mẹ ("người lìa xa cõi đời").

Hình ảnh so sánh kết bài "Mẹ thành ngôi sao trên trời": Sự hóa thân vĩnh hằng. Mẹ không mất đi mà trở thành vì sao soi đường, dõi theo từng bước chân con, hóa thành bất tử trong không gian và trong trái tim con.

3. Đánh giá, tổng kết

Giá trị nghệ thuật: Thể thơ tự do linh hoạt, nhịp điệu tha thiết, hình ảnh so sánh - ẩn dụ giàu tính biểu tượng (hoa sen, ngôi sao, nắng quái), ngôn từ giản dị mà đắt giá.

Tác động tâm hồn: Bài thơ không chỉ là khúc ca thanh cao về tình mẹ mà còn là tấm gương soi chiếu đạo làm con, thức tỉnh sự tri ân và nhắc nhở mỗi người biết trân trọng từng phút giây bên mẹ.

III. Kết bài

Khẳng định lại giá trị ý kiến của Nguyễn Đình Thi và sức sống của bài thơ Mẹ.

Đong đầy cảm xúc cá nhân về thứ "ánh sáng riêng" sẽ luôn đồng hành trên mọi chặng đường đời.

Bài siêu ngắn Mẫu

Văn học chân chính luôn mang thiên chức thanh lọc và thức tỉnh tâm hồn. Đúng như nhà văn Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi…”. Ánh sáng ấy chính là tư tưởng, tình cảm sâu sắc mà tác giả gửi gắm, có sức lay động mãnh liệt và trường tồn cùng thời gian. Bài thơ Mẹ của Viễn Phương chính là một nguồn sáng thiêng liêng như thế, rọi chiếu trọn vẹn vẻ đẹp cao cả của tình mẫu tử.

Ánh sáng riêng ấy trước hết tỏa ra từ bức chân dung người mẹ hy sinh thầm lặng. Mượn hình ảnh hoa sen thanh khiết cùng lời ru ngọt ngào, tác giả khắc họa một đời mẹ nghèo khó nhưng dạt dào yêu thương: “Giọt máu hoà theo dòng lệ / Hương đời mẹ ướp cho con”. Mẹ chấp nhận vắt kiệt ruột gan, đánh đổi tuổi xuân để chắt chiu những gì tốt đẹp nhất nuôi con khôn lớn. Nguồn sáng ấy còn soi thấu sự đối lập xót xa giữa hai thế hệ: khi con trở thành “đoá hoa thơm” kiêu hãnh vươn ra “chân trời gió lộng”, cũng là lúc mẹ cô đơn gầy gộc như “nắng quái chiều hôm”.

Dẫu quy luật sinh tử nghiệt ngã khiến mẹ phải “lìa xa cõi đời”, hình ảnh mẹ không hề tan biến vào hư vô mà đã “thành ngôi sao trên trời”. Tình mẫu tử vượt thoát khỏi giới hạn của kiếp người để trở thành sự tồn tại vĩnh hằng, đòn đong đầy tình yêu dõi theo từng bước chân con.

Bằng ngôn từ giản dị, hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi cùng giọng thơ tha thiết, Viễn Phương đã gieo vào lòng đọc giả một thứ ánh sáng thức tỉnh. Ánh sáng ấy nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân trọng, tri ân tình mẹ khi còn có thể. Những vần thơ dẫu khép lại nhưng vầng sáng nhân văn ấy vẫn sẽ vĩnh viễn rọi chiếu, "không bao giờ nhòa đi" trong tâm khảm mỗi người.

Bài tham khảo Mẫu 1

Văn học chân chính chưa bao giờ là những đường nét vô hồn trên trang giấy phẳng, mà là nhịp đập phập phồng của con tim, là dòng chảy tư tưởng cuộn trào qua từng tầng kiến trúc ngôn từ. Nghệ thuật sinh ra không phải để ru ngủ con người trong những mộng tưởng hoang đường, mà để thức tỉnh, soi rọi vào chốn sâu thẫm nhất của tâm hồn. Bàn về thiên chức kỳ diệu ấy, trong tác phẩm Tiếng nói văn nghệ, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng đúc kết thật tinh tế: "Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi…" Giữa không gian bao la của vần thơ Việt Nam, bài thơ Mẹ của nhà thơ Viễn Phương chính là một thứ "ánh sáng riêng" đầy thiêng liêng như thế, thứ ánh sáng dịu nhẹ nhưng có sức xuyên thấu mãnh liệt, rọi soi vào chốn thâm nghiêm của tình mẫu tử và làm bừng sáng đạo lý nhân sinh trong tâm khảm mỗi con người.

Lời nhận định của Nguyễn Đình Thi đã chạm vào quy luật tồn tại cốt lõi của nghệ thuật ngôn từ. "Ánh sáng riêng" chính là cái thần, cái hồn, là thế giới tư tưởng, tình cảm độc đáo mà mỗi người nghệ sĩ gửi gắm vào sáng tác của mình. Đó không phải là thứ ánh sáng chói lọi của tự nhiên, mà là thứ ánh sáng phát ra từ trí tuệ và tâm hồn thi sĩ, có khả năng chiếu tỏ những góc khuất giấu kín, nâng đỡ những giá trị cao quý và thanh lọc mọi bụi mặn của đời thường. Thứ ánh sáng ấy "không bao giờ nhòa đi", bởi nó mang sức sống vượt qua sự tàn phá của thời gian, gieo vào lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc, trở thành điểm tựa tinh thần vĩnh hằng. Khẳng định của Nguyễn Đình Thi vì thế chính là lời tôn vinh sức mạnh cảm hóa diệu kỳ của tác phẩm văn học lớn, nơi ngôn từ biến thành năng lượng thức tỉnh nhận thức và nuôi dưỡng tâm hồn.

Tìm về với bài thơ Mẹ của Viễn Phương, người đọc như được bước vào vùng sáng thiêng liêng ấy, nơi tình mẫu tử hiện lên vừa mộc mạc, bình dị lại vừa cao cả đến vô cùng. Ngay từ những vần thơ mở đầu, nhà thơ đã dẫn dắt tâm hồn ta trở về với miền ký ức ngọt ngào qua lời ru của mẹ:

Con nhớ ngày xưa mẹ hát:

 ...“Hoa sen lặng lẽ dưới đầm

Hương hoa dịu dàng bát ngát

Thơm tho không gian, thời gian”...

Khổ thơ mở ra một không gian hoài niệm mênh mông, nơi lời ru ngân nga vang vọng qua chiều dài năm tháng. Lời hát ru của mẹ mượn hình ảnh hoa sen — loài hoa vốn dĩ mang vẻ đẹp khiêm nhường nhưng thanh khiết, tỏa hương thơm ngát giữa bùn lầy. Bằng việc lồng ghép ca dao, vần thơ không chỉ tái hiện một không gian văn hóa quen thuộc mà còn khéo léo gieo vào lòng người đọc cảm nhận ban đầu về vẻ đẹp của mẹ. Hoa sen ấy tỏa hương "dịu dàng bát ngát", làm "thơm tho không gian, thời gian", cũng giống như sự tồn tại của mẹ giữa cuộc đời: âm thầm, lặng lẽ nhưng đong đầy dưỡng chất tinh thần nuôi dưỡng con lớn khôn.

Từ hình ảnh hoa sen trong lời ru, Viễn Phương đã thực hiện một bước chuyển liên tưởng đầy xúc động để soi chiếu trực tiếp vào cuộc đời thực tại của mẹ:

Mẹ nghèo như đoá hoa sen

Tháng năm âm thầm lặng lẽ,

Giọt máu hoà theo dòng lệ

Hương đời mẹ ướp cho con.

Phép so sánh "Mẹ nghèo như đoá hoa sen" mang một sức gợi hình, gợi cảm sâu sắc. Mẹ nghèo về vật chất, cuộc đời mẹ lắm gian truân, nhưng tấm lòng mẹ thì ngát hương như hoa sen giữa đầm. Cụm từ "âm thầm lặng lẽ" khắc họa trọn vẹn sự hy sinh thầm lặng, không phô trương, không đòi hỏi đáp đền. Xót xa biết bao khi nhà thơ gọi sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ là "Giọt máu hoà theo dòng lệ". Tình yêu của mẹ không dừng lại ở những chăm bẵm thông thường, đó là sự vắt kiệt ruột gan, là sự đánh đổi bằng cả máu, mồ hôi và nước mắt. Mẹ đã tự nguyện thu nhận mọi đắng cay của kiếp người để chắt chiu, tinh lọc thành "hương đời" ngọt ngào nhất "ướp cho con". Chữ "ướp" được dùng thật đắt, bởi nó diễn tả sự thấm sâu, quyện chặt của tình mẹ vào vóc dáng, tâm hồn và tương lai của đứa con.

