Viết đoạn văn nêu cảm xúc về một bài thơ lục bátMở đoạn - Giới thiệu tác phẩm: Nêu tên bài thơ lục bát và tên tác giả (nếu có). - Cảm xúc chung: Phát biểu ấn tượng, cảm xúc bao trùm của bản thân sau khi đọc bài thơ (vui tươi, bồi hồi, xúc động, hay hoài niệm...). Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý Mở đoạn - Giới thiệu tác phẩm: Nêu tên bài thơ lục bát và tên tác giả (nếu có). - Cảm xúc chung: Phát biểu ấn tượng, cảm xúc bao trùm của bản thân sau khi đọc bài thơ (vui tươi, bồi hồi, xúc động, hay hoài niệm...). Thân đoạn - Cảm xúc về nội dung (Bản chất câu chuyện/hình ảnh): + Bài thơ gợi lên bức tranh gì hoặc câu chuyện gì? (Ví dụ: tình cảm gia đình, vẻ đẹp quê hương, tình mẫu tử...). + Những hình ảnh thơ nào làm bạn xúc động hoặc ấn tượng nhất? Vì sao? - Cảm xúc về nghệ thuật (Đặc trưng thể thơ lục bát): + Thể thơ lục bát với nhịp điệu uyển chuyển, nhịp nhàng như lời hát ru, giúp người đọc dễ nhớ, dễ cảm. + Cách gieo vần, phối thanh (bằng - trắc) tài tình đã làm tăng nhạc điệu và sự tha thiết cho tình cảm mà tác giả gửi gắm. + Sử dụng các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, điệp từ...) góp phần làm nổi bật cảm xúc ra sao. Kết đoạn - Khẳng định giá trị bài thơ: Khái quát lại ý nghĩa của bài thơ đối với tâm hồn người đọc. - Liên hệ bản thân: Bài thơ khơi dậy trong bạn tình cảm, hành động hoặc suy nghĩ gì cho tương lai (yêu thương cha mẹ hơn, trân trọng quê hương...). Bài siêu ngắn Mẫu 1 Bài thơ "À ơi tay mẹ" của Bình Nguyên đã để lại trong em những nốt lặng đầy xúc động về tình mẫu tử. Qua thể thơ lục bát với nhịp điệu $2/2/2$ êm ái như lời ru của mẹ, tác giả đã khắc họa hình ảnh "bàn tay mẹ" đầy phép mầu. Bàn tay ấy vừa chắn bão dông cuộc đời, vừa dịu dàng thức thâu đêm vì con. Cách gieo vần chân, vần lưng linh hoạt kết hợp với biện pháp ẩn dụ "phép nhiệm mầu" làm cho lời thơ trở nên tha thiết, sâu lắng. Đọc tác phẩm, em cảm nhận được tình yêu thương bao la và sự hy sinh thầm lặng của người mẹ hiền. Bài thơ không chỉ là một lời ca ngợi tình mẫu tử mà còn là lời nhắc nhở em phải luôn biết trân trọng, yêu thương và biết ơn người mẹ kính yêu của mình. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Những vần thơ lục bát trong bài ca dao "Đứng bên bờ ruộng, ngó bên tê bờ ruộng" luôn khơi dậy trong em một tình yêu quê hương tha thiết. Bài thơ mở ra một không gian đồng ruộng bao la, trù phú qua cái nhìn đầy sức sống của người con gái. Thể thơ lục bát truyền thống với nhịp điệu nhịp nhàng, ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất dân gian đã diễn tả trọn vẹn vẻ đẹp vừa bình dị, vừa thơ mộng của làng quê Việt Nam. Biện pháp điệp từ "mênh mông bát ngát" được sử dụng tài tình, tạo nên một nhạc điệu bâng khuâng, xao xuyến. Tác phẩm đã chạm đến góc sâu thẳm trong tâm hồn em, khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ, bảo vệ vẻ đẹp non sông đất nước ngày càng giàu đẹp. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Bài thơ "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương đã chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất trong lòng em. Đoạn thơ lục bát ngắn gọn nhưng giàu nhạc điệu đã tái hiện không gian căn nhà bình dị khi người con trở về vắng mẹ. Những hình ảnh thân thuộc như "bếp chưa lên khói", "chum cáng", "áo tơi" gợi lên sự lam lũ, tần tảo của người mẹ quê. Biện pháp nghệ thuật hoán dụ kết hợp với nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng làm cho nỗi nghẹn ngào, thương mẹ của người con trở nên thấm thía hơn bao giờ hết. Bài thơ khép lại nhưng dư âm về tình mẫu tử ấm áp vẫn còn vang vọng, nhắc nhở em về giá trị của gia đình và hạnh phúc giản đơn khi còn có mẹ ở bên. Bài tham khảo Mẫu 1 Trong