Viết một đoạn văn trình bày cảm xúc của em về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ.

- Giới thiệu tác phẩm: Nêu tên bài thơ, tên tác giả và thể thơ (4 chữ hoặc 5 chữ). - Cảm xúc chung: Phát biểu ấn tượng, cảm xúc bao quát nhất của em sau khi đọc bài thơ (ví dụ: xúc động, tự hào, bồi hồi, trân trọng...).

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

Mở đoạn

- Giới thiệu tác phẩm: Nêu tên bài thơ, tên tác giả và thể thơ (4 chữ hoặc 5 chữ).

- Cảm xúc chung: Phát biểu ấn tượng, cảm xúc bao quát nhất của em sau khi đọc bài thơ (ví dụ: xúc động, tự hào, bồi hồi, trân trọng...).

Thân đoạn

- Cảm xúc về nội dung (Bức tranh thơ và thông điệp):

+ Bài thơ gợi lên hình ảnh, bức tranh gì? (Cảnh thiên nhiên quê hương, hình ảnh người mẹ, người lính, hay tình cảm gia đình...).

+ Những chi tiết, hình ảnh nào trong bài thơ khiến em xúc động hoặc ấn tượng nhất? Vì sao?

+ Tác giả muốn gửi gắm thông điệp, bài học hay tình cảm gì qua bài thơ? Em học được điều gì từ thông điệp đó?

- Cảm xúc về nghệ thuật (Hình thức thể hiện):

+ Thể thơ (4 chữ/5 chữ): Nhịp điệu thơ như thế nào? (Thể thơ 4 chữ thường có nhịp 2/2 nhanh, dứt khoát; thể thơ 5 chữ thường có nhịp 3/2 hoặc 2/3 uyển chuyển, sâu lắng). Nhịp điệu đó giúp diễn tả tình cảm của tác giả ra sao?

+ Biện pháp tu từ: Tác giả có sử dụng các biện pháp như nhân hóa, so sánh, điệp từ... không? Chúng có tác dụng gì trong việc làm nổi bật cảm xúc?

+ Ngôn ngữ, hình ảnh: Cách gieo vần, sử dụng từ láy, từ ngữ gợi tả, gợi cảm.

Kết đoạn

- Khẳng định giá trị: Khẳng định lại ý nghĩa và vị trí của bài thơ trong lòng em (Bài thơ để lại dư âm sâu sắc, khó quên...).

- Liên hệ bản thân: Bài thơ thay đổi nhận thức hoặc nuôi dưỡng tình cảm gì trong tâm hồn em?


Bài siêu ngắn Mẫu 1

Bài thơ "Đồng dao mùa xuân" của Nguyễn Khoa Điềm đã để lại trong em niềm xúc động và biết ơn sâu sắc. Bằng thể thơ bốn chữ với nhịp điệu 2/2 nhanh, vui tươi như một bài đồng dao, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người lính trẻ kiên cường. Anh ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, chưa kịp yêu, chưa từng uống cà phê, mang theo cả tuổi xuân hiến dâng cho Tổ quốc. Dù anh đã ngã xuống nơi Trường Sơn xa xôi, nhưng hình bóng anh vẫn sống mãi cùng ngọn núi, dòng suối và mùa xuân của đất nước. Những biện pháp tu từ như điệp từ, nhân hóa cùng hình ảnh "ngồi lặng lẽ", "bè trầm" khiến lòng em nghẹn ngào. Bài thơ không chỉ là lời ngợi ca sự hy sinh thầm lặng mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về lòng yêu nước và trách nhiệm sống cống hiến cho quê hương.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Đọc bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh, em luôn cảm thấy lòng mình bình yên và bồi hồi trước khoảnh khắc giao mùa tinh tế. Thể thơ năm chữ với nhịp điệu uyển chuyển, chậm rãi đã diễn tả trọn vẹn sự biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên. Em đặc biệt ấn tượng với những tín hiệu thu sang rất lạ: hương ổi phả vào gió se, sương chùng chình qua ngõ. Từ "phả" và "chùng chình" gợi lên một cái nhìn đầy chất thơ và nghệ thuật. Đất trời từ hạ sang thu không ồn ào mà lặng lẽ, sâu lắng, giống như con người khi bước sang sườn dốc bên kia của cuộc đời – trở nên điềm đạm và vững vàng hơn trước những "vang động" của cuộc sống. Qua bài thơ, em thêm yêu thiên nhiên quanh mình và học được cách trân trọng, cảm nhận những thay đổi tinh vi, đẹp đẽ của cuộc đời.


