Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó (Hồ Chí Minh)- Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta nhắc đến Người không phải chỉ với tư cách của một người đem đến ánh sáng độc lập, mà còn ngưỡng vọng Người trong vai trò là một nhà thơ, một người nghệ sĩ - Tức cảnh Pác Bó là bài thơ khắc họa bức chân dung lạc quan của người nghệ sĩ ấy Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý I/ Mở bài - Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta nhắc đến Người không phải chỉ với tư cách của một người đem đến ánh sáng độc lập, mà còn ngưỡng vọng Người trong vai trò là một nhà thơ, một người nghệ sĩ - Tức cảnh Pác Bó là bài thơ khắc họa bức chân dung lạc quan của người nghệ sĩ ấy II/ Thân bài 1. Câu thơ đầu (câu khai) - Câu thơ 7 chữ khắc họa rõ cuộc sống sinh hoạt thường nhật của vị lãnh tụ: + Nơi ở: trong hang + Nơi làm việc: suối + Thời gian: sáng- tối + Hoạt động: ra- vào ⇒ Sử dụng các cặp từ trái nghĩa, nhịp thơ linh hoạt, diễm tả lối sống đều đặn, quy củ của Bác, sự hòa hợp với thiên nhiên, với cuộc sống núi rừng 2. Câu tiếp (câu thừa) - Câu thơ làm ta hiểu rõ hơn về cách ăn uống của Bác với những đồ ăn giản dị, đặc trưng của núi rừng: cháo bẹ, rau măng + Cháo nấu từ ngô, rau măng thì lấy từ cây măng rừng, của trúc tre trên rừng + Những thức ăn giản dị hằng ngày, mộc mạc, đơn sơ, dân dã ⇒ sự gian nan vất vả ⇒ Bác vẫn trong tư thế sẵn sàng, bất chấp khó khăn, gian khổ để đạt được mục đích là giải phóng dân tộc 3. Câu thứ ba (câu chuyển) - Điều kiện làm việc: bàn đá chông chênh ⇒ Khó khăn, thiếu thốn - Công việc Bác làm: dịch sử Đảng ⇒ Công việc vĩ đại, quan trọng ⇒ Phép đối làm nổi bật lên sự khó khăn, Bác yêu thiên nhiên, yêu công việc Cách mạng, luôn làm chủ được cuộc sống dù trong bất kì hoàn cảnh nào 4. Câu cuối (câu hợp) - Cuộc đời cách mạng được nhấn mạnh, Bác hoạt động cách mạng, một công việc không hề dễ dàng và đơn giản, đặc biệt trong hoàn cảnh gian khổ như vậy, thế mà người nghệ sĩ, chiến sĩ vẫn cảm thấy “sang”: + “Sang”- sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng Bác luôn cảm thấy thoải mái, sang trong và vui thích + Chữ “sang” thể hiện niềm vui, niềm tự hào khi thực hiện được lí tưởng của Bác ⇒ Người có một phong thái ung dung, hiên ngang, chủ động, lạc quan và luôn yêu cuộc sống ⇒ đây chính là nhãn tự của bài thơ (từ quan trọng thể hiện, nổi bật chủ đề cả bài) và cũng chính là của cuộc đời Bác III/ Kết bài - Khái quát những giá trị nội dung, nghệ thuật tiêu biểu của văn bản - Bài học về tinh thần lạc quan của Bác đối với mỗi người Bài siêu ngắn Mẫu 1 Trong thơ Hồ Chí Minh, thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là nơi thể hiện tinh thần và phong thái sống của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện cuộc sống giản dị, tinh thần lạc quan và niềm vui cách mạng của Bác trong những ngày đầu trở về nước. “Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Hai câu thơ đầu đã tái hiện một cuộc sống sinh hoạt vô cùng đơn sơ. Không gian sống của Bác chỉ là “bờ suối” và “hang”, gợi lên điều kiện thiếu thốn, gian khổ. Nhịp sống được diễn tả qua hai vế đối “sáng ra… tối vào”, cho thấy sự đều đặn, quen thuộc. Thức ăn cũng rất đạm bạc: “cháo bẹ rau măng”. Nhưng điều đáng chú ý là thái độ của Bác: “vẫn sẵn sàng”. Từ “vẫn” thể hiện sự chủ động, chấp nhận hoàn cảnh với tinh thần thoải mái, không hề than vãn. Hai câu thơ sau làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần của người chiến sĩ. Hình ảnh “bàn đá chông chênh” gợi sự thiếu thốn về vật chất, điều kiện làm việc không thuận lợi. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, Bác vẫn “dịch sử Đảng” – một công việc quan trọng, thể hiện tinh thần trách nhiệm lớn lao. Từ “chông chênh” không chỉ tả thực mà còn gợi ra thử thách, khó khăn của con đường cách mạng. Câu thơ cuối là điểm nhấn đặc sắc: “Cuộc đời cách mạng thật là sang.” Từ “sang” ở đây mang ý nghĩa đặc biệt. Không phải là sự giàu có về vật chất, mà là sự giàu có về tinh thần, về lý tưởng. Chính niềm tin vào cách mạng đã khiến cuộc sống gian khổ trở nên có ý nghĩa và đáng quý. Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi. Giọng điệu tự nhiên, pha chút hóm hỉnh đã làm nổi bật tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Tóm lại, Tức cảnh Pác Bó là bức tranh chân thực về cuộc sống của Bác trong những ngày hoạt động cách mạng gian khổ, đồng thời thể hiện phong thái ung dung, lạc quan và niềm tin sâu sắc vào con đường đã chọn. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất phong cách thơ Hồ Chí Minh: giản dị mà sâu sắc. Qua bốn câu thơ ngắn, tác giả đã khắc họa cuộc sống nơi núi rừng Pác Bó và bộc lộ tinh thần lạc quan, yêu đời của mình. “Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Hai câu thơ đầu gợi lên nhịp sống đều đặn, giản dị. Không gian sinh hoạt của Bác chỉ quanh quẩn “bờ suối” và “hang” – những nơi rất tự nhiên, hoang sơ. Điều đó cho thấy hoàn cảnh sống thiếu thốn, nhưng cũng đồng thời gợi cảm giác gần gũi với thiên nhiên. Thức ăn “cháo bẹ rau măng” là những món ăn dân dã, giản đơn. Tuy vậy, từ “vẫn sẵn sàng” cho thấy thái độ tích cực, chủ động của Bác trước hoàn cảnh. Hai câu thơ sau tập trung vào công việc cách mạng. Dù điều kiện làm việc không thuận lợi – “bàn đá chông chênh” – nhưng Bác vẫn miệt mài “dịch sử Đảng”. Điều này thể hiện tinh thần làm việc nghiêm túc và ý chí vượt khó. Hình ảnh “chông chênh” còn có thể hiểu là biểu tượng cho con đường cách mạng còn nhiều gian nan. Câu thơ cuối mang ý nghĩa khái quát: “Cuộc đời cách mạng thật là sang.” Đây là một cách nói đầy tính nghệ thuật. Từ “sang” được dùng trong hoàn cảnh thiếu thốn lại càng làm nổi bật quan điểm sống của Bác: giá trị của cuộc sống không nằm ở vật chất mà ở lý tưởng và mục đích cao đẹp. So với những bài thơ khác của Hồ Chí Minh, như Ngắm trăng, ta thấy điểm chung là tinh thần lạc quan, ung dung. Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng giữ được phong thái bình thản và niềm tin vào tương lai. Như vậy, Tức cảnh Pác Bó không chỉ là một bài thơ tả cảnh mà còn là một bài thơ thể hiện quan niệm sống cao đẹp. Qua đó, ta hiểu hơn về nhân cách và tâm hồn của Hồ Chí Minh. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Trong số những bài thơ viết về cuộc sống cách mạng của Hồ Chí Minh, Tức cảnh Pác Bó nổi bật bởi sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực gian khổ và tinh thần lạc quan. Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã khắc họa rõ nét cuộc sống và tâm thế của mình trong những ngày đầu hoạt động ở Pác Bó. “Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Câu thơ đầu mở ra một không gian sinh hoạt giản dị. Nhịp sống được lặp lại đều đặn qua “sáng ra… tối vào”, tạo cảm giác quen thuộc, ổn định. Tuy nhiên, không gian ấy lại rất thiếu thốn: chỉ có “bờ suối” và “hang”. Điều này cho thấy hoàn cảnh sống gian khổ của người chiến sĩ cách mạng. Câu thơ thứ hai tiếp tục khắc họa cuộc sống vật chất. “Cháo bẹ rau măng” là những món ăn dân dã, đạm bạc. Nhưng điều đáng chú ý là thái độ của tác giả: “vẫn sẵn sàng”. Từ “vẫn” thể hiện sự chấp nhận và thích nghi với hoàn cảnh, đồng thời cho thấy tinh thần lạc quan. Hai câu thơ sau chuyển sang miêu tả công việc. Hình ảnh “bàn đá chông chênh” vừa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Nó cho thấy điều kiện làm việc khó khăn, đồng thời gợi ra những thử thách của con đường cách mạng. Dù vậy, Bác vẫn miệt mài “dịch sử Đảng”, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao. Câu thơ cuối là sự khẳng định đầy bất ngờ: “Cuộc đời cách mạng thật là sang.” Từ “sang” được sử dụng trong hoàn cảnh thiếu thốn tạo nên một sự đối lập thú vị. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở vật chất mà ở lý tưởng cao đẹp. Xét về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh cụ thể, gần gũi. Giọng điệu tự nhiên, pha chút hóm hỉnh làm nổi bật phong thái ung dung của tác giả. Tóm lại, Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ giàu ý nghĩa. Qua đó, Hồ Chí Minh đã thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng. Bài tham khảo Mẫu 1 Bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, thể hiện sâu sắc phong thái sống ung dung, tinh thần lạc quan và bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng đầu đầy gian khổ của cách mạng Việt Nam. Qua bốn câu thơ súc tích, Bác đã để lại một bức chân dung tinh thần đẹp đẽ của con người cách mạng giữa núi rừng Việt Bắc. Bài thơ được sáng tác vào tháng 2 năm 1941, khi Bác Hồ vừa trở về Tổ quốc sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Pác Bó (Cao Bằng) là nơi Người sống và làm việc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, hiểm nguy, nhưng lại là “đầu nguồn” của cách mạng Việt Nam. Ngay từ nhan đề Tức cảnh Pác Bó, có thể thấy đây là bài thơ được khơi nguồn từ cảnh thực. Tuy nhiên, không phải cảnh vật chi phối cảm xúc con người, mà chính tinh thần lạc quan, làm chủ hoàn cảnh của Bác đã vượt lên trên mọi gian khổ, biến cảnh sống thiếu thốn thành nguồn cảm hứng thi ca. Câu thơ đầu tiên: Sang câu thơ thứ hai: Câu thơ thứ ba: Đến câu thơ cuối: Về nghệ thuật, bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật được vận dụng linh hoạt, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng điệu vui tươi, hóm hỉnh mà sâu sắc. Qua đó, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ phong cách thơ độc đáo của mình: vừa là thi sĩ giàu cảm xúc, vừa là chiến sĩ kiên cường. Tóm lại, Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Tác phẩm không chỉ khắc họa chân dung tinh thần cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về thái độ sống lạc quan, bản lĩnh và niềm tin vào lý tưởng cao cả. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu, giúp người đọc thêm trân trọng vẻ đẹp của con người cách mạng Việt Nam trong những năm tháng gian lao của lịch sử dân tộc. Bài tham khảo Mẫu 2 Bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ giản dị mà sâu sắc của Người. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, Bác đã tái hiện chân thực cuộc sống gian khổ nơi núi rừng Việt Bắc, đồng thời bộc lộ tinh thần lạc quan, niềm vui sống và bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng đầu đầy thử thách. Bài thơ ra đời vào đầu năm 1941, khi Bác Hồ trở về Tổ quốc sau ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài. Pác Bó (Cao Bằng) là nơi Người trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong điều kiện hết sức khó khăn và nguy hiểm. Trong hoàn cảnh ấy, nhan đề Tức cảnh Pác Bó cho thấy bài thơ được viết từ cảnh thực, từ những gì diễn ra hằng ngày. Tuy nhiên, điều đáng quý là từ cảnh sống thiếu thốn, Bác đã tìm thấy niềm vui và cảm hứng thi ca, thể hiện rõ tinh thần làm chủ hoàn cảnh của người cách mạng. Câu thơ mở đầu: Sang câu thơ thứ hai: Câu thơ thứ ba: Khép lại bài thơ là câu: Xét về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng điệu tự nhiên mà sâu sắc. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và tinh thần hiện đại đã làm nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm. Có thể khẳng định, Tức cảnh Pác Bó không chỉ là một bài thơ miêu tả cuộc sống sinh hoạt nơi căn cứ cách mạng mà còn là lời khẳng định đẹp đẽ về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và phẩm chất cao quý của con người cách mạng. Qua bài thơ, người đọc càng thêm kính trọng và yêu mến Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại với tâm hồn trong sáng, giàu nghị lực và niềm tin. Bài tham khảo Mẫu 3 Trong dòng chảy thơ ca cách mạng Việt Nam, Tức cảnh Pác Bó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm đặc biệt giản dị mà giàu sức gợi. Bài thơ không chỉ ghi lại những nét sinh hoạt đời thường của Bác nơi núi rừng Cao Bằng đầu năm 1941 mà còn thể hiện rõ phong thái sống ung dung, tinh thần lạc quan và bản lĩnh kiên định của người chiến sĩ cộng sản trước muôn vàn gian khổ. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh lịch sử có ý nghĩa trọng đại: sau ba mươi năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Bác Hồ trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Pác Bó trở thành căn cứ đầu tiên, nơi hội tụ của gian khổ, hiểm nguy nhưng cũng là nơi khởi nguồn cho những quyết sách lịch sử. Nhan đề Tức cảnh Pác Bó cho thấy cảm hứng thơ được nảy sinh từ cảnh sống thực tế. Tuy nhiên, điều nổi bật là từ hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, Bác không bộc lộ nỗi nhọc nhằn mà lại thể hiện một tinh thần làm chủ hoàn cảnh, biến gian khổ thành niềm vui sống. Câu thơ đầu: Đến câu thơ thứ hai: Câu thơ thứ ba: Khép lại bài thơ là câu: Về phương diện nghệ thuật, Tức cảnh Pác Bó được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, lời thơ ngắn gọn, hình ảnh mộc mạc, giọng điệu tự nhiên, pha chút hóm hỉnh. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và tinh thần hiện đại đã tạo nên phong cách thơ độc đáo của Hồ Chí Minh. Tóm lại, Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện sinh động vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm không chỉ giúp người đọc hiểu thêm về cuộc sống gian khổ của cách mạng Việt Nam buổi đầu mà còn để lại bài học sâu sắc về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và niềm tin vững chắc vào những giá trị cao đẹp của cuộc đời. Bài tham khảo Mẫu 4 Bác Hồ về nước tháng 2/1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước. Khi đó, tình hình thế giới và trong nước có những biến động vô cùng to lớn (đại thế chiến thứ hai, Pháp lại khủng bố cách mạng dã man, Nhật vào Đông Dương; ở châu Âu, Pháp đầu hàng phát xít Đức..), Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, vạch đường lối cách mạng trong tình hình mới, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh (Việt Nam độc lập đồng minh) đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân đánh Pháp đuổi Nhật, tranh thủ thời cơ giành độc lập cho Tổ quốc. Bác sống ở hang Pác Bó (đúng tên là Cấn Bó, nghĩa là đầu nguồn), trong điều kiện sinh hoạt hết sức gian khổ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể lại: “Nơi ở đầu tiên của Bác tại Pác Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẩn là nơi ở tốt nhất. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ rất ít cành lau. Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh Người (...) Sức khoẻ của Bác có phần giảm sút. Bác sốt rét luôn. Thuốc men gần như không có gì ngoài ít lá rừng lấy về sắc uống theo cách chữa bệnh của đồng bào địa phương. Thức ăn cũng rất thiếu (...) Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán trắng, gạo cũng không có, Bác cũng như các anh em khác phải ăn toàn cháo bẹ hàng tháng ròng. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, tôi cũng thấy Bác thích nghi một cách rất tự nhiên. Chẳng hiểu Bác được rèn luyện từ bao giờ, như thế nào mà mọi biến cố đều không mảy may lay chuyển được...” Mặc dù sống trong điều kiện gian khổ, hiểm nghèo như vậy nhưng Bác Hồ rất vui. Bác rất vui vì sau bao năm xa nước nay được sống và trực tiếp lãnh đạo phong trào trong nước. Đặc biệt, vì với nhân quan chính trị sắc bén. Người biết rằng thời cơ giành độc lập hoàn toàn đang tới, dù cục diện trước mắt còn tất đen tối. “Đối với Nguyễn Ái Quốc và các bạn chiến đấu của Người những ngày tháng ở Pác Bó tựa như những ngày vui bất tận, rực rỡ sắc màu của cảnh chờ đợi những chuyển biến vĩ đại (...) chưa bao giờ Nguyễn Ái Quốc làm việc nhiệt tình như vậy, Người như trẻ ra đến hai, ba chục tuổi. Bài thơ với bốn câu, có giọng đùa vui hóm hỉnh, đã toát lên một cảm giác vui thích, thoải mái. Phân tích bài thơ chính là phân tích tìm hiểu niềm vui thoải mái đó, vì đằng sau niềm vui đó là vẻ đẹp của một tâm hồn bình dị mà thanh cao, hồn nhiên mà đầy bản lĩnh của Bác Hồ. Câu mở đầu bài thơ có giọng điệu phơi phới, thoải mái, đọc lên, ta có cảm tưởng Bác Hồ sống thật ung dung hoà hợp nhịp nhàng với điệu sông núi rừng: Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Câu thơ ngắt nhịp ở giữa, tạo thành hai vế sóng đôi toát lên cảm giác nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào... Câu thứ hai là một nét cười đùa, cho biết thức ăn của con người sống ở suối, hang ấy thậl đầy đủ, đầy đủ tới dư thừa: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Câu thơ này, có thể hiểu là: dù chỉ có cháo bẹ, rau măng nhưng tinh thần cách mạng vẫn san sàng. Cách hiểu ấy không sai về mặt ngữ pháp, nhưng e không thích hợp lắm với giọng đùa vui thoải mái của cả bài thơ. Có lẽ nên hiểu là: thức ăn (cháo bẹ, rau măng) thì lúc nào cũng có sẵn đó. Câu thứ nhất nói về ở, câu thứ hai nói về ăn, câu thứ ba nói về làm việc, cả ba câu đều là thuật tả sinh hoạt vật chất, chỉ đến câu kết mới phát biểu cảm xúc, ý nghĩ. Hiểu như vậy, sẽ phù hợp với mạch thơ, với kết câu chặt chẽ của bài thơ hơn. Ở đây ta chú ý cách gieo vần bằng (âm ang), gợi cảm giác mở ra và vang xa, đồng thời tạo nên cái thế vững vàng và cảm giác khoáng đạt của bài thơ. Câu thứ ba vần trắc làm nổi bật lên hình tượng ở trung tâm bài thơ, được đặc tả bằng những nét bút đậm, khoẻ, sinh động: Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng. Hai chữ “chông chênh” là lừ láy duy nhất của bài thơ, rất tạo hình; ba chữ “dịch sử Đảng” toàn vần trắc, thật khoẻ, gân guốc như cân lại ba câu Vần bằng vang xa. Đó là hình tượng nhân vật trữ tình được đặt ở trung tâm bài thơ; như vậy con người là chủ thể của thiên nhiên chứ không bị lấn át, hoà lan trong thiên nhiên. Và thật là thú vị, vị “khách lâm tuyền” sống hoà hợp nhịp nhàng với suối, với hang kia, chính là người chiến sĩ cách mạng vĩ đại, đang tựa vào thiên nhiên để hoạt động cải tạo xã hội. Đằng sau cái dáng tạo hình cụ thể của Bác đang ngồi dịch sử Đảng toát lên tư thế lồng lộng của vị lãnh tụ dân tộc, nhà cách mạng vĩ đại - một hình tượng thật đẹp. Bác Hồ đang sáng tạo ra lịch sử nơi “đầu nguồn” - trên cái bối cảnh thiên nhiên, có suối, có rừng... Cảnh tượng ấy, cuộc sống ấy quả thật là đẹp “thật là sang”! Bài thơ kết thúc bằng chừ “sang”, có thể gọi là chữ nhãn tự (chữ mất) đã kết tinh, bật sáng tinh thần toàn bài. Thơ Bác Hồ vừa rất mực giản dị, song lại rất hàm súc, gợi lên bao ý nghĩa sâu xa; vừa đậm đà màu sắc cổ điển, vừa thể hiện đầy đủ tinh thần thời đại. Bài Tức cảnh Pác Bó là điển hình của hồn thơ, phong cách thơ đó. Bài tham khảo Mẫu 5 Không chỉ là nhà hoạt động cách mạng kiên trung, bất khuất Bác còn là một con người hết sức lạc quan trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt. Những vần thơ hóm hỉnh như: Khách đến thì mời ngô nếp nướng Những vần thơ như vậy xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của Bác. Đặc biệt trong thời gian đầu cuộc kháng chiến của dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, phải hoạt động nơi rừng núi Cao Bằng, nhưng không vì thế mà tinh thần ung dung, lạc quan bị mất đi. Nó được thể hiện rõ nét nhất trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó. Mở đầu bài thơ gợi nên không gian hoạt động bí mật của Người ở Việt Bắc: Sáng ra bờ suối tối vào hang. Câu thơ tạo thành hai vế rất cân đối với nhau, thời gian sáng tối, không gian suối – hang, hoạt động ra – vào, cho thấy nhịp sinh hoạt hết sức nề nếp, đều đặn và hết sức nhịp nhàng của người. Đồng thời cũng cho thấy không gian hoạt động bí mật và còn hết sức khó khăn. Trong giai đoạn đầu, cách mạng còn non yếu, chưa có thế và lực nên phải hoạt động bí mật và gặp nhiều khó khăn nhưng người chiến sĩ cách mạng vĩ đại vẫn hết sức ung dung, tự tại. Quy luật vận động đó cũng khẳng định tinh thần làm chủ hoàn cảnh, chủ động, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Không chỉ khó khăn, thiếu thốn trong không gian sống, mà sự khó khăn ấy còn hiện lên trong cả bữa ăn, nơi làm việc của Bác: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Câu thơ cho thấy tâm thế ung dung, lạc quan của Bác. Núi rừng thiên nhiên Việt Bắc vẫn luôn sẵn sàng cháo bẹ, rau măng phục vụ cho người chiến sĩ cách mạng. Câu thơ vừa cho thấy cái gian khổ, khắc nghiệt mà Bác phải đối mặt, nhưng đằng sau đó còn là nụ cười hóm hỉnh của một con người tuy sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn hết sức lạc quan yêu đời. Và hàng ngày Người vẫn ngồi bên bàn đá chông chênh viết Đường cách mệnh, phục vụ cho cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Hai chữ chông chênh gợi lên tư thế không chắc chắn, không vững vàng, cho thấy những khó khăn chất chồng của hiện thực cuộc kháng chiến. Nhưng trên nền hoàn cảnh khắc nghiệt đó, người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt lên để hoàn thành nhiệm vụ, để thực hiện nghĩa vụ, lí tưởng cao đẹp của mình, quả đáng trân trọng và khâm phục. Dù hoạt động cách mạng gian khổ là vậy, nhưng câu kết của toàn bài lại đem đến cho người đọc sự bất ngờ, mà cao hơn chính là cảm phục: Cuộc đời cách mạng thật là sang. Sang được hiểu là sang trọng, đầy đủ. Nhưng trong hoàn cảnh của Bác, ăn uống, nghỉ ngơi thiếu thốn trăm bề liệu có thật sang không? Đối với Bác điều đó không phải sang, mà cái sang nhất ở đây chính là dịch sử Đảng, là được hoạt động cách mạng để thực hiện lí tưởng đẹp đẽ của mình, đem lại độc lập, tự do, cho dân tộc. Giọng điệu thơ tự nhiên, dí dỏm, mà cũng rất khẩu khí, khẳng định tinh thần thép của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ý tại ngôn ngoại, lời thơ hàm súc cô đọng, cùng với giọng điệu thơ hỏm hỉnh, vui đùa đã làm nổi bật lên chân dung người chiến sĩ cách mạng. Đó là một con người mang trong mình phong thái ung dung, lạc quan, mang trong mình lí tưởng cao đẹp, cứu nước, cứu đời. Bài tham khảo Mẫu 6
Nếu nơi đất người Bác phải sống trong gông cùm, khổ lao thì khi trở về quê hương, Bác được là chính mình, được tự do với cuộc sống và lý tưởng cách mạng của mình. Trải qua hết tất thảy những gian nan, khó nhọc, thời gian đã tôi luyện nên người chiến sĩ ấy những phẩm chất cao đẹp mà ít ai có được. Bài thơ " Tức cảnh Pác Pó" là một bài thơ được viết nên với một tâm hồn và cốt cách đẹp của người nghệ sĩ ấy, đó là một bức tranh đời sống của người cách mạng đầy lạc quan, vui vẻ. "Sáng ra bờ suối, tối vào hang Cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nơi ở cũng không được thoải mái, tù túng. Các từ ngữ "sáng ra-tối vào" diễn tả hoạt động thường xuyên, diễn ra hàng ngày như một nhịp điệu, thói quen. Trong hang tối hoang vu không khiến Người sợ hãi, chốn suối nguồn Bác thật gần gũi với thiên nhiên. Bữa cơm nghèo với thức ăn thật đạm bạc, bình dân "cháo bẹ- rau măng", hai từ " sẵn sàng" gợi sự đủ đầy, không thiếu thốn. Giọng thơ hóm hỉnh, bông đùa, cái nghèo, cái khó dường như được xua tan đi mà thay vào đó là sự hài lòng, thoải mái, ung dụng và thú vị với những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống và công việc của chính mình. Dường như, ở Bác vẫn luôn là một con người với cảm quan tin yêu, lòng tha thiết với thiên nhiên, xem thiên nhiên là tri kỉ bởi vậy mà trong hoàn cảnh nào Người cũng thích nghi được. "Bàn ghế chông chênh dịch sử Đảng Điều kiện làm việc cũng thật khó khăn, bàn ghế "chông chênh" tạo thế không vững vàng, chắc chắn, song Bác vẫn tập trung miệt mài với công việc cao cả của cuộc đời mình "dịch sử Đảng". Một tâm thế vô cùng vững vàng, bản lĩnh trong Bác, vật chất tầm thường không làm cho ý chí bị lung lay. Câu thơ như khắc hoạ hình ảnh bức chân dung của Người cách mạng đang ngồi bên bàn làm việc giữa núi rừng hoang sơ, trầm ngâm nghĩ suy về vận mệnh dân tộc, về con đường cứu nước cứ dân thật uy nghi và lớn lao biết bao. Cuối bài thơ là lời khẳng định sắt son về cuộc đời cách mạng, trong niềm tin của Người, không một thời khắc nào là không lo nghĩ cho dân tộc, bởi vậy mà với Bác, lý tưởng cách mạng là lý tưởng" sang" nhất. Khép