những bài thơ lục bát em từng đọc, bài Truyện Kiều của Nguyễn Du để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc nhất. Thể thơ lục bát quen thuộc qua ngòi bút Nguyễn Du trở nên mềm mại, da diết và đầy sức lay động. Đọc từng câu thơ, em như cảm nhận được tiếng thở dài của nàng Kiều trước những bất công của số phận. Em thương Kiều bởi nàng tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời lại chìm trong đau khổ, chia ly và nước mắt. Không chỉ xúc động trước số phận nhân vật, em còn cảm phục tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du. Ông luôn nhìn con người bằng ánh mắt yêu thương, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn và khát vọng hạnh phúc của họ. Đặc biệt, âm điệu lục bát nhẹ nhàng như lời ru khiến bài thơ đi vào lòng người rất tự nhiên. Có những câu thơ đọc lên nghe như tiếng lòng nghẹn ngào của cả một kiếp người. Bài thơ giúp em hiểu hơn giá trị của lòng cảm thông, biết yêu thương con người và trân trọng vẻ đẹp của tiếng Việt dân tộc. Bài tham khảo Mẫu 2 Bài thơ lục bát khiến em xúc động nhất là bài À ơi tay mẹ của Bình Nguyên. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, em đã cảm nhận được tình mẹ bao la, dịu dàng và ấm áp như lời ru tuổi thơ. Hình ảnh “bàn tay mẹ” hiện lên thật giản dị nhưng chứa đựng biết bao yêu thương và hi sinh. Đó là đôi bàn tay tảo tần che mưa, chắn gió, chăm sóc con từng ngày mà không hề than vãn. Đọc bài thơ, em nhớ đến mẹ của mình – người luôn âm thầm lo lắng cho con từ những điều nhỏ bé nhất. Thể thơ lục bát với nhịp điệu êm đềm đã khiến cảm xúc trong bài thơ trở nên tha thiết hơn. Những câu thơ không cầu kì nhưng vẫn chạm đến trái tim người đọc bởi sự chân thành và gần gũi. Em đặc biệt xúc động khi nhận ra rằng tình mẹ trong cuộc đời luôn rộng lớn, hi sinh mà không cần được đáp đền. Bài thơ khiến em thêm yêu mẹ, biết trân trọng những điều bình dị quanh mình và tự nhắc bản thân phải sống tốt hơn để không phụ công lao của mẹ. Bài tham khảo Mẫu 3 Mỗi khi đọc bài ca dao “Thân em như tấm lụa đào”, em lại cảm thấy bâng khuâng và thương cảm cho số phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Chỉ bằng vài câu thơ lục bát ngắn gọn nhưng dân gian đã gợi lên biết bao nỗi niềm sâu kín. Hình ảnh “tấm lụa đào” vừa đẹp đẽ vừa mong manh đã làm nổi bật vẻ đẹp và phẩm giá của người phụ nữ. Thế nhưng, họ lại không được tự quyết định cuộc đời mình mà phải phó mặc cho hoàn cảnh và lễ giáo phong kiến. Đọc bài thơ, em cảm nhận được nỗi tủi thân, bất lực và khát vọng được yêu thương, trân trọng của người phụ nữ ngày trước. Em càng thấm thía hơn giá trị của cuộc sống hôm nay khi con người được sống tự do và bình đẳng hơn. Điều làm em ấn tượng nhất chính là vẻ đẹp của thể thơ lục bát: nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu nhưng chứa đựng cảm xúc sâu xa. Những lời thơ mộc mạc như tiếng than thân đầy xót xa vẫn còn vang vọng mãi trong lòng người đọc. Bài ca dao không chỉ giúp em hiểu thêm về cuộc sống xưa mà còn khiến em biết trân trọng, yêu thương con người hơn. Bài tham khảo Mẫu 4 Bài thơ "Tre Việt Nam" của Nguyễn Duy là một kiệt tác lục bát, mang đến cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cốt cách và linh hồn của dân tộc. Qua hình tượng cây tre, nhà thơ đã khéo léo khắc họa những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam từ bao đời nay. Thể thơ lục bát ở đây không mang giọng điệu mềm mại của ca dao giao duyên, mà mang âm hưởng rắn rỏi, hào hùng nhưng vẫn vô cùng đầm ấm. Những câu thơ như "Bão bùng thân bọc lấy thân / Tay tre manh áo cộc cằn nhường nhau" sử dụng biện pháp nhân hóa một cách tài tình, gợi lên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và ý chí kiên cường