Thế nhưng, sự lớn lên của con lại tỉ lệ nghịch với sức lực của mẹ. Khổ thơ thứ ba mở ra một khoảng không gian đối lập nhói lòng, nơi ánh sáng văn chương rọi chiếu vào sự thật nghiệt ngã của quy luật thời gian:

Khi con thành đoá hoa thơm

Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,

Con đi… chân trời gió lộng

Mẹ về… nắng quái chiều hôm.

Hai dòng thơ đầu là sự tương phản xót xa: ngày "con thành đoá hoa thơm", ngát hương giữa cuộc đời cũng là lúc "đời mẹ lắt lay chiếc bóng". Bối cảnh ấy khiến người đọc không khỏi giật mình thán phục trước sự hy sinh vô bờ bến. Mẹ đã rút hết nhựa sống của đời mình để vun đắp cho con trở thành hoa thơm trái ngọt. Đến hai dòng thơ sau, sự tương phản được đẩy lên nấc thang cao nhất bằng nghệ thuật tiểu đối và các nhịp ngắt đầy thổn thức. Hình ảnh "Con đi… chân trời gió lộng" mở ra một tương lai rộng lớn, thênh thang, tràn đầy hoài bão; đối lập hoàn toàn với "Mẹ về… nắng quái chiều hôm" — thứ ánh sáng yếu ớt, gắt gỏng cuối ngày, báo hiệu sự cạn kiệt của một kiếp người. Dấu chấm ba chấm đặt giữa các vế câu như những nốt lặng xót xa, tái hiện khoảnh khắc đứa con ngoảnh lại nhìn bóng mẹ cô đơn, xiêu vẹo trong buổi hoàng hôn của đời người.

Quy luật sinh tử là điều không ai có thể tránh khỏi, và khổ thơ cuối cùng đã khép lại bài thơ bằng một nốt trầm vừa đau thương vừa bất tử:

Sen đã tàn sau mùa hạ

Mẹ cũng lìa xa cõi đời,

Sen tàn rồi sen lại nở

Mẹ thành ngôi sao trên trời.

Hoa sen tuân theo quy luật của thiên nhiên, "tàn sau mùa hạ" để rồi "lại nở" khi mùa mới sang. Mẹ cũng theo quy luật nhân sinh mà "lìa xa cõi đời". Thế nhưng, sự ra đi của mẹ không phải là sự mất đi vĩnh viễn, không phải là hư vô. Bằng sự hóa thân kỳ diệu của ngôn từ nghệ thuật, Viễn Phương đã nâng sự ra đi ấy lên thành một biểu tượng bất tử: "Mẹ thành ngôi sao trên trời". Từ bông hoa sen khiêm nhường dưới đầm lầy, mẹ đã hóa thành ngôi sao lung linh trên bầu trời bao la. Ngôi sao ấy sẽ không bao giờ tắt, vẫn đêm đêm dõi theo từng bước chân con, soi đường chỉ lối cho con giữa muôn vàn gập ghềnh của cuộc đời. Mẹ đã vượt thoát khỏi giới hạn của một kiếp người ngắn ngủi để trở thành sự tồn tại vĩnh hằng trong vũ trụ và trong tâm khảm người con.

Bằng thể thơ tự do linh hoạt, ngôn từ bình dị mà giàu sức gợi, nhịp điệu tha thiết cùng nghệ thuật ẩn dụ, so sánh đầy tinh tế, bài thơ Mẹ của Viễn Phương đã thực sự tạo nên một "ánh sáng riêng" rọi chiếu vào lòng người đọc. Ánh sáng ấy không làm ta chói mắt, mà vỗ về, thẩm thấu, đọng lại thành những nốt nhạc trầm sâu lắng về tình mẫu tử thiêng liêng.

Nhìn lại nhận định của Nguyễn Đình Thi, ta càng thêm trân trọng những giá trị mà bài thơ Mẹ mang lại. Tác phẩm đã hoàn thành xuất sắc thiên chức của một tác phẩm văn học lớn: không chỉ tái hiện hiện thực mà còn thanh lọc tâm hồn con người. Ánh sáng riêng từ bài thơ đã thức tỉnh trong mỗi chúng ta tình yêu thương, sự tri ân sâu sắc đối với đấng sinh thành, nhắc nhở ta phải biết nâng niu, trân trọng từng phút giây còn được sống trong vòng tay mẹ. Thời gian có thể làm hoen gỉ kim loại, có thể san bằng những thành quách kiên cố, nhưng thứ ánh sáng nhân văn mà Viễn Phương gieo vào trang sách sẽ mãi mãi "không bao giờ nhoà đi", vẫn luôn lung linh như ngôi sao mẹ trên bầu trời, soi sáng chặng đường trưởng thành của bao thế hệ độc giả.

Bài tham khảo Mẫu 2

Đọc một tác phẩm nghệ thuật, ta đôi khi có cảm giác như đứng trước một bến đò gió thổi, trào dâng một khao khát muốn sang sông, một lực đẩy vô hình nâng tâm hồn ta lên những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn. Làm được điều kỳ diệu ấy chỉ có thể là sức mạnh vĩ đại của văn chương chân chính. Bàn về khả năng thức tỉnh và nuôi dưỡng tâm hồn con người của nghệ thuật ngôn từ, trong tác phẩm Tiếng nói văn nghệ, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một thứ ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”. Lời nhận định ấy đã chạm vào quy luật vận động chiều sâu của văn học, và khi tìm về bài thơ Mẹ của Viễn Phương, người đọc càng nhận ra thứ ánh sáng diệu kỳ kết tinh từ tình mẫu tử thiêng liêng ấy.

Một tác phẩm lớn không nhất thiết phải đồ sộ về dung lượng, mà lớn ở tư tưởng, ở tình cảm và ở chiều sâu nhân đạo mà nó chứa đựng. Chiếc chìa khóa nghệ thuật ấy giải phóng một thứ “ánh sáng riêng”, đó là tư tưởng thẩm mỹ độc đáo, là “tạng tâm hồn” không thể trộn lẫn của người nghệ sĩ. So sánh tác phẩm văn học với ánh sáng là một liên tưởng đầy sức gợi. Ánh sáng mang lại tri thức, sưởi ấm tâm hồn và xua tan đi những vùng tối tăm, mù quáng. Thứ ánh sáng ấy không bao giờ nhòa đi bởi nó được sinh ra từ nhiệt độ của một trái tim biết đau đớn và tha thiết với cuộc đời, vượt qua mọi sự dâu bể của thời gian để tồn tại vĩnh hằng. Tuy nhiên, ánh sáng ấy sẽ chỉ là một vệt sáng băng qua không gian nếu không có quá trình tiếp nhận từ người đọc. Khi độc giả mở lòng soi chiếu mình vào trang sách, văn học không còn là chữ nghĩa nằm yên trên giấy mà đã đồng hóa vào dòng máu, vào nhịp đập tâm hồn. Từ đó, ánh sáng ấy biến thành của ta, chiếu tỏa lên mọi việc ta sống, mọi con người ta gặp, làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ, giúp con người hướng về cái cao cả và biết sống nhân văn hơn.

Đến với bài thơ Mẹ của Viễn Phương, người đọc không bắt gặp những ngôn từ đèo heo hút gió hay những cấu trúc nghệ thuật tân kỳ, mà bị chinh phục bởi thứ ánh sáng êm dịu, nghẹn ngào nhưng có sức xuyên thấu mãnh liệt: ánh sáng của tình mẫu tử thầm lặng và sự thức tỉnh sâu sắc. Ánh sáng nghệ thuật trong bài thơ bắt đầu từ câu hát ru của mẹ ngày xưa:

“Con nhớ ngày xưa mẹ hát:

...“Hoa sen lặng lẽ dưới đầm

Hương hoa dịu dàng bát ngát

Thơm tho không gian, thời gian”...

Mẹ nghèo như đoá hoa sen

Tháng năm âm thầm lặng lẽ,

Giọt máu hoà theo dòng lệ

Hương đời mẹ ướp cho con.”