Bài siêu ngắn Mẫu 3

Bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" của Minh Huệ là một khúc ca cảm động ghi lại tình yêu thương bao la của Bác Hồ dành cho quân và dân ta. Qua thể thơ năm chữ giàu chất tự sự và âm điệu tâm tình, em như được chứng kiến một đêm canh thâu nơi chiến khu Việt Bắc. Hình ảnh Bác đốt lửa, đi dém chăn cho từng chiến sĩ với bước chân "nhẹ nhõm" thể hiện sự ân cần, chăm chút như một người cha già. Cơn mưa lâm thâm ngoài trời càng làm nổi bật lòng quyết tâm và sự lo lắng của Bác dành cho những người dân công phải ngủ ngoài rừng. Niềm vui sướng, cảm động của anh đội viên khi thức dậy thấy Bác vẫn ngồi đinh ninh cũng chính là nỗi lòng của em. Tác phẩm khơi dậy trong em lòng kính yêu vô hạn đối với vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng giản dị của dân tộc.


Bài chi tiết Mẫu 1

Trong những bài thơ bốn chữ em từng đọc, bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng. Với thể thơ năm chữ nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu, bài thơ gợi lên hình ảnh tiếng gà thân thuộc của làng quê và những kỉ niệm tuổi thơ êm đềm bên người bà kính yêu. Đọc từng câu thơ, em cảm nhận được tình cảm yêu thương tha thiết mà người cháu dành cho bà. Tiếng gà không chỉ là âm thanh bình dị của cuộc sống mà còn trở thành chiếc cầu nối đưa nhân vật trữ tình trở về với những ngày thơ bé đầy yêu thương. Hình ảnh người bà hiện lên giản dị nhưng vô cùng ấm áp qua sự chăm sóc, chắt chiu và hi sinh lặng thầm. Em đặc biệt xúc động trước tình cảm gia đình thiêng liêng được gửi gắm trong bài thơ. Từ những điều bình dị của quê hương, nhà thơ đã khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước. Bài thơ giúp em hiểu rằng trong cuộc sống, những kỉ niệm thân thương và tình cảm gia đình luôn là điều quý giá nhất.

Bài chi tiết Mẫu 2

Một bài thơ năm chữ khiến em xúc động nhất là Ông đồ của Vũ Đình Liên. Bài thơ gợi lên trong em niềm thương cảm sâu sắc trước hình ảnh ông đồ già cô đơn giữa sự đổi thay của thời gian. Qua những câu thơ nhẹ nhàng mà đầy day dứt, tác giả đã tái hiện cảnh ông đồ từng được mọi người yêu quý mỗi dịp Tết đến, nhưng rồi dần bị lãng quên khi xã hội đổi thay. Em cảm thấy xót xa trước hình ảnh “giấy đỏ buồn không thắm” và “mực đọng trong nghiên sầu”, bởi dường như không chỉ con người mà cả cảnh vật cũng mang nỗi buồn tiếc nuối. Bài thơ giúp em hiểu hơn về sự tàn phai của những giá trị văn hóa xưa cũ trước dòng chảy của cuộc sống hiện đại. Đồng thời, em càng thêm trân trọng những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Với giọng thơ trầm lắng, giàu cảm xúc, Ông đồ đã để lại trong lòng em nhiều suy nghĩ và dư âm sâu sắc.