trước mọi thử thách độc lập của dân tộc. Nghệ thuật đối lập giữa sự nhỏ bé của thân tre với sức mạnh phi thường của "lũy thành" đã làm tôn lên chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Hơn thế nữa, hình ảnh "măng non" ở cuối bài thơ là biểu tượng tuyệt đẹp cho sự nối tiếp thế hệ, khẳng định sức sống trường tồn, bất diệt của đất nước. Bằng ngôn ngữ mộc mạc nhưng giàu tính triết lý, Nguyễn Duy đã biến một loài cây quen thuộc thành một biểu tượng tinh thần vô giá. Tác phẩm khơi dậy trong lòng thế hệ trẻ niềm tự hào tự tôn dân tộc sâu sắc, đồng thời nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm tiếp nối và phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông. Bài tham khảo Mẫu 5 Bài thơ "Hoa bìm" của Nguyễn Đức Mậu là một bức tranh hoài niệm tuyệt đẹp, đánh thức trong lòng người đọc tình yêu quê hương và những ký ức tuổi thơ thanh bình. Tác phẩm thành công vang dội nhờ việc sử dụng thể thơ lục bát với nhịp điệu $2/2/2$ chậm rãi, như một lời tự sự thầm thì đưa ta về lại những ngày xưa cũ. Qua lăng kính tinh tế của nhà thơ, những hình ảnh bình dị, dân dã của làng quê hiện lên đầy sống động: từ nhành hoa bìm sắc tím, con chuồn chuồn ớt, cánh bướm vàng cho đến tiếng dế khóc non nỉ. Biện pháp nghệ thuật liệt kê kết hợp với những từ ngữ giàu tính tạo hình đã vẽ nên một không gian làng quê vừa yên ả, vừa đượm một chút buồn man mác. Điệp từ "mười năm" được lặp lại như một cái giật mình thảng thốt của người con xa xứ khi đối diện với dòng chảy của thời gian. Sắc tím của hoa bìm không chỉ là sắc màu của thiên nhiên, mà đã trở thành biểu tượng cho sự thủy chung, son sắt của tâm hồn con người đối với cội nguồn. Tác phẩm chạm đến sợi dây cảm xúc sâu kín nhất của độc giả, khơi dậy niềm trân trọng dành cho những giá trị giản dị, nguyên sơ mà ta dễ dối lòng quên lãng giữa bộn bề cuộc sống hiện đại. Bài tham khảo Mẫu 6 "Việt Nam quê hương ta" của Nguyễn Đình Thi là một khúc tráng ca bằng thơ lục bát, khơi dậy niềm tự hào tự tôn dân tộc sâu sắc trong lòng mỗi người dân đất Việt. Khác với vẻ mềm mại, êm dịu thường thấy của thể thơ truyền thống này, những vần thơ của Nguyễn Đình Thi lại mang âm hưởng vừa khoáng đạt, bao la, lại vừa rắn rỏi, kiên cường. Mở đầu đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên đất nước trù phú, tươi đẹp với "biển lúa mênh mông" và cánh "cò bay lả dập dờn", khơi gợi tình yêu giang sơn gấm vóc. Tuy nhiên, chiều sâu của bài thơ lại nằm ở hình ảnh con người Việt Nam. Qua nghệ thuật đối lập và nhân hóa, tác giả đã khắc họa trọn vẹn hai nét tính cách ngỡ như mâu thuẫn nhưng lại hòa quyện hoàn hảo: sự hiền lành, chịu thương chịu khó trong lao động ("vất vả duyên nợ", "áo nâu nhuộm bùn") và tinh thần bất khuất, kiêu hùng khi đối diện với kẻ thù ("đạp quân thù xuống đất đen"). Những cặp vần trắc - bằng đan xen nhịp nhàng như dòng chảy lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đoạn thơ không chỉ là lời ngợi ca quê hương, mà còn là lời nhắc nhở thế hệ trẻ về dòng máu anh hùng đang chảy trong huyết quản, từ đó ý thức rõ hơn về trách nhiệm cống hiến cho tổ quốc. Bài tham khảo Mẫu 7 Bài ca dao "Công cha như núi ngất trời / Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông" là một kiệt tác lục bát dân gian, lưu giữ trọn vẹn đạo lý ứng xử và lòng biết ơn sâu sắc đối với đấng sinh thành. Với thể thơ lục bát có nhịp điệu $4/4$ cân xứng, bài ca dao vang lên như một lời tâm tình, bảo ban nhẹ nhàng mà thấm thía của thế hệ đi trước. Nghệ thuật so sánh bậc cao đã được sử dụng một cách tài tình khi ví "công cha" với "núi ngất trời" – hình ảnh vĩ đại, vững chãi, đại diện cho chỗ dựa và sự gánh vác; còn "nghĩa mẹ" được ví như "nước biển Đông" – dạt dào, vô