Hình ảnh hoa sen “lặng lẽ dưới đầm” tỏa hương dịu dàng đã đánh thức trong ta nhận thức về những vẻ đẹp âm thầm. Để rồi, từ câu hát ru, tác giả bật lên sự so sánh xót xa: “Mẹ nghèo như đoá hoa sen / Tháng năm âm thầm lặng lẽ”. Mẹ nghèo vật chất, nhưng lại giàu có đến vô tận tình thương. Tình yêu của mẹ không ồn ào, phô trương, mà ẩn nhẫn như sen ngâm mình dưới bùn đen để dâng cho đời những cánh hoa thơm ngát. Việc vắt cạn thể xác và tinh thần “giọt máu” và “dòng lệ” để đúc kết thành “hương đời” nuôi con khôn lớn đã giội vào tâm trí độc giả một luồng sáng chấn động, buộc ta phải khựng lại để nhận ra đằng sau sự trưởng thành nhẹ nhàng của mình là cả một đại dương hy sinh âm thầm của mẹ.

Không dừng lại ở đó, thứ ánh sáng từ bài thơ còn đẩy lên thành một sự thức tỉnh lay động tâm khảm khi hai quỹ đạo sống của mẹ và con được đặt trong sự đối lập cay đắng:

“Khi con thành đoá hoa thơm

Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,

Con đi… chân trời gió lộng

Mẹ về… nắng quái chiều hôm.”

Nghệ thuật tương phản được Viễn Phương sử dụng đến mức nhói lòng. Khi con thành đóa hoa thơm, gặt hái thành công giữa cuộc đời, thì cũng là lúc đời mẹ lắt lay chiếc bóng. Nhịp thơ phân đôi cùng dấu chấm động như một khoảng hẫng của cảm xúc, một tiếng thở dài xót xa. Chân trời của con rộng mở với “gió lộng” của hoài bão và thanh xuân; còn lối về của mẹ chỉ còn “nắng quái chiều hôm” — thứ ánh sáng yếu ớt, gắt gỏng cuối ngày báo hiệu một sự lụi tàn không thể đảo ngược. Chính câu thơ này đã rọi ánh sáng vào cái vùng tối vô tâm trong mỗi con người. Ta thường mải mê đuổi theo những chân trời gió lộng, đuổi theo danh vọng và những vùng đất mới mà quên mất rằng ở quê nhà, mẹ đang âm thầm kiệt cùng theo tháng năm. Bài thơ đã làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, khiến ta không nhìn sự trưởng thành của mình bằng sự kiêu hãnh đơn thuần nữa, mà nhìn bằng sự giật mình ân hận, bằng lòng biết ơn xót xa trước bóng lưng dần còng xuống của mẹ.

Chiếu tỏa đến chặng cuối của kiếp người, bài thơ không khép lại trong sự tuyệt vọng, mà nâng đỡ tâm hồn độc giả bằng một thứ ánh sáng vĩnh hằng và bất tử:

“Sen đã tàn sau mùa hạ

Mẹ cũng lìa xa cõi đời,

Sen tàn rồi sen lại nở

Mẹ thành ngôi sao trên trời.”

Theo quy luật tự nhiên, sen tàn sau mùa hạ, và theo quy luật kiếp người, mẹ cũng lìa xa cõi đời. Sự thật nghiệt ngã ấy tưởng như nhấn chìm tất cả vào bóng tối của đau thương, nhưng Viễn Phương đã thắp lên một đốm sáng thần kỳ. Mẹ không mất đi, sự ra đi của mẹ chỉ là một sự hóa thân. Mẹ rời bỏ cõi tạm để trở thành “ngôi sao trên trời”, một sinh thể của ánh sáng, vĩnh hằng và cao cả. Đứng từ bầu trời cao rộng, mẹ vẫn dõi theo từng bước chân của con, soi đường chỉ lối cho con giữa cuộc đời dông bão. Thứ ánh sáng ấy giờ đây thực sự biến thành của ta, trở thành điểm tựa tinh thần, thành thước đo đạo đức để mỗi khi vấp ngã hay đi sai đường, ta ngước lên bầu trời tâm hồn và biết mình phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Bài thơ Mẹ của Viễn Phương chính là một tác phẩm lớn được dệt nên từ những điều giản dị nhất. Bằng thể thơ tự do tha thiết, hình ảnh so sánh giàu tính biểu tượng và nhịp điệu nghẹn ngào, bài thơ đã phát ra một thứ ánh sáng riêng không bao giờ nhòa đi, bởi tình mẫu tử là nhân tố cốt lõi của bản thể con người vượt qua mọi giới hạn thời gian. Khi tiếp nhận tác phẩm, ánh sáng ấy đã chuyển hóa vào trong chính chúng ta, làm cho mắt ta nhìn đời sống dịu dàng hơn, biết trân trọng những phút giây còn có mẹ, và óc ta nghĩ sâu sắc hơn, biết sống vị tha và trách nhiệm hơn.

Lời khẳng định của Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trọn vẹn sức mạnh và chức năng cao cả nhất của văn học chân chính. Trải qua thời gian, những giá trị vật chất rồi sẽ bám bụi hay biến mất, nhưng thứ ánh sáng riêng từ các tác phẩm văn học lớn như bài thơ Mẹ sẽ mãi mãi soi rọi trong tâm khảm các thế hệ độc giả. Nó nhắc nhở ta rằng, giữa thế giới cuồn cuộn đổi thay và lắm gian dối, vẫn có một thứ ánh sáng vĩnh cửu cứu rỗi tâm hồn con người, giúp ta biết yêu thương sâu sắc hơn mọi việc chúng ta sống, mọi con người chúng ta gặp trên chặng đường đời.

Bài tham khảo Mẫu 3

Có những cuốn sách khép lại, cốt truyện rồi sẽ nhạt dần theo năm tháng; có những bài thơ đọc xong, câu chữ cũng có thể mờ đi trong trí nhớ. Thế nhưng vẫn có những tác phẩm, dù thời gian có phủ lên bao lớp bụi mờ, vẫn lặng lẽ tỏa sáng trong tâm hồn người đọc như một ngọn đèn không bao giờ tắt. Ánh sáng ấy không đến để làm người ta choáng ngợp, mà âm thầm sưởi ấm trái tim, mở rộng tầm mắt và nâng đỡ con người bước qua những giới hạn của chính mình. Bởi thế, Nguyễn Đình Thi đã từng viết trong Tiếng nói văn nghệ: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi…”. Đó không chỉ là một cách nói giàu hình tượng mà còn là một quan niệm sâu sắc về sức mạnh của văn học. Một tác phẩm chân chính không dừng lại ở việc kể một câu chuyện, bộc lộ một cảm xúc hay phản ánh một hiện thực, mà còn gieo vào tâm hồn con người một nguồn sáng của chân – thiện – mỹ, khiến người đọc sau khi gấp trang sách lại không còn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt cũ nữa. Đến với bài thơ Mẹ của Viễn Phương, ta bắt gặp một thứ ánh sáng dịu dàng như hương sen trong đêm, trong trẻo như vì sao cuối trời và bền bỉ như tình mẫu tử. Đó là ánh sáng của sự hi sinh vô điều kiện, của đức yêu thương lặng lẽ và của những giá trị vĩnh hằng mà mỗi người chỉ thật sự thấu hiểu khi biết nhìn lại hành trình lớn lên của chính mình.

Từ lâu, ánh sáng luôn là biểu tượng của sự sống, của niềm tin và của nhận thức. Nơi nào có ánh sáng, nơi ấy bóng tối được xua tan; nơi nào có ánh sáng, nơi ấy con người tìm thấy con đường để bước tiếp. Khi ví mỗi tác phẩm lớn như một “ánh sáng riêng”, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định chức năng cao đẹp của văn chương. Nghệ thuật chân chính không áp đặt chân lí bằng những lời giáo huấn khô khan mà đánh thức nhận thức bằng cảm xúc, làm lay động trái tim trước khi soi sáng lí trí. Chính bởi đi vào con người bằng con đường của cảm xúc nên những điều văn học đem lại không hề chóng quên. Ánh sáng ấy len lỏi vào từng góc khuất của tâm hồn, đánh thức những điều đẹp đẽ vốn đang ngủ yên, giúp con người biết yêu thương hơn, biết đau với nỗi đau của người khác, biết sống có trách nhiệm hơn với bản thân và cuộc đời. Mỗi tác phẩm lại mang một “ánh sáng riêng” bởi mỗi nhà văn là một thế giới tâm hồn độc đáo, mỗi trái tim nghệ sĩ lại tìm thấy một vẻ đẹp khác nhau của cuộc sống để gửi gắm vào trang viết. Có tác phẩm soi sáng lòng yêu nước, có tác phẩm đánh thức khát vọng tự do, có tác phẩm khơi dậy niềm tin vào phẩm giá con người. Cũng có những bài thơ chỉ lặng lẽ viết về một người mẹ bình dị, song lại đủ sức khiến bao thế hệ độc giả cúi đầu trong niềm biết ơn vô hạn.