Bài chi tiết Mẫu 3

Bài thơ "Mẹ" của Đỗ Trung Lai đã chạm đến khoảng lặng sâu thẳm nhất trong tâm hồn em, gieo vào lòng em một nỗi xót xa và niềm thương mẹ vô hạn. Tác giả đã vô cùng khéo léo khi lựa chọn thể thơ bốn chữ với nhịp điệu ngắn, dứt khoát như những nhát cắt của thời gian. Hình ảnh người mẹ được đặt trong sự đối chiếu tương phản đầy ám ảnh với cây cau: "Lưng mẹ còng rồi / Cau thì vẫn thẳng", "Cau ngọn xanh rờn / Đầu mẹ bạc trắng". Sự đối lập ấy làm nổi bật quy luật khắc nghiệt của tuổi già, khi mỗi ngày trôi qua, mẹ lại gầy đi, yếu hơn để nuôi con khôn lớn. Đọc đến câu thơ "Một miếng cau khô / Khô gầy như mẹ", em không khỏi nghẹn ngào trước sự ví von đầy đau đớn, lột tả tấm thân gầy guộc, héo mòn vì sương gió của người mẹ tảo tần. Câu hỏi tu từ cuối bài "Sao mẹ ta già?" vang lên như một tiếng nấc nghẹn, một lời chất vấn ông trời đầy bất lực nhưng chứa đựng tình yêu thương kính sâu sắc. Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó vẫn nhắc nhở em phải biết trân trọng, yêu thương và hiếu thảo với mẹ nhiều hơn khi còn có thể, bởi thời gian chẳng đợi chờ một ai.


Bài chi tiết Mẫu 4

Mỗi lần đọc bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh, trong lòng em lại trào dâng một cảm giác bình yên, ấm áp và nỗi nhớ quê hương da diết. Tác phẩm viết theo thể thơ năm chữ tự do, nhịp điệu linh hoạt như dòng hồi tưởng tự nhiên của người chiến sĩ trên đường hành quân. Chỉ từ một âm thanh quen thuộc – tiếng gà nhảy ổ giữa trưa nắng, cả một vòm trời tuổi thơ tươi đẹp bên người bà kính yêu đã sống dậy. Hình ảnh người bà tần tảo, chắt chiu từng quả trứng cho con gà mái ấp, lo lắng trời sương muối làm đàn gà chết tiệt để cuối năm mua cho cháu quần áo mới hiện lên thật cảm động. Sự đan xen giữa tình bà cháu và tình yêu đất nước chính là nét đẹp sâu sắc của bài thơ. Người chiến sĩ chiến đấu hôm nay không chỉ vì những mục đích cao cả, mà trước hết là vì những điều bình dị nhất: vì tiếng gà cục tác, vì giảng nhà thân thuộc và vì ổ trứng hồng tuổi thơ. Biện pháp điệp từ "Tiếng gà trưa" được lặp lại nhiều lần như một nốt nhạc khơi gợi mạch cảm xúc, làm cho đoạn thơ giàu tính nhạc và thấm đẫm chất trữ tình. Bài thơ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về cội nguồn, về tình cảm gia đình thiêng liêng – bệ đỡ tinh thần vững chắc cho mỗi con người.


Bài chi tiết Mẫu 5

"Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải là một tiếng lòng tha thiết, một bài ca bất hủ về tình yêu cuộc sống và khát vọng cống hiến. Được viết trong những ngày cuối đời trên giường bệnh, bài thơ bằng thể thơ năm chữ nhạc điệu thiết tha, trìu mến đã làm em vô cùng khâm phục ý chí của tác giả. Ở những khổ đầu, bức tranh mùa xuân xứ Huế hiện lên thật đẹp và tràn đầy sức sống với dòng sông xanh, bông hoa tím và tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Cảm xúc của nhà thơ đạt đến cao trào khi chuyển từ mùa xuân của thiên nhiên sang "mùa xuân nho nhỏ" của lòng người. Ước nguyện được làm "một con chim hót", "một cành hoa", "một nốt trầm xao xuyến" nghe thật giản dị nhưng lại chứa đựng một triết lý sống cao đẹp. Điệp từ "ta làm" cùng nhịp thơ dồn dập thể hiện khát vọng mãnh liệt muốn được hòa nhập, được cống hiến phần tinh túy nhất của cuộc đời mình cho đất nước, bất kể đó là khi "tuổi hai mươi" hay lúc "tóc bạc". Bài thơ đã truyền cho em một nguồn năng lượng tích cực, khơi dậy trong em lối sống đẹp, sống có ích và biết sẻ chia với cuộc đời chung.


Bài chi tiết Mẫu 6

Bài thơ "Gặp lá cơm nếp" của nhà thơ Thanh Thảo đã để lại trong em nỗi xúc động sâu sắc về tình mẫu tử hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, tác phẩm mở ra bức tranh về một người lính trên đường hành quân, bất ngờ gặp hương lá cơm nếp quen thuộc nơi đại ngàn hoang vu. Mùi hương ấy đã khơi dậy trong anh ký ức thiêng liêng về người mẹ già nơi quê nhà bên bếp lửa, tần tảo chia từng bát xôi mùa gặt. Hình ảnh "Mẹ già vuốt tóc / Thương con ta sầu" cùng nỗi nhớ "thèm bát xôi mùa gặt" khiến em vô cùng nghẹn ngào trước tình cảm gia đình bình dị mà ấm áp. Qua lát cắt tinh tế này, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: tình yêu Tổ quốc không phải điều gì xa xôi, mà nó bắt nguồn từ những điều giản dị, từ tình yêu dành cho người mẹ thân thương. Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ với nhịp điệu 3/2 và 2/3 uyển chuyển, trầm lắng, rất phù hợp với mạch cảm xúc nhớ thương, suy tư của người con. Việc kết hợp các từ ngữ gợi cảm, điệp từ và hình ảnh thơ vừa gần gũi vừa mang tính biểu tượng đã làm nổi bật tình cảm gắn bó máu thịt giữa gia đình và quê hương. Tác phẩm đã khẳng định giá trị bền vững của mình khi chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người. Đối với bản thân em, bài thơ không chỉ nuôi dưỡng lòng hiếu thảo mà còn nhắc nhở em phải biết trân trọng mái ấm gia đình và có trách nhiệm hơn với đất nước hôm nay.


Bài chi tiết Mẫu 7

Bài thơ "Hạt gạo làng ta" của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa luôn mang đến cho em niềm bồi hồi và sự trân trọng sâu sắc đối với những thành quả lao động. Qua thể thơ bốn chữ với nhịp điệu 2/2 nhanh, dứt khoát nhưng lại chứa chan tình cảm, tác giả đã vẽ nên bức tranh làng quê Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Hạt gạo nhỏ bé hiện lên không chỉ có vị phù sa, hương sen thơm mà còn thấm đẫm giọt mồ hôi của người mẹ hiền "trưa tháng sáu / nước như ai nấu / chết cả cá cờ / cua ngoi lên bờ / mẹ em xuống cấy". Những chi tiết tả thực đầy ám ảnh ấy giúp em thấu hiểu sự lam lũ, nhọc nhằn của người nông dân để làm ra hạt vàng, hạt ngọc. Giữa bom đạn kẻ thù, các bạn nhỏ vẫn hào hứng "gánh phân chinking", "vục băm chấm cỏ" để gửi ra tiền tuyến. Điệp từ "Hạt gạo làng ta" được lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ như một điệp khúc tự hào, khẳng định giá trị to lớn của hạt gạo quê hương. Phép so sánh, đối lập cùng ngôn ngữ mộc mạc, giàu sức gợi đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình người, tình hậu phương son sắt. Bài thơ là một tác phẩm có giá trị vượt thời gian, neo chặt trong lòng người đọc bao thế hệ. Sau khi đọc xong, em tự nhắc nhở bản thân phải biết ơn người lao động, biết trân trọng từng bữa cơm hằng ngày và nuôi dưỡng lòng yêu mến cội nguồn thôn quê.