tận, không bao giờ vơi cạn. Sự kết hợp giữa các từ chỉ dung lượng cực đại ("ngất trời", "biển Đông") làm tôn lên sự vô giá, thiêng liêng của tình mẫu tử và phụ tử. Đoạn thơ sử dụng những từ ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng lại mang sức nặng của ngàn năm văn hiến, hướng con người đến cái gốc của chữ "Hiếu". Từ "núi" và "nước" hòa quyện, tạo nên một chỉnh thể không gian trọn vẹn, cũng như tình yêu của cha mẹ bao bọc trọn đời con. Đọc bài ca dao, em không khỏi bồi hồi và tự hứa với bản thân phải sống có trách nhiệm, hiếu kính để đền đáp một phần công lao trời biển ấy. Bài tham khảo Mẫu 8 Bài thơ lục bát khiến em xúc động sâu sắc nhất là bài Bầm ơi của Tố Hữu. Đọc bài thơ, em cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Hình ảnh người mẹ nông dân hiện lên thật giản dị nhưng giàu đức hi sinh. Qua những câu thơ chan chứa yêu thương, người con nơi chiến khu luôn nhớ về mẹ với niềm thương xót và day dứt khôn nguôi. Em đặc biệt xúc động trước hình ảnh người mẹ “lưng còng xuống ruộng”, chịu bao mưa nắng, vất vả vì con. Chỉ bằng những chi tiết đời thường, Tố Hữu đã làm hiện lên tình mẹ mênh mông và nỗi nhớ mẹ da diết của người chiến sĩ. Thể thơ lục bát với âm điệu ngọt ngào như lời ru khiến cảm xúc bài thơ càng thêm sâu lắng. Cách gieo vần mềm mại kết hợp cùng các từ láy giàu sức gợi đã tạo nên giọng thơ tha thiết, chân thành. Điệp từ “bầm” được lặp lại nhiều lần như tiếng gọi nghẹn ngào đầy thương nhớ. Đọc bài thơ, em càng thấm thía công lao của mẹ và tự nhắc mình phải biết yêu thương, quan tâm đến cha mẹ nhiều hơn khi còn có thể. Bài tham khảo Mẫu 9 Trong những bài thơ lục bát em từng học, Việt Bắc của Tố Hữu để lại trong em nhiều cảm xúc khó quên nhất. Bài thơ như một khúc hát ân tình tha thiết giữa người cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc sau những năm tháng gắn bó. Đọc từng câu thơ, em cảm nhận được tình nghĩa thủy chung sâu nặng giữa con người với con người trong hoàn cảnh gian lao của dân tộc. Những hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc hiện lên thật đẹp và thơ mộng: rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, ánh trăng hòa bình hay tiếng hát ân tình vang vọng núi rừng. Em đặc biệt ấn tượng với bức tranh tứ bình vừa mang vẻ đẹp thiên nhiên vừa tôn lên vẻ đẹp con người lao động. Không chỉ đẹp về nội dung, bài thơ còn hấp dẫn bởi nghệ thuật thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Nhịp thơ uyển chuyển như lời ca dao khiến cảm xúc thêm ngọt ngào, sâu lắng. Các biện pháp điệp từ, hoán dụ và lối đối đáp quen thuộc trong dân ca đã làm nổi bật tình cảm gắn bó son sắt của con người Việt Nam thời kháng chiến. Bài thơ giúp em thêm yêu quê hương đất nước, biết trân trọng quá khứ hào hùng và sống nghĩa tình hơn với mọi người xung quanh. Bài tham khảo Mẫu 10 Bài thơ lục bát khiến em xúc động nhất là bài Truyện Kiều của Nguyễn Du. Với thể thơ lục bát mềm mại, giàu nhạc điệu, tác phẩm đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Những câu thơ giàu hình ảnh và cảm xúc đã khắc họa số phận đau khổ, bất hạnh của Thúy Kiều – một người con gái tài sắc nhưng phải chịu nhiều éo le trong cuộc đời. Em đặc biệt cảm phục tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi ông luôn đồng cảm, xót thương cho những con người nhỏ bé trong xã hội cũ. Bên cạnh đó, vẻ đẹp của thể thơ lục bát cũng làm em ấn tượng bởi nhịp điệu uyển chuyển, gần gũi như lời ru của bà, của mẹ. Đọc bài thơ, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của tiếng Việt mà còn hiểu hơn giá trị của lòng yêu thương, sự cảm thông giữa con người với con người. Tác phẩm đã để lại trong em nhiều suy nghĩ và dư âm khó quên.
|






Danh sách bình luận