Nguyễn Du từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Đằng sau mọi tác phẩm lớn luôn là một trái tim lớn. Chỉ khi người nghệ sĩ sống hết mình với con người, đau những nỗi đau của con người và yêu những điều đáng yêu của cuộc đời thì trang viết mới mang trong mình sức mạnh cảm hóa. Victor Hugo từng gửi gắm trong lời tựa Những người khốn khổ rằng chừng nào con người còn khổ đau thì cuốn sách của ông vẫn còn có ích. Thạch Lam cũng từng khẳng định văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực để làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn. Những quan niệm ấy gặp gỡ Nguyễn Đình Thi ở một điểm chung: giá trị lớn nhất của văn học nằm ở khả năng cải hóa tâm hồn con người. Một bài thơ chỉ thực sự sống lâu khi sau mỗi lần đọc, người đọc lại khám phá thêm một điều mới về cuộc đời và về chính bản thân mình.

Bài thơ Mẹ của Viễn Phương chính là một tác phẩm mang thứ ánh sáng như thế. Không có những câu thơ cầu kì, không xây dựng những hình tượng đồ sộ, nhà thơ chỉ kể lại những lát cắt rất đỗi bình dị của một đời mẹ. Song càng bình dị, bài thơ càng chạm đến tầng sâu nhất của cảm xúc. Ánh sáng mà tác phẩm đem đến không phải là sự choáng ngợp của những tư tưởng lớn lao, mà là ánh sáng của những điều gần gũi đến mức con người nhiều khi vô tình quên mất. Đọc bài thơ, ta bỗng nhận ra rằng phía sau mỗi bước trưởng thành của người con luôn có bóng dáng một người mẹ đang lặng lẽ già đi. Phía sau mỗi thành công luôn là bao tháng năm hi sinh không lời. Và phía sau một cuộc đời bình yên của con là biết bao giọt nước mắt, bao giọt máu, bao nỗi nhọc nhằn mà mẹ đã âm thầm giữ lại cho riêng mình.

Mở đầu bài thơ là dòng hồi ức được khơi lên từ tiếng hát của mẹ:

Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
...“Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian”...

Không gian nghệ thuật mở ra bằng một chữ “nhớ”. Đó không chỉ là kí ức của một người con đã trưởng thành mà còn là điểm khởi đầu của cả hành trình trở về với cội nguồn yêu thương. Điều còn đọng lại trong trí nhớ không phải những lời dạy bảo nghiêm khắc, cũng chẳng phải những hi sinh được kể thành lời, mà là tiếng hát của mẹ. Tiếng hát ấy mang theo hình ảnh hoa sen – loài hoa đã đi vào tâm hồn dân tộc như biểu tượng của vẻ đẹp thanh khiết, bền bỉ và nhân hậu. Không phải ngẫu nhiên Viễn Phương để người mẹ cất tiếng hát về sen trước khi viết về chính cuộc đời mình. Sen chính là hình bóng của mẹ, còn lời ru chính là con đường đầu tiên đưa vẻ đẹp của mẹ đi vào tâm hồn đứa con từ thuở nằm nôi.

Tiếng hát của mẹ không chỉ là âm thanh ru con ngủ mà còn là bài học đầu tiên về nhân cách. Trong lời ru ấy, hoa sen hiện lên với vẻ đẹp "lặng lẽ dưới đầm", tỏa hương "dịu dàng bát ngát", "thơm tho không gian, thời gian". Cách diễn đạt của Viễn Phương khiến hương sen vượt khỏi giới hạn của một loài hoa để trở thành hương thơm của phẩm giá, của sự thanh sạch và của những giá trị vĩnh cửu. Hương ấy không chỉ lan trong không gian mà còn lan trong thời gian, nghĩa là vẻ đẹp ấy sẽ không bị năm tháng làm phai mờ. Đó cũng chính là vẻ đẹp của người mẹ. Có những con người không bao giờ đứng giữa ánh hào quang, không bao giờ nói về những hi sinh của mình, chỉ lặng lẽ sống như bông sen trong bùn đất, âm thầm dâng hiến tất cả những gì tinh khiết nhất cho cuộc đời. Từ hình tượng hoa sen trong lời ru, Viễn Phương đã gieo vào tâm hồn người đọc một thứ "ánh sáng riêng": vẻ đẹp đích thực không nằm ở sự rực rỡ bên ngoài mà nằm ở khả năng giữ gìn tâm hồn thanh sạch giữa bao nhọc nhằn của cuộc sống.

Nếu khổ thơ đầu là miền kí ức trong trẻo thì khổ thơ thứ hai mở ra chân dung người mẹ bằng những nét chấm phá đầy ám ảnh:

Mẹ nghèo như đoá hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hoà theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.

Nhà thơ không ví mẹ với vầng trăng, biển cả hay những hình tượng lớn lao thường gặp trong thơ ca mà chỉ so sánh mẹ với "đóa hoa sen". Hình ảnh ấy vừa tiếp nối mạch cảm xúc từ lời ru, vừa tạo nên một vòng tròn nghệ thuật khép kín. Hoa sen vốn sinh ra từ bùn lầy nhưng không mang mùi bùn, người mẹ cũng lớn lên từ nghèo khó, lam lũ nhưng chưa bao giờ để những cơ cực ấy làm vẩn đục nhân cách hay tình yêu dành cho con. Chỉ một chữ "nghèo" đặt cạnh "hoa sen" đã gợi lên biết bao xót xa. Đó là cuộc đời thiếu thốn vật chất, là những tháng ngày cơm áo chật vật, là những hi sinh không tên mà người mẹ nén lại sau nụ cười hiền hậu.

Đặc biệt, hai câu thơ:

Giọt máu hoà theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.

là nơi ánh sáng của bài thơ bừng lên mạnh mẽ nhất. "Giọt máu" là sự hi sinh của thể xác, là những nhọc nhằn đến kiệt cùng. "Dòng lệ" là nỗi đau tinh thần, là bao lần mẹ lặng lẽ nuốt nước mắt vào trong để con được bình yên. Máu và nước mắt – hai hình ảnh tưởng như đối lập – lại hòa vào nhau, tạo thành biểu tượng cho cả một đời mẹ. Không còn là những vất vả thường ngày, đây là sự hiến dâng bằng chính sự sống của mình. Động từ "ướp" được sử dụng thật đắt. Người ta có thể ướp hương cho trà, cho hoa, cho gỗ, còn mẹ lại "ướp" cả cuộc đời mình vào cuộc đời con. Mẹ không trao cho con của cải, cũng không để lại những điều lớn lao hữu hình; mẹ trao cho con nhân cách, tình yêu thương, sự tử tế và nghị lực sống. Hương đời của mẹ chính là kết tinh của những năm tháng tảo tần, của đức hi sinh, của lòng vị tha vô điều kiện. Hương ấy ngấm vào con từng ngày như mạch nước ngầm âm thầm nuôi lớn một thân cây.

Đọc đến đây, tôi chợt nhớ lời của Chế Lan Viên:

"Ừ thế đó mà một đời xa cách mẹ
Ba mươi năm trở lại nhà nước mắt xuống mâm cơm."