Bài chi tiết Mẫu 8

Bài thơ "Mưa" của Trần Đăng Khoa đã để lại trong em một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ và thích thú về bức tranh thiên nhiên làng quê trước và trong cơn mưa rào. Sử dụng thể thơ bốn chữ mang nhịp điệu dồn dập, rộn rã, tác giả đã tái hiện một cuộc "trẩy hội" đầy náo nhiệt của cỏ cây, loài vật. Bức tranh thiên nhiên hiện lên sinh động qua những hình ảnh nhân hóa độc đáo: "mối trẻ bay ra", "gà con rối rít", "ông trời mặc áo giáp đen", "cây mía múa gươm". Tất cả như đang chuyển động, khẩn trương chuẩn bị đón cơn mưa mát lành. Chi tiết khiến em xúc động nhất chính là hình ảnh con người ở cuối bài: "Bố em đi cày về / Đội sấm / Đội chớp / Đội cả trời mưa". Hình ảnh người cha hiện lên sừng sững, hiên ngang giữa dông bão, đại diện cho vẻ đẹp lao động kiên cường của người nông dân Việt Nam. Nghệ thuật nhân hóa, so sánh đỉnh cao cùng việc gieo vần chân linh hoạt đã biến những sự vật vô tri trở nên có hồn và đầy sức sống. Bài thơ không chỉ có giá trị hội họa độc đáo mà còn lưu lại dư âm sâu sắc về tình yêu cuộc sống, yêu lao động. Qua tác phẩm, em thêm yêu mến cảnh sắc quê hương và càng trân trọng hơn hình bóng nhọc nhằn, vĩ đại của những người cha, người mẹ chịu thương chịu khó.


Bài chi tiết Mẫu 9

Trong những bài thơ năm chữ em từng đọc, Ánh trăng của Nguyễn Duy là tác phẩm để lại trong em nhiều suy ngẫm sâu sắc. Bài thơ không chỉ gợi lên vẻ đẹp bình dị của vầng trăng quê hương mà còn đánh thức trong lòng người đọc tình cảm thủy chung, lòng biết ơn đối với quá khứ. Đọc bài thơ, em cảm thấy vừa bồi hồi, xúc động vừa lặng lẽ tự nhìn lại chính mình. Bài thơ mở ra hình ảnh vầng trăng gắn bó với tuổi thơ, với đồng ruộng, sông biển và những năm tháng chiến tranh gian khổ. Trăng từng là người bạn tri kỉ của con người, âm thầm đồng hành qua bao kỉ niệm. Thế nhưng khi cuộc sống trở nên đầy đủ hơn, con người lại vô tình lãng quên ánh trăng nghĩa tình năm cũ. Em đặc biệt xúc động ở khoảnh khắc nhân vật trữ tình “ngửa mặt lên nhìn mặt”, bởi đó là giây phút con người đối diện với chính lương tâm mình. Ánh trăng im lặng nhưng bao dung, khiến người đọc nhận ra sự vô tâm của bản thân trước quá khứ nghĩa tình. Qua bài thơ, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: con người phải biết sống ân nghĩa, thủy chung, không được quên những tháng ngày gian khó đã từng nâng đỡ mình. Thể thơ năm chữ với nhịp điệu chậm rãi, sâu lắng đã giúp dòng cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm được thể hiện thật tự nhiên. Hình ảnh “ánh trăng” mang ý nghĩa biểu tượng giàu sức gợi. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu chiều sâu khiến bài thơ càng trở nên ám ảnh trong lòng người đọc. Khép lại bài thơ, em hiểu rằng trong cuộc sống hiện đại, con người càng cần biết trân trọng quá khứ và những tình cảm chân thành quanh mình. Ánh trăng để lại trong em dư âm đẹp đẽ về lòng biết ơn và cách sống nghĩa tình.


Bài chi tiết Mẫu 10

Bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa là một bài thơ bốn chữ mà em rất yêu thích. Đọc bài thơ, em như được hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên sống động của cơn mưa làng quê. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh gần gũi, ngộ nghĩnh cùng cách nhân hóa độc đáo khiến mọi vật hiện lên thật sinh động và đáng yêu. Cơn mưa trong bài thơ không hề dữ dội mà mang vẻ tinh nghịch, vui tươi của tuổi thơ. Em đặc biệt ấn tượng với cách nhà thơ quan sát thiên nhiên rất tinh tế, từ hàng cây, ngọn cỏ đến tiếng sấm, tiếng mưa đều trở nên có hồn. Qua bài thơ, em cảm nhận được tình yêu thiên nhiên tha thiết và tâm hồn trong trẻo của tác giả. Những câu thơ ngắn gọn nhưng giàu hình ảnh khiến em thêm yêu vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam. Bài thơ không chỉ đem lại cảm giác vui tươi mà còn giúp em biết trân trọng những điều giản đơn quanh mình.


BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close