lại bốn dòng thơ, ta thấy lòng mình như lắng lại. Bác Hồ, một còn người với lối sống thanh cao, bình dị, một còn người suốt đời mình cống hiến cho dân tộc, một con người với niềm thương nhân dân thiết tha khiến ta không khỏi cảm phục. Càng trong thiếu thốn càng ánh lên tinh thần lạc quan vô bờ trong tâm hồn Bác, càng trong gian nan, càng thấy nghị lực phi thường của người cách mạng. Với những hình ảnh bình dị, ngôn ngữ nhẹ nhàng, tự nhiên, giọng điệu vui tươi hóm hỉnh, Bác đã viết nên những vần thơ đẹp và gợi lên bao xúc cảm trong lòng người thưởng thức. Ở Người, ta học được bao điều đẹp đẽ về những lẽ sống cao đẹp trong cuộc đời. Bài tham khảo Mẫu 7 Một ngày xuân năm 1941, “Trắng rừng biên giới nở hoa mơ” lãnh tụ cách mạng - anh hùng giải phóng dân tộc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, sau 30 năm trời buôn ba tìm đường cứu nước, cuối cùng cũng quay trở về Việt Nam để trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp. Người chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm căn cứ địa kháng chiến, biến nơi đây trở thành cái cội nguồn của cách mạng nước nhà. Hồ Chí Minh có một sự nghiệp chính trị vẻ vang, đồng thời cũng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ, có thể nói rằng đời cách mạng của Người luôn song hành với đời sống văn chương. Văn chương là vũ khí đấu tranh, là khôi giáp bảo vệ, đồng thời cũng là thú vui tao nhã lúc rảnh rang, những khía cạnh ấy có sự gắn bó mật thiết vô cùng. Thế nên trong những ngày sống và làm việc tại Pác Bó, dẫu hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn đủ đường, cách mạng nước ta còn non trẻ lại phải chống chọi với cả một đế quốc to lớn nhưng Bác giữ cho mình một tinh thần lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung. Tác phẩm Tức cảnh Pác Bó ra đời trong hoàn cảnh ấy chính là minh chứng cho tấm lòng yêu, gắn bó tha thiết với thiên nhiên Pác Bó và tấm lòng sâu nặng với “Cuộc đời cách mạng thật là sang” của Người. Ở hai câu thơ đầu tiên Bác đã tái hiện lại hoàn cảnh sống và sinh hoạt của mình tại Pác Bó với giọng thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị: “Sáng ra bờ suối tối vào hang Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn thế nhưng đúng với phong cách thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều mà không gian sinh hoạt và làm việc của Bác đã được gợi mở một cách rõ ràng. Các hình ảnh “bờ suối”, “hang” vốn là những hình ảnh khá xa lạ đối với chúng ta hiện nay, thế nhưng với Bác đó là những hình ảnh gắn bó, gần gũi và thân thuộc nhất. Cuộc sống của Bác bắt đầu với việc buổi sáng ra suối tắm giặt, sau đó làm việc luôn bên bờ suối, đến khi tối đến thì hang chính là nhà, là nơi để Bác nghỉ ngơi, dưỡng sức sau một ngày dài vất vả. Phải nói rằng đó là một cuộc sống không dễ dàng gì, nhưng Hồ Chí Minh lại không cho là vậy, trước hoàn cảnh vất vả, Người lại học cách thích nghi, sống chan hòa với thiên nhiên. Điều đó được chứng minh bởi nhịp thơ 4/3, cùng với 2 vế tiểu đối “sáng ra bờ suối/tối vào hang” gợi cho người đọc sự nhịp nhàng, nề nếp của cuộc sống sinh hoạt, nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh ấy có một phong thái ung dung nhẹ nhàng, lưng gánh bao nhiêu trọng trách, nhưng tâm hồn vẫn rất thảnh thơi, coi nhẹ sự gian khổ của đời cách mạng. Không chỉ về điều kiện sinh hoạt, mà ngay cả thức ăn đồ uống ở nơi núi rừng Pác Bó cũng rất thiếu thốn, quanh năm Người chỉ ăn “cháo bẹ, rau măng” làm no bụng. Đó là thứ thức ăn nhạt vị, lại không có mấy chất dinh dưỡng, ăn nhiều có lẽ cũng có phần không chịu được. Nhưng khi vào thơ của Hồ Chủ tịch, thái độ của Người với hai thứ “cháo bẹ, rau măng” không khỏi khiến người ta thêm kính trọng. Bác viết “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”, mấy chữ “vẫn sẵn sàng” có nhiều điều cần phải phân tích. Thứ nhất nó nói lên tâm thế của Hồ Chủ tịch khi đứng trước điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, dẫu có phải ăn bắp, ăn măng trường kỳ, nhưng Người chưa từng chê bai, bởi Người hiểu rõ gian khó của nước nhà, nhân dân không có cơm ăn, thì Người ăn cháo bẹ rau măng cũng chẳng có gì mà than vãn. Hồ Chí Minh khi đứng trước hai thức ấy, vẫn sẵn sàng ăn một cách vui vẻ, ngon lành, thậm chí thấy đó là một cái thú của người làm cách mạng, sống ở rừng thì ăn sản vật của rừng núi, chan hòa với thiên nhiên, còn gì quý hóa hơn thế nữa. Một ý thứ hai nữ về mấy chữ “vẫn sẵn sàng”, đây cũng có thể được xem là lời khen kín đáo của Bác về sự dồi dào măng, bắp của căn cứ địa Pác Bó, thế nên làm cách mạng ở đây người chiến sĩ chẳng bao giờ lo đói, bởi lúc nào cũng có sẵn bắp, sẵn măng cho Người ăn thoải mái. Có thể thấy Hồ Chí Minh sống chan hòa, gắn bó với thiên nhiên, với cuộc sống đạm bạc như vậy rất có phong vị của các bậc hiền nhân thời xưa, có thể ví với Nguyễn Trãi, hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, bởi đức tính thanh cao, giản dị, rất biết thưởng thức cái thú với hoa lá, cỏ cây. Nhưng Người không giống như các bậc hiền triết thời xưa, thích tìm chốn hoang vu, không người để tận hưởng cuộc sống an nhàn không màng thế sự, xa lánh cuộc đời, hay ôm nỗi đau bất đắc chí mà trốn tránh thế nhân,... Người sống với với tư cách là một người chiến sĩ cách mạng hết lòng vì Tổ quốc, ý thức trách nhiệm với dân tộc khiến Người luôn luôn cố gắng, chính vì vậy trong các hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn thì tâm hồn lạc quan và phong thái ung dung biết thưởng thức đã giúp Người khuây khỏa, ý chí chiến đấu từ đó lại càng trở nên mạnh mẽ. Tâm hồn chiến sĩ và tâm hồn nghệ sĩ hòa vào làm một càng khiến cho sự nghiệp cách mạng của Người thêm vẻ vang, rực rỡ. Và hai câu thơ tiếp theo đã cho thấy tấm lòng tha thiết của Người đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Sống giữa cảnh đơn sơ, giản dị, nhiều vất vả, khó khăn thì tấm lòng sâu nặng với cách mạng của Hồ Chí Minh càng được