Có lẽ ai rồi cũng sẽ có một khoảnh khắc như thế: chỉ khi đủ trưởng thành mới hiểu mình đã lớn lên bằng bao nhiêu giọt mồ hôi, nước mắt và cả máu của mẹ. Bài thơ của Viễn Phương khiến tôi nhìn lại chính mình. Đã bao lần tôi vô tình coi sự hi sinh của mẹ là điều hiển nhiên? Đã bao lần tôi nhận lấy yêu thương mà quên nói một lời biết ơn? Chính lúc ấy, "ánh sáng riêng" của bài thơ đã len lỏi vào tâm hồn tôi. Nó không trách móc, không lên án, chỉ nhẹ nhàng soi rọi để tôi nhận ra phía sau mỗi bữa cơm nóng, mỗi chiếc áo sạch, mỗi bước trưởng thành của mình luôn có bóng dáng của một người mẹ đang lặng lẽ già đi. Văn chương không thay con người bằng những lời phán xét, văn chương chỉ giúp con người nhìn rõ hơn điều đáng quý mà trước đó mình chưa từng nhận ra. Đó chính là sức mạnh mà Nguyễn Đình Thi gọi là "làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ".

Khổ thơ thứ ba là điểm lắng sâu nhất của cảm xúc, nơi quy luật nghiệt ngã của thời gian được đặt cạnh quy luật trưởng thành của đời người:

Khi con thành đoá hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,
Con đi… chân trời gió lộng
Mẹ về… nắng quái chiều hôm.

Không còn là mẹ của những ngày trẻ trung, người mẹ giờ đây chỉ còn "lắt lay chiếc bóng". Hai chữ "lắt lay" gợi một dáng hình gầy guộc, mong manh như ngọn đèn trước gió. Đó không chỉ là sự hao mòn của tuổi tác mà còn là cái giá của cả một đời dốc cạn yêu thương cho con. Trong khi "con đi" về phía "chân trời gió lộng" – phía của tuổi trẻ, của khát vọng và tương lai rộng mở – thì mẹ lại "về" với "nắng quái chiều hôm". Hai động từ "đi" và "về", hai hình ảnh "chân trời" và "chiều hôm" được đặt trong thế đối lập, khắc họa quy luật muôn đời của tình mẫu tử: con càng lớn, mẹ càng già; con càng bay cao, bóng mẹ càng khuất dần vào phía hoàng hôn của cuộc đời.

Chính ở sự đối lập ấy, Viễn Phương đã làm hiện lên vẻ đẹp cao cả nhất của người mẹ: mẹ chưa bao giờ giữ con ở lại bên mình để níu kéo tuổi xuân đã mất. Mẹ chấp nhận lùi về phía sau để con được bước tới phía trước. Mẹ bằng lòng đánh đổi cả tuổi trẻ, sức khỏe và quãng đời đẹp nhất để đổi lấy một tương lai rực rỡ cho con. Đó là sự hi sinh không cần báo đáp, cũng là ánh sáng nhân văn sâu sắc mà bài thơ đã trao gửi đến mỗi người đọc.

Chính sự đối lập ấy khiến người đọc không chỉ xúc động mà còn day dứt. Từ lâu, con người vẫn quen nhìn tình mẫu tử như một lẽ tự nhiên của cuộc sống, để rồi nhiều khi quên rằng mỗi bước chân mình đi đều được đánh đổi bằng từng bước lùi của mẹ. Người mẹ trong thơ Viễn Phương không hề kể công, cũng không cất lên một lời than thở. Mẹ chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ già đi như ngọn nến cháy hết mình để giữ lại ánh sáng cho người khác. Đó cũng là vẻ đẹp muôn đời của người mẹ Việt Nam – những con người bình dị đã biến cả cuộc đời thành một sự hiến dâng. Bài thơ vì thế không chỉ kể câu chuyện của riêng một người mẹ mà đã khái quát thành biểu tượng của biết bao bà mẹ trên dải đất này: cả một đời lặng lẽ "cho" mà chưa từng nghĩ đến việc "nhận".

Đến đây, tôi chợt nhớ đến lời thơ của Nguyễn Duy:

“Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.”

Có lẽ không một đứa con nào có thể đong đếm hết công lao của mẹ. Điều mẹ để lại cho con không chỉ là hình hài, mà còn là cốt cách, là nhân phẩm, là cách sống giữa cuộc đời. Chính vì thế, "ánh sáng riêng" mà Mẹ đem đến không dừng ở việc ngợi ca tình mẫu tử. Ánh sáng ấy còn thức tỉnh mỗi người biết sống chậm lại để nhận ra những yêu thương vẫn đang hiện hữu quanh mình. Có những hạnh phúc chỉ khi mất đi người ta mới biết mình từng có. Có những lời yêu thương chỉ khi muốn nói thì người nghe đã không còn. Viễn Phương không viết bằng những triết lí lớn lao, ông chỉ đặt trước mắt người đọc bóng dáng của một người mẹ đang khuất dần về phía hoàng hôn, để từ đó mỗi trái tim tự biết phải làm gì với người mẹ của mình khi còn có thể.

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng một nỗi buồn trong trẻo mà thấm thía:

Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.

Nếu ba khổ thơ trước là hành trình của sự hi sinh thì bốn câu thơ cuối là hành trình đi vào cõi bất tử của người mẹ. Nhà thơ không né tránh quy luật nghiệt ngã của tạo hóa. Sen rồi sẽ tàn sau mùa hạ, mẹ cũng sẽ có ngày rời khỏi cõi đời. Chỉ bằng một chữ "cũng", Viễn Phương đặt mẹ vào quy luật vô thường của vạn vật. Điều ấy khiến nỗi đau càng trở nên chân thực. Không ai có thể giữ mãi người mẹ ở bên mình. Thời gian có thể lấy đi tuổi trẻ, sức khỏe, thậm chí lấy đi cả sự hiện diện của mẹ trên cõi đời.

Thế nhưng, bài thơ không khép lại trong mất mát. Sau câu thơ đầy xót xa ấy là một phát hiện mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc:

Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.

Hoa sen có thể tàn, rồi mùa sau lại nở. Con người không thể sống mãi, nhưng tình mẹ thì không bao giờ chết. Nhà thơ không nói mẹ hóa thành mây, thành gió hay thành cánh chim. Ông chọn hình tượng ngôi sao – biểu tượng của ánh sáng, của sự dẫn đường và của sự vĩnh hằng. Ngôi sao ở rất xa nhưng chưa bao giờ ngừng tỏa sáng. Mẹ cũng vậy. Dẫu không còn hiện hữu bằng xương bằng thịt, mẹ vẫn sống trong ký ức, trong nhân cách của con, trong từng điều tốt đẹp con mang theo suốt cuộc đời. Mẹ trở thành ánh sáng để mỗi khi con mỏi mệt vẫn có một nơi hướng về, mỗi khi lạc lối vẫn có một điểm tựa tinh thần để bước tiếp.

Hình tượng "ngôi sao" còn tạo nên sự gặp gỡ đầy ý nghĩa với nhận định của Nguyễn Đình Thi. Nếu Nguyễn Đình Thi ví tác phẩm lớn như một thứ ánh sáng không bao giờ nhòa đi trong tâm hồn người đọc thì Viễn Phương lại để mẹ hóa thành một vì sao bất diệt trên bầu trời ký ức. Hai hình tượng ấy tuy xuất hiện trong hai văn bản khác nhau nhưng lại gặp nhau ở bản chất: những gì thật sự cao đẹp sẽ không bị thời gian xóa mờ. Tình mẹ là một thứ ánh sáng. Văn chương chân chính cũng là một thứ ánh sáng. Và bài thơ Mẹ chính là nơi hai nguồn sáng ấy hòa làm một, để soi rọi vào lòng người niềm biết ơn, lòng hiếu thảo và khát vọng sống tử tế.

Đọc xong bài thơ, tôi không còn nhìn mẹ chỉ là người đã sinh thành và nuôi dưỡng mình. Tôi nhận ra phía sau dáng lưng còng, phía sau những nếp nhăn, phía sau mái tóc đã bạc đi theo năm tháng là cả một tuổi xuân mà mẹ lặng lẽ gửi vào cuộc đời con. Tôi cũng hiểu rằng hiếu thảo không phải là những điều lớn lao đợi đến mai sau mới thực hiện, mà bắt đầu từ những điều rất nhỏ của hôm nay: một lời hỏi han, một bữa cơm quây quần, một cái nắm tay, một sự sẻ chia khi mẹ còn hiện diện. Có lẽ đó chính là "ánh sáng riêng" mà bài thơ đã để lại trong tôi. Ánh sáng ấy không chỉ khiến tôi xúc động khi đọc thơ mà còn âm thầm thay đổi cách tôi đối xử với người mẹ của mình trong đời sống hằng ngày. Đó cũng là lúc lời của Nguyễn Đình Thi trở thành hiện thực: ánh sáng của tác phẩm đã "biến thành của ta", chiếu rọi lên mọi điều ta sống, mọi con người ta gặp và làm đổi khác cách ta nghĩ, cách ta yêu thương.

Mỗi thời đại đều có những tác phẩm để lại dấu ấn riêng trong tâm hồn người đọc. Có tác phẩm khơi dậy lòng yêu nước, có tác phẩm thức tỉnh khát vọng tự do, có tác phẩm gieo vào con người niềm tin về phẩm giá và lòng nhân ái. Mẹ của Viễn Phương chọn một con đường lặng lẽ hơn: trở về với tình mẫu tử – cội nguồn đầu tiên của mọi yêu thương. Không cần những hình tượng đồ sộ, không cần những triết lí cao siêu, bài thơ vẫn đủ sức làm rung động trái tim bởi nó được viết bằng sự thấu hiểu, bằng lòng biết ơn và bằng một tình yêu vô hạn dành cho mẹ. Chính điều đó đã tạo nên "ánh sáng riêng" của bài thơ – thứ ánh sáng dịu dàng như hương sen, bền bỉ như ánh sao và thiêng liêng như tình mẹ. Ánh sáng ấy sẽ còn theo mỗi người rất lâu sau khi câu thơ cuối cùng khép lại, để mỗi lần nhớ đến bài thơ, ta lại thấy lòng mình mềm hơn, biết ơn hơn và muốn sống đẹp hơn với người mẹ đã dành cả cuộc đời để yêu thương mình.

Bài tham khảo Mẫu 4

Có những tác phẩm chỉ dừng lại ở giá trị thưởng thức, lại có những tác phẩm sau khi khép trang sách vẫn còn âm thầm đồng hành cùng con người như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Chính bởi sức sống ấy mà Nguyễn Đình Thi trong Tiếng nói văn nghệ đã khẳng định: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi…”. Đó không chỉ là lời ngợi ca sức mạnh của văn chương, mà còn là sự khẳng định về khả năng cảm hóa, thức tỉnh và nâng đỡ tâm hồn con người của nghệ thuật chân chính. Đến với bài thơ Mẹ của Viễn Phương, người đọc bắt gặp một thứ ánh sáng dịu dàng như hương sen, lặng lẽ lan tỏa vào trái tim, để từ đó biết yêu hơn, biết biết ơn hơn và sống xứng đáng hơn với tình mẫu tử thiêng liêng.

Nguyễn Đình Thi ví mỗi tác phẩm lớn như một nguồn sáng bởi văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn soi chiếu vào thế giới tinh thần của con người. "Ánh sáng riêng" là vẻ đẹp tư tưởng, là chiều sâu nhân văn, là những giá trị mà mỗi tác phẩm mang đến bằng một giọng điệu, một phong cách không thể hòa lẫn. Thứ ánh sáng ấy không dừng lại ở cảm xúc nhất thời mà âm thầm thấm sâu vào nhận thức, trở thành một phần trong tâm hồn người đọc. Sau mỗi lần đọc, con người không còn nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cũ, không còn nghĩ theo những lối mòn cũ, bởi văn chương đã giúp họ khám phá những vẻ đẹp vốn bị thời gian và sự vô tâm che lấp. Một tác phẩm lớn vì thế không chỉ khiến người đọc rung động mà còn làm cho họ trưởng thành hơn trong cách sống, cách yêu thương và cách đối diện với cuộc đời.

Bài thơ Mẹ của Viễn Phương chính là một nguồn sáng như thế. Không lựa chọn những hình ảnh lớn lao hay những lời ca ngợi ồn ào, nhà thơ trở về với những điều bình dị nhất của đời sống: lời ru, bông sen, dáng mẹ nghèo và những tháng năm lặng lẽ. Ngay từ những câu thơ mở đầu:

“Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
...Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian...”

tiếng ru của mẹ đã đưa người đọc trở về miền ký ức trong trẻo nhất. Lời ru không chỉ là âm thanh nuôi lớn tuổi thơ mà còn là chiếc nôi nâng đỡ tâm hồn. Hình ảnh hoa sen hiện lên với vẻ đẹp thanh khiết, âm thầm tỏa hương giữa bùn lầy, cũng chính là hình ảnh báo trước về người mẹ. Từ bao đời nay, sen đã trở thành biểu tượng của phẩm chất Việt Nam: giản dị mà cao quý, khiêm nhường mà bền bỉ. Mẹ lựa chọn lời ru về hoa sen cũng là gửi vào tâm hồn con bài học đầu tiên về nhân cách làm người. Ánh sáng đầu tiên mà bài thơ soi rọi vào lòng em chính là vẻ đẹp của những giá trị bình dị. Hóa ra điều cao đẹp nhất không nằm ở những điều lớn lao mà bắt đầu từ lời ru, từ tình yêu thương và sự hy sinh âm thầm của mẹ.

Nếu hình ảnh hoa sen trong lời ru là dự cảm thì khổ thơ tiếp theo đã làm hiện lên chân dung người mẹ bằng tất cả sự xúc động:

“Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.”

Chỉ một phép so sánh giản dị "Mẹ nghèo như đóa hoa sen", Viễn Phương đã khắc họa trọn vẹn cuộc đời người mẹ. Mẹ nghèo về vật chất, cuộc đời đầy nhọc nhằn, lam lũ, song tâm hồn vẫn thanh sạch, nhân hậu như hương sen ngan ngát. Hai câu thơ “Giọt máu hòa theo dòng lệ / Hương đời mẹ ướp cho con” là điểm sáng của cả bài thơ. "Giọt máu" gợi sự hi sinh bằng chính sự sống, "dòng lệ" gợi bao nỗi nhọc nhằn, cay đắng mà mẹ âm thầm gánh chịu. Tất cả những đau thương ấy không nhằm nhận lấy sự báo đáp, chỉ để "ướp" cho cuộc đời con hương thơm của tình yêu thương, của nhân cách và lòng bao dung. Đọc đến đây, em chợt nhận ra phía sau mỗi bước trưởng thành của con luôn có bóng dáng của mẹ. Điều mình vô tình xem là bình thường lại được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả tuổi xuân của mẹ. Ánh sáng mà bài thơ mang lại khiến em biết cúi đầu trước những hi sinh vốn quá đỗi quen thuộc nên nhiều lúc bị lãng quên.

Nỗi xúc động càng trở nên sâu lắng khi nhà thơ đặt thành công của con bên sự tàn phai của mẹ:

“Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,
Con đi... chân trời gió lộng
Mẹ về... nắng quái chiều hôm.”

Hình ảnh "đóa hoa thơm" là thành quả của bao năm tháng mẹ vun trồng. Con trưởng thành, bay đến những chân trời rộng lớn cũng là lúc mẹ bước dần về phía buổi chiều của đời người. Hai hình ảnh đối lập "chân trời gió lộng" và "nắng quái chiều hôm" đã tạo nên khoảng lặng đầy ám ảnh. Một phía là tuổi trẻ với bao khát vọng, một phía là bóng mẹ gầy guộc trước sự khắc nghiệt của thời gian. Chỉ dấu ba chấm trong câu thơ đã kéo dài khoảng cách giữa con và mẹ, khiến nỗi xót xa càng lan rộng. Ánh sáng mà bài thơ đem đến không phải những lời giáo huấn khô khan mà là sự thức tỉnh nhẹ nhàng. Em hiểu rằng, khi mải miết chạy theo những ước mơ phía trước, con người rất dễ quên đi người đang lặng lẽ già đi ở phía sau. Đến khi ngoảnh lại, có khi chỉ còn những khoảng trống không gì bù đắp được.

Khổ thơ cuối khép lại bằng một vẻ đẹp vừa đau thương vừa bất tử:

“Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.”

Quy luật của thiên nhiên là sen tàn rồi lại nở, còn mẹ chỉ có một lần trong cuộc đời. Dẫu vậy, mẹ không mất đi. Mẹ hóa thành "ngôi sao trên trời" để mãi mãi dõi theo con bằng tình yêu bất diệt. Hình ảnh ấy vừa mang vẻ đẹp hiện thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Ngôi sao không chỉ tỏa sáng trong bầu trời mà còn soi sáng trong tâm hồn mỗi người con. Đó là thứ ánh sáng không bao giờ lụi tắt, bởi nó được nuôi dưỡng bằng tình mẫu tử thiêng liêng. Khép lại bài thơ, em không còn chỉ cảm nhận nỗi nhớ mẹ của nhà thơ mà còn thấy hiện lên bóng dáng người mẹ của chính mình. Em hiểu rằng hạnh phúc lớn nhất không phải là đi được bao xa mà là còn có mẹ để yêu thương, còn có cơ hội nói một lời biết ơn khi mẹ vẫn còn ở bên.