bộc lộ rõ ràng. Hình ảnh “bàn đá chông chênh” không chỉ cho chúng ta thấy được hoàn cảnh làm việc thiếu thốn, khó khăn, mà nó còn mang đến cho người đọc những cảm giác không vững vàng, có nhiều thiếu hụt, điều đó gợi ra tình thế của cách mạng Việt Nam những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Đảng ta mới thành lập, còn non trẻ, lực lượng quân đội còn yếu kém, thiếu thốn mọi mặt cả về cơ sở vật chất lẫn lương thực thực phẩm. Chúng ta chỉ có nhiều nhất là tinh thần yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, và lòng căm thù giặc sâu sắc. Bấy nhiêu ấy khiến người đứng đầu trực tiếp chỉ huy cách mạng là Hồ Chủ tịch có nhiều lo lắng. Thế nhưng người chiến sĩ cách mạng, người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam ta có lúc nào nao núng? Người vẫn một lòng “dịch sử Đảng”, một lòng lãnh đạo nhân dân ta tiến về phía trước bằng toàn bộ khối óc và thân thể, luôn vững vàng tư tưởng, kiên trì trong tranh đấu, chưa một phút nào buông lỏng. Và dẫu có nhiều khó khăn chồng chất, từ điều kiện sống cá nhân, đến điều kiện cách mạng của dân tộc, nhưng tấm lòng Hồ Chí Minh giữa núi rừng Tây Bắc dành cho cách mạng vẫn luôn sáng rõ và tươi đẹp “Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Người ý thức rằng, mình sinh ra là để làm cách mạng, để đóng góp một phần công sức giành lại nền độc lập của dân tộc mà mấy trăm năm nay cha ông đã đổ máu xương để gìn giữ. Với Hồ Chí Minh, chẳng sự nghiệp nào, chẳng lý tưởng nào lúc này “sang” hơn lý tưởng cách mạng, lý tưởng cứu quốc nữa. Người ca ngợi cách mạng, đồng thời cũng thể hiện lòng tự hào, tấm lòng tha thiết không đổi với cách mạng của một người chiến sĩ cộng sản, một nhà trí thức tiến bộ, một nghệ sĩ có tâm hồn thanh cao, giản dị. Như vậy có thể thấy rằng trái ngược với “bàn đá chông chênh” đầy thiếu thốn, thì với Bác “cuộc đời cách mạng thật là sang”, thật đầy đủ, thật giàu có. Có sung túc, giàu có ấy nó ngự trị ở trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng, Người giàu có nhất là lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng, và tinh thần lạc quan, yêu đời, gắn bó tha thiết với thiên nhiên. Có thể thấy những dòng thơ đầu là phong thái ung dung, đủng đỉnh, thì đến câu thơ cuối chính là tiếng cười hóm hỉnh, tươi vui của Bác, vượt lên trên tất cả gian khó, vang vọng khắp núi rừng. Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ hay và sâu sắc của Bác trong quá trình hoạt động cách mạng tại Việt Nam. Với giọng thơ vui tươi, lạc quan, ngôn ngữ giản dị, ở đó ta không chỉ thấy hiện lên một Hồ Chí Minh với phong thái ung dung, tự tại, sống chan hòa với thiên nhiên, mà còn thấy hình ảnh một chiến sĩ cách mạng hết lòng vì Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng sâu sắc, cùng một tâm hồn thanh cao, giản dị vô cùng. Bài tham khảo Mẫu 8 Nền văn học Việt Nam đã ghi danh nhiều tác giả với những cống hiến quan trọng. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lại có những dấu mốc văn học khác nhau. Trong đó, không thể không nhắc đến tác giả Hồ Chí Minh - một vị lãnh tụ vĩ đại và cũng là một nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, với hình ảnh của chính mình - người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến, Bác đã mang đến cho bạn đọc góc nhìn, khía cạnh vô cùng lạc quan trong hoàn cảnh chiến đấu đầy gian khổ qua bài thơ Tức cảnh Pác Bó. Mở đầu bài thơ là hình ảnh cuộc sống của Bác ở Pác Bó: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang “Sáng ra - tối vào” là những hành động lặp đi lặp lại, thường xuyên liên tục hằng ngày của Bác như một vòng tuần hoàn tự nhiên. Câu thơ cho ta thấy nơi ở gắn với hành động ra vào của Bác là chiếc hang. Điều kiện sống vô cùng vất vả, khó khăn, gian khổ, vì sự nghiệp cách mạng của nước nhà mà Người phải ở trong hang với nhiều mối đe dọa nguy hiểm. Vị lãnh tụ của chúng ta không ăn sơn hào hải vi, hàng ngày Bác gắn bó với cháo, măng. Đây là những món ăn giản dị, mộc mạc gắn liền với miền quê cách mạng. Cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nhưng Người vẫn luôn lạc quan, vui vẻ đón nhận. Cuộc sống tuy có khó khăn là thế nhưng không ảnh hưởng được đến sự chuyên tâm của Bác dành cho cách mạng: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Giữa núi rừng Pác Bó có một vị lãnh tụ ngồi nghiên cứu con đường cứu nước bên bàn đá chông chênh. Chúng ta thường biết đến các cuộc họp Đảng, bàn luận chiến thuật ở nơi mặt trận hoặc ở trung tâm hội nghị, nghiêm trang, lộng lẫy. Nhưng đối với Bác Hồ, việc nghiên cứu con đường cứu nước của người được thực hiện ở nơi rừng núi, vách đá cho thấy sự khác biệt đáng trân trọng của vị lãnh tụ này. Cả cuộc đời Bác gắn liền với cách mạng, với con đường cứu nước. Dù cho điều kiện ngoại cảnh, điều kiện kháng chiến có vất vả, gian khổ, khó khăn thế nào thì lí tưởng, suy nghĩ cao đẹp của Người cũng khiến cho cuộc đời Bác trở nên cao đẹp và “sang” hơn bất cứ khi nào hết. Bài thơ cho ta cách nhìn rõ nét hơn về cuộc đời, con người cũng như những khó khăn mà Bác phải trải qua để thêm yêu thương, ngưỡng mộ Bác và trân trọng nền độc lập, tự do mà ta đang được hưởng. Cuộc sống của Bác hiện lên vô cùng giản dị, mộc mạc nhưng vô cùng tươi đẹp, lạc quan. Trong những hoàn cảnh khó khăn, éo le nhất, Bác vẫn biết cách khiến cho cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn. Nhiều năm tháng qua đi nhưng bài thơ vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị tốt đẹp ban đầu của nó và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bài tham khảo Mẫu 9 “Người lãnh tụ, nhà nghệ sĩ (Giang Nam) “Buồn vui, căm giận, say mê ...” của Bác xuất phát từ lòng yêu Tổ quốc, yêu dân tộc nồng nàn. Bác hoạt động chính trị (người lãnh tụ), và làm thơ (nhà nghệ sĩ) cũng là để thể hiện lòng yêu thương cao cả ấy. Nhiều lúc cả hai công việc như hòa làm một trong con người Bác. Điều ấy đã được chứng tỏ ở những bài thơ Người sáng tác ở núi rừng Việt Bắc khi từ nước ngoài về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước mà bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một ví dụ. Bài thơ được làm theo thể Đường luật tứ tuyệt vời đúng niêm luật của thể loại thơ này. Mở đầu là câu Khai, nhà thơ viết: Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Câu thơ giới thiệu thời gian, nơi chốn và việc thường làm được ngắt nhịp 4/3 bằng dấu phẩy một cách rõ ràng, dứt khoát. Đọc câu thơ ta có cảm giác ngày ngày, mỗi sáng mỗi tối nhà thơ đều lặp lại hành vi “ra, vào” ấy. Tại sao? Bác đang trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Công việc của một lãnh tụ chính trị không giống công việc của một nhà thơ, nhất là với một lãnh tụ chính trị đang hoạt động chống lại tập đoàn thống trị để giành lại độc lập, tự do cho nước cho dân. Tất yếu là lãnh tụ phải làm nhiều công việc đúng với vai trò lãnh đạo phong trào. Nhưng thuở ban đầu cơ ngơi không có, Để tránh bị truy lùng, Bác tìm nơi hiểm trở để đặt cơ quan đầu não cho hoạt động ban đầu. Công việc của lãnh tụ phần lớn là vạch đường lối, kỷ cương, kế hoạch,... Ánh sáng để làm việc và an toàn trong hoạt động cách mạng là ý nghĩa sâu xa của “Sáng ra, tối vào” ở câu Khai. Nếu câu Khai giới thiệu thời gian, nơi chốn để làm việc và nghỉ ngơi thì ở câu Thừa nhà thơ giới thiệu bữa ăn hàng ngày của mình: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Hai món trong một bữa: cháo ngô (bắp, bẹ), và rau măng. Nhưng không chỉ là một bữa mà là mọi bữa. Cụm từ “vẫn sẵn sàng" gợi cho người đọc cảm nhận đó. Ấy là bữa ăn để nuôi mạng sống mà người dấn thân phải chấp nhận. Ngày trước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi khi dấy nghĩa ở Lam Sơn cũng có lúc lâm vào hoàn cảnh: Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần Cực khổ từ miếng cơm manh áo, nơi ăn chốn ngủ nhưng Hồ Chí Minh vẫn: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng. Một cách hiểu giản dị, nôm na là không có cả bàn để làm việc, dù là một việc quan trọng là dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô để làm tài liệu học tập tư tưởng cho cán bộ cách mạng thời bấy giờ. Không có bàn ư? Thì lấy đá làm bàn. Thử tưởng tượng hình ảnh Bác say sưa làm việc bên cái bàn “chông chênh” ấy để thấy rõ tính nghệ sĩ lẫn sự say mê công việc của Người! Câu chuyện của bài thơ có ý nghĩa như thế! Dinh thự của một lãnh tụ chỉ là cái hang bên bờ suối, thức ăn mỗi bữa thuần là “cháo bẹ, rau măng, chỗ làm việc là bàn đá chông chênh ” bên suối, vậy mà Bác vẫn cho rằng: Cuộc đời cách mạng thật là sang. Câu hợp của bài thơ phảng phất phong thái của các chí sĩ thuộc thế hệ trước. Chuyện tù đày gian lao với Phan Bội Châu thì: Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Ấy là tâm trạng lạc quan trước nguy hiểm, tù đày, gian khổ của những người chấp nhận dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là con đường đầy nước mắt, đầy máu; là cái giá phải trả để có được độc lập và tự do. Không mang tâm trạng lạc quan trước gian khổ, nguy hiểm thì ít ai thành công, thành danh được. Trước cái chết vẫn lạc quan không run sợ thì sống với “cháo bẹ, rau măng” cũng đã sang lắm rồi! Ngày trước, sau khi thôi làm quan, Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn tìm vui với trúc, thông và với suối mát. Trong: Nghìn mẫu xanh chen chúc Cũng là vui thú lâm tuyền nhưng cái vui của Hồ Chí Minh khác xa cái vui của Nguyễn Trãi. Khái quát về sự khác biệt ấy là: với Nguyễn Trãi, vui thú lâm tuyền sau khi đã hoàn thành sự nghiệp khởi nghĩa chống quân nhà Minh, sau đó làm quan, và rồi xa lánh đời “lầm tục”; còn với Hồ Chí Minh thì vui thú lâm tuyền lúc mới khởi nghĩa chống Pháp, đang trực tiếp lãnh đạo các lực lượng chống lại chủ nghĩa thực dân. Tức cảnh Pác Bó, một bài thơ tứ tuyệt có ngôn ngữ giản dị; dễ hiểu và gợi những hình ảnh rõ ràng về sự khó khăn, gian khổ trong những ngày đầu cách mạng của một lãnh tụ. Âm điệu của bài thơ, nhất là những từ cuối của mỗi câu kết hợp với ngữ nghĩa của toàn bài khiến người đọc cảm nhận được sự thỏa mái, chấp nhận cảnh sống khó khăn lúc bấy giờ vì lý tưởng cao quý mà nhà thơ đang cố thực hiện. Hẳn nhiều người đọc cũng học được bài học lạc quan ở bài thơ này. Bài tham khảo Mẫu 10 Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ tứ tuyệt tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ thể hiện niềm vui, niềm tin mãnh liệt và nghị lực phi thường của Bác trong hoàn cảnh sống và làm việc giữa núi rừng Việt Bắc, sau mấy chục năm trời xa cách đất nước và dân tộc. Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Thơ tứ tuyệt thường ngắn gọn, hàm súc nên muốn hiểu ý thơ, trước hết chúng ta phải nắm được hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Tháng 6 – 1940, tình hình thế giới có nhiều biến động lớn. Thực dân Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lúc này, Bác đang hoạt động bí mật ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc). Tháng 2 năm 1941, Bác về nước và chọn Pác Bó làm căn cứ để từ đây trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Hoàn cảnh sống của Bác lúc này vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Trời rét, sức khỏe yếu nhưng Bác phải ở trong cái hang nhỏ ẩm ướt, tối tăm. Ăn uống hết sức kham khổ, thức ăn hằng ngày phần lớn là cháo bột ngô và măng rừng. Bàn làm việc của Bác là một phiến đá ven suối. Nhưng thiếu thốn, gian khổ không làm Bác bận lòng. Bác dành trọn tâm huyết để lãnh đạo phong trào cách mạng nên quên hết mọi gian nan; một mực phấn chấn, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Ba câu đầu của bài thơ tả cảnh sống và làm việc của Bác. Câu thứ nhất nói về nơi ở, câu thứ hai nói về cái ăn, câu thứ ba nói về phương tiện làm việc. Câu thứ tư đậm chất trữ tình, nêu cảm tưởng của Bác về cuộc sống của mình lúc bấy giờ. Trong hiện thực gian khổ, khó khăn, tâm hồn Bác vẫn ngời sáng một tinh thần cách mạng. Sáng ra bờ suối, tối vào hang Cái hang Bác ở có tên là hang Cốc Bó, chỉ khoảng hơn một mét vuông dưới đáy là tương đối bằng phẳng, đủ kê một tấm ván thay cho giường. Vách hang chỗ lồi cao, chỗ lõm sâu, không khí lạnh lẽo, ẩm thấp. Trước cửa hang là dòng suối nhỏ chảy sát chân ngọn núi. Bác đặt tên là suối Lênin và núi Mác. Bàn làm việc của Bác là phiến đá kê trên hai hòn đá và một hòn đá thấp hơn làm ghế cũng ở gần bờ suối. Không gian sinh hoạt của Bác chia làm hai phần: một là hang, hai là suối. Hành động cũng chia hai: ra suối, vào hang. Thời gian biểu hằng ngày đều đặn: sáng ra, tối vào. Sáng ra bờ suối là để làm việc, tối vào hang là để nghỉ ngơi. Sự thật gần như chỉ có thế. Thực ra chất thơ giấu trong âm điệu, vẫn là nhịp 4/3 hay 2/2/1 /2 của câu thơ Đường luật bảy chữ, nhưng lồng vào trong đó là cái đều đặn, khoan thai như nhịp tuần hoàn của trời đất. Sáng rồi tối, tối rồi sáng; ra rồi vào, vào rồi ra… đơn giản, quen thuộc mà bền vững, ung dung. Cái gian khổ của hoàn cảnh sống, sự hiểm nguy do kẻ thù luôn rình rập… tất cả đều như lặn chìm, tan biến trước phong thái an nhiên, tự tại của Bác Hồ: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bữa cơm đơn sơ, đạm bạc, quanh quẩn chỉ có cháo ngô và măng đắng, măng nứa, rau rừng… hết ngày này sang ngày khác, vẫn sẵn sàng nghĩa là các thứ đó luôn luôn có sẵn xung quanh. Mặt khác, cháo bẹ, rau măng còn gợi nhớ tới cảnh sống an bần lạc đạo của người xưa: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, (Nguyễn Bỉnh Khiêm) hoặc: Trúc biếc, nước trong ta sẵn đó (Nguyễn Trãi) Sự thiếu thốn đã được thi vị hóa thành phong lưu. Xưa là ước lệ, tượng trưng, nay hoàn toàn là sự thật. Chỉ phớt qua một chút xưa là câu thơ đậm đà thêm ý vị. Nhưng ý vị nhất vẫn là giọng điệu thơ. Cháo bẹ, rau măng cũng như Sáng ra, tối vào là nhịp điệu an nhiên, chan hòa bên trong. Ba chữ vẫn sẵn sàng nâng câu thơ lên thành một lời bình phẩm với giọng điệu lạc quan, gần như tự hào, nghĩa là an nhiên, tự tại ở mức cao hơn. Hai câu thơ đầu tả thực, câu thơ thứ ba vừa tả thực vừa trữ tình, ở trên chưa có bóng dáng con người thì đến đây, con người đã hiện ra sống động và có hành động rõ ràng: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, Nếu trong cụm từ vẫn sẵn sàng mới thấp thoáng một chút vui thì đằng sau tính từ chông chênh đã là một nụ cười hóm hỉnh, thâm thúy. Chông chênh vốn nghĩa là không vững, không có chỗ dựa chắc chắn. Chiếc bàn đá của Bác quả là chông chênh thật vì nó chỉ là một phiến đá. Đó là thứ bàn làm việc bất đắc đĩ. Nhưng hàm ý của từ chông chênh không nhằm nói tới đặc điểm của cái bàn đá cụ thể mà là ẩn dụ về tình thế muôn vàn khó khăn của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới lúc bấy giờ. Năm ấy, phe phát xít đang thắng ở khắp các mặt trận. Vậy mà trong cái thế chông chênh đó, Bác Hồ vẫn bình tĩnh dịch sử Đảng (lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, viết bằng tiếng Nga) cho cán bộ ta nghiên cứu và học tập những kinh nghiệm phong phú, quý báu để vận dụng vào thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc. Việc làm này của Bác có tác dụng đặt nền móng về mặt lí luận cho cách mạng Việt Nam. Đấy là một điều hết sức cần thiết. Đem đối lập tính chất nghiêm túc, quan trọng của công việc với cái vẻ đơn sơ, chông chênh của bàn đá, mới nghe tưởng chừng có chút hài hước, đùa vui nhưng kì thực lại mang ý nghĩa cách mạng thật lớn lao. Nhớ lại thời gian đó, cả thế giới đang đứng trước nguy cơ chìm đắm trong thảm họa phát xít. Vậy mà Hội nghị Trung ương Đảng ta lần thứ VIII (tháng 5 – 1941) vẫn khẳng định rằng cách mạng trong nước sẽ thắng lợi. Đó chẳng phải là trong chông chênh tình thế mà Bác vẫn khẳng định thắng lợi chắc chắn của sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc hay sao? Đó là tầm nhìn chiến lược, tầm suy nghĩ sáng suốt của một lãnh tụ tài ba. Lắng nghe giọng điệu câu thơ mới thấy thật rõ. Ở nhịp bốn (Bàn đá chông chênh) âm thanh tuy có phần trúc trắc (ba thanh bằng, một thanh trắc), gợi liên tưởng đến tình thế nguy hiểm; nhưng ở nhịp ba (dịch sử Đảng), trái lại, âm thanh rắn, khỏe, (ba thanh trắc) tỏ rõ ý chí kiên quyết chiến đấu và tin tưởng. Câu thơ toát lên một tư thế chủ động, vững vàng trước mọi nguy nan của Bác, điểm thêm một nụ cười thanh thoát, cao vời. Người xưa khi bất đắc chí thường lánh về chốn núi rừng để vui thú lâm tuyền cho khuây khỏa tâm hồn, nhưng Bác lại khác. Bác đến với núi rừng không phải với mục đích ở ẩn mà là để mưu tính cho từng bước đi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Xưa, trong những ngày lánh mình ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã thi vị hóa cuộc sống đạm bạc của mình: Côn Sơn có suối nước trong, Trong bóng dáng của vị tiên bên suối là cốt cách của một lãnh tụ cách mạng kiên cường. Nếu ở ba câu thơ đầu, niềm vui, niềm tự hào còn ẩn chứa bên trong thì đến câu thơ kết, niềm vui ấy đã bộc lộ rõ ràng qua từ ngữ, tiết tấu và âm hưởng. Cái nghèo nàn, thiếu thốn vật chất đã được chuyển hóa thành cái giàu sang tinh thần. Bác đánh giá hiện thực ấy với nụ cười hóm hỉnh, thâm thúy của một triết nhân: Cuộc đời cách mạng thật là sang! Như vậy, suối không chỉ là chỗ làm việc, hang không chỉ là chỗ nghỉ ngơi mà hang còn mở ra phía suối, tạo nên không gian thoáng đãng, đủ chỗ cho nhịp sống của con người hoà vào nhịp của đất trời. Gian nan, vất vả cũng như tan biến vào cái nhịp tuần hoàn, thư thái ấy. Cháo bẹ và rau măng là kham khổ, nghèo nàn, nhưng đã được nâng lên thành cái sẵn sàng, đầy đủ, thành một thoáng vui. Đến việc dịch sử Đảng trên bàn đá chông chênh thì đã lồng lộng cái thế vững chắc của tiến trình cách mạng giữa gian nguy. Cuộc đời cách mạng thật là sang!Tinh thần của bài thơ tụ lại cả ở từ sang này. Niềm tin, niềm tự hào của Bác tỏa sáng cả bài thơ. Chính sự ra vào ung dung, tinh thần vẫn sẵn sàng, khí tiết, cốt cách vững vàng trong tình thế chông chênh đã làm