Điều làm nên sức sống của Mẹ không chỉ nằm ở ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi hay giọng thơ tha thiết mà còn ở thứ ánh sáng nhân văn mà bài thơ mang lại. Ánh sáng ấy giúp em biết trân trọng những điều tưởng như bình thường, biết yêu thương gia đình nhiều hơn, biết sống chậm để lắng nghe những hi sinh âm thầm của mẹ. Từ một bài thơ ngắn, Viễn Phương đã mở ra một khoảng trời rộng lớn của tình yêu thương, nơi mỗi người đọc đều có thể soi thấy hình bóng của mẹ mình và soi thấy chính bản thân mình.

Nguyễn Đình Thi từng khẳng định rằng một tác phẩm lớn sẽ làm thay đổi "mắt ta nhìn, óc ta nghĩ". Mẹ của Viễn Phương đã thực sự làm được điều ấy. Bài thơ không chỉ gợi lên nỗi xúc động về tình mẫu tử mà còn thắp sáng trong tâm hồn người đọc lòng biết ơn, sự yêu thương và khát vọng sống đẹp. Thứ ánh sáng dịu dàng ấy sẽ còn theo em trên mỗi chặng đường đời, để mỗi khi nhớ về mẹ, em lại biết sống tử tế hơn, nhân hậu hơn và xứng đáng hơn với những hi sinh lặng lẽ mà mẹ đã dành trọn cho mình.

Bài tham khảo Mẫu 5

Có những trang viết chỉ lướt qua tâm trí ta như một cơn gió thoảng rồi tan biến, nhưng cũng có những trang viết in hằn vào tâm khảm, trở thành một phần máu thịt của đời sống tinh thần, để mỗi lần ta chạm tới, một vùng sáng lại bừng lên trong lòng. Nguyễn Đình Thi, người nghệ sĩ đa tài của nền văn học cách mạng Việt Nam, trong tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ đã đúc kết một chân lí sâu sắc về sức mạnh kì diệu ấy: "Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi… ánh sáng đã biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ." Đọc bài thơ Mẹ của Viễn Phương, ta như được sống lại trong chính lời khẳng định ấy, bởi từ những vần thơ giản dị mà thấm đẫm yêu thương, một luồng sáng riêng đã lặng lẽ rọi chiếu vào tâm hồn người đọc, soi tỏ hình ảnh người mẹ tảo tần và đánh thức trong ta bao nghĩ suy về đạo làm con.

Trước hết, cần hiểu thấu đáo điều Nguyễn Đình Thi muốn gửi gắm qua hình ảnh giàu chất thơ ấy. "Ánh sáng riêng" mà một tác phẩm lớn mang lại chính là thế giới tinh thần độc đáo, không lặp lại, được kết tinh từ tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ. Đó có thể là một cách nhìn mới mẻ về cuộc đời, một rung động thẩm mĩ chưa từng có, một chân lí về lẽ sống được phát hiện bằng con mắt riêng của người cầm bút. Ánh sáng ấy "không bao giờ nhoà đi" bởi nó không đến từ những tri thức khô cứng dễ bị lãng quên, mà đến từ những xúc cảm chân thành, được nuôi dưỡng bằng máu thịt, bằng những trải nghiệm sống động của chính người sáng tạo. Chính vì vậy, một khi đã chạm vào lòng người đọc, ánh sáng ấy sẽ bén rễ, sinh sôi, "biến thành của ta", trở thành một phần trong cách ta cảm nhận thế giới, cách ta ứng xử với những người thân yêu quanh mình. Văn chương đích thực không đơn thuần là ghi chép hiện thực mà còn là hành trình chưng cất tâm hồn, để từ một câu chuyện riêng của một đời người, độc giả tìm thấy tiếng vọng của chính đời mình, được thanh lọc, được nâng đỡ, được soi tỏ. Đó chính là sứ mệnh cao cả và cũng là vẻ đẹp bất diệt của nghệ thuật chân chính.

Bài thơ Mẹ của Viễn Phương là một minh chứng cảm động cho quan niệm ấy. Chỉ bằng mười sáu câu thơ ngũ ngôn ngắn gọn, nhà thơ đã dựng lên trọn vẹn một cuộc đời, một số phận, một tình yêu thương lặng thầm mà vĩnh cửu, để rồi từ đó, một ánh sáng riêng đầy xúc động cứ thế lan toả, thấm sâu vào tâm hồn người đọc.

Mở đầu bài thơ là một hồi ức trong trẻo, nơi lời ru của mẹ vọng về từ miền kí ức xa xăm:

Con nhớ ngày xưa mẹ hát:

…"Hoa sen lặng lẽ dưới đầm

Hương hoa dịu dàng bát ngát

Thơm tho không gian, thời gian"

Câu thơ mở ra bằng động từ "nhớ", như một cánh cửa dịu dàng đưa người đọc bước vào thế giới của tuổi thơ, của những đêm mẹ ru con bằng câu hát dân gian thấm đẫm hồn quê. Hình ảnh hoa sen được gọi lên không phải ngẫu nhiên mà là một dụng ý nghệ thuật tinh tế của Viễn Phương. Đóa sen "lặng lẽ dưới đầm" mang dáng vẻ khiêm nhường, không phô trương giữa bùn lầy, thế nhưng hương thơm của nó lại "dịu dàng bát ngát", lan toả khắp "không gian, thời gian". Chính hình ảnh ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bài, là biểu tượng nghệ thuật để nhà thơ soi chiếu vào cuộc đời mẹ.

Từ câu hát thuở ấu thơ, mạch cảm xúc của bài thơ chuyển sang những dòng thơ trực tiếp khắc hoạ chân dung người mẹ:

Mẹ nghèo như đoá hoa sen

Tháng năm âm thầm lặng lẽ,

Giọt máu hoà theo dòng lệ

Hương đời mẹ ướp cho con.

Phép so sánh "mẹ nghèo như đoá hoa sen" đã gói trọn cả một đời người trong bốn chữ ngắn gọn mà sâu xa. Cái nghèo ở đây không chỉ là nghèo về vật chất, mà còn gợi lên dáng hình bé nhỏ, giản dị, cam chịu của biết bao người mẹ Việt Nam trong những năm tháng gian khó. Từ láy "âm thầm", "lặng lẽ" được đặt liền kề nhau như nhân đôi sự hi sinh không lời của mẹ, một sự hi sinh không cần ai chứng kiến, không cần ai ghi nhận, cứ thế bền bỉ trôi qua năm tháng. Đặc biệt, câu thơ "giọt máu hoà theo dòng lệ" là một hình ảnh thơ đầy ám ảnh, gợi lên bao nhiêu đau đớn, tủi cực mà người mẹ đã âm thầm nuốt vào trong. Mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu thịt của mẹ đã hoà tan, kết tinh thành "hương đời" ngọt ngào để "ướp" cho con khôn lớn. Động từ "ướp" được chọn lựa vô cùng tinh tế, bởi nó gợi ra một quá trình thẩm thấu chậm rãi, bền bỉ, để hương thơm ấy ngấm sâu vào từng thớ thịt, trở thành cốt cách, thành nhân phẩm của người con sau này.

Nếu như hai khổ thơ đầu là dòng hồi tưởng dịu dàng, thì đến khổ thơ thứ ba, cảm xúc trong bài bỗng chùng xuống, nhuốm màu xót xa qua nghệ thuật đối lập đầy dụng công:

Khi con thành đoá hoa thơm

Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,

Con đi… chân trời gió lộng

Mẹ về… nắng quái chiều hôm.

Hai câu thơ cuối được xây dựng theo lối tiểu đối chỉnh, đặt "con đi" bên cạnh "mẹ về", đặt "chân trời gió lộng" tương phản với "nắng quái chiều hôm". Con, khi đã trưởng thành, đã "thành đoá hoa thơm" nhờ bao công sức vun trồng của mẹ, thì lại rời xa vòng tay mẹ để bước ra thế giới rộng lớn, nơi có "chân trời gió lộng" đầy khát vọng và tự do. Còn mẹ, người đã dành trọn đời mình để chăm bẵm, vun đắp cho con, giờ đây chỉ còn lại "chiếc bóng lắt lay" cô đơn giữa căn nhà vắng, như ánh "nắng quái chiều hôm" hắt hiu, yếu ớt, báo hiệu một ngày sắp tàn. Hình ảnh "nắng quái chiều hôm" vốn là một thi liệu quen thuộc trong văn học cổ điển gợi sự tàn phai, hữu hạn của kiếp người, nay được Viễn Phương vận dụng khéo léo để nói về tuổi già hắt hiu của mẹ, tạo nên một nỗi ngậm ngùi khôn nguôi trong lòng người đọc. Chính khoảnh khắc đối lập nghiệt ngã ấy giữa niềm vui trưởng thành của con và nỗi cô quạnh của mẹ đã chạm đến một sự thật muôn thuở của kiếp người, đó là quy luật được mất không thể tránh khỏi trong tình mẫu tử, khi con lớn lên cũng là lúc mẹ dần già đi, hao mòn theo năm tháng.

Đỉnh điểm của nỗi đau và cũng là đỉnh điểm của cảm xúc trữ tình được đẩy lên ở khổ thơ cuối cùng, khi hình tượng hoa sen được nhà thơ khép lại vòng tròn biểu tượng của mình:

Sen đã tàn sau mùa hạ

Mẹ cũng lìa xa cõi đời,

Sen tàn rồi sen lại nở

Mẹ thành ngôi sao trên trời.

Quy luật tự nhiên "sen đã tàn sau mùa hạ" được đặt song song với sự ra đi vĩnh viễn của mẹ, như một lời an ủi rằng cái chết cũng chỉ là một phần tất yếu của vòng đời, giống như đoá sen nở rồi tàn theo mùa. Thế nhưng, chính từ nỗi mất mát tưởng như tận cùng ấy, Viễn Phương đã thắp lên một tia sáng của niềm tin và sự bất tử. "Sen tàn rồi sen lại nở" là quy luật sinh sôi vĩnh hằng của tự nhiên, và cũng chính từ quy luật ấy, nhà thơ đã nâng hình ảnh người mẹ lên một tầm vóc mới: "Mẹ thành ngôi sao trên trời." Mẹ không mất đi, mẹ chỉ hoá thân, chỉ chuyển sang một dạng tồn tại khác, lặng lẽ toả sáng, dõi theo và soi đường cho con giữa đêm tối cuộc đời, như ngôi sao vẫn lấp lánh trên bầu trời qua bao thế hệ. Đây là một tứ thơ đẹp, vừa mang màu sắc tâm linh dân gian, vừa thể hiện khát vọng bất tử hoá tình mẫu tử của nhà thơ, để nỗi đau mất mẹ không còn là sự kết thúc tuyệt vọng mà trở thành một cuộc hoá thân đầy ánh sáng.

Chính từ hành trình cảm xúc được dệt nên bởi hình tượng hoa sen xuyên suốt bài thơ, từ đoá sen trong lời ru thuở nhỏ, đến đoá sen ví với cuộc đời lam lũ của mẹ, rồi đến đoá sen tàn phai theo sự ra đi của mẹ, và cuối cùng là đoá sen lại nở gắn với hình ảnh ngôi sao bất tử, Viễn Phương đã dựng lên một biểu tượng nghệ thuật vừa thống nhất vừa biến hoá, mang trong mình toàn bộ triết lí về sự hi sinh thầm lặng và tình yêu vĩnh cửu của người mẹ. Đó chính là nơi khởi nguồn của thứ ánh sáng riêng mà bài thơ đã rọi vào tâm hồn người đọc.

Ánh sáng riêng ấy, trước hết, là ánh sáng của sự thức tỉnh về những hi sinh âm thầm mà bấy lâu nay có thể ta đã vô tình lướt qua trong đời sống bận rộn. Đọc những câu thơ về mẹ "âm thầm lặng lẽ", về "giọt máu hoà theo dòng lệ", lòng tôi bỗng chùng lại, nhớ về những đêm mẹ thức muộn bên trang vở của con, những buổi sáng mẹ dậy sớm chuẩn bị từng bữa cơm mà chẳng mấy khi con để tâm nhận ra. Ánh sáng riêng ấy đã giúp tôi nhìn lại chính mình, nhận ra rằng tình yêu thương của mẹ không phải lúc nào cũng được cất thành lời, mà thường ẩn giấu trong những cử chỉ nhỏ bé, giản dị, cần một trái tim đủ tinh tế để cảm nhận và trân trọng.

Ánh sáng riêng ấy còn là lời nhắc nhở thấm thía về sự trôi chảy không ngừng của thời gian và cái giá phải trả cho sự vô tâm. Hình ảnh đối lập "con đi" và "mẹ về" khiến tôi giật mình nghĩ đến biết bao lần bản thân mải mê theo đuổi những dự định riêng, những chuyến đi xa, mà quên mất rằng ở nhà, có một người vẫn ngày ngày ngóng trông, vẫn lặng lẽ già đi theo từng con nước lớn ròng của tháng năm. Bài thơ như một tiếng chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở tôi hãy biết trân quý những khoảnh khắc còn được ở bên mẹ, đừng để đến khi mẹ chỉ còn là "nắng quái chiều hôm" mới thấu hiểu giá trị của sự hiện diện ấy.

Sâu xa hơn cả, ánh sáng riêng mà bài thơ Mẹ rọi vào tâm hồn tôi chính là niềm tin vào sự bất tử của tình yêu thương. Khổ thơ cuối với hình ảnh "mẹ thành ngôi sao trên trời" đã an ủi tôi rằng, dẫu người thân yêu có phải rời xa cõi đời theo quy luật tự nhiên, tình cảm và những giá trị họ để lại vẫn sẽ mãi soi sáng, dẫn dắt những người ở lại. Từ đó, tôi học được cách đối diện với mất mát không phải bằng sự tuyệt vọng, mà bằng lòng biết ơn và ý thức sống sao cho xứng đáng với những gì mẹ đã hi sinh, để ánh sáng ấy trong mình không bao giờ tắt.

Cũng chính từ những xúc cảm chân thành ấy, ta càng thấm thía hơn nhận định của Nguyễn Đình Thi. Ánh sáng mà bài thơ Mẹ mang lại không phải là thứ tri thức có thể học thuộc rồi quên đi, mà là một trải nghiệm tâm hồn sâu sắc, được nuôi dưỡng bằng chính những rung động chân thực nhất của trái tim con người trước tình mẫu tử thiêng liêng. Viễn Phương, bằng ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu sức gợi, bằng hình tượng hoa sen được xây dựng công phu, tinh tế, đã không chỉ kể một câu chuyện riêng về mẹ mình, mà còn chạm đến mẫu số chung trong trái tim của muôn triệu người con trên thế gian này. Đó chính là lí do vì sao bài thơ, dù ngắn gọn, vẫn có sức ngân vang lâu bền, vẫn có khả năng "biến thành của ta", làm thay đổi cách ta nhìn về mẹ, về những hi sinh thầm lặng quanh mình, làm thay đổi cách ta sống mỗi ngày.

Gấp trang thơ lại, ánh sáng từ đoá sen lặng lẽ dưới đầm, từ dáng mẹ tảo tần sớm hôm, từ ngôi sao lấp lánh trên bầu trời đêm, vẫn còn vương vấn mãi trong tâm trí tôi. Bài thơ Mẹ của Viễn Phương đã minh chứng trọn vẹn cho chân lí mà Nguyễn Đình Thi từng khẳng định, rằng một tác phẩm lớn có thể chỉ vỏn vẹn vài chục câu chữ, nhưng nếu được viết bằng cả trái tim, nó vẫn đủ sức rọi vào tâm hồn người đọc một ánh sáng riêng, thứ ánh sáng của tình yêu thương, của lòng biết ơn, của niềm tin vào sự bất tử nơi những giá trị nhân văn cao đẹp nhất. Và có lẽ, chừng nào con người còn biết rung động trước tình mẫu tử thiêng liêng, chừng đó ánh sáng từ đoá sen trong thơ Viễn Phương vẫn sẽ còn toả sáng, không bao giờ nhoà đi trong lòng bao thế hệ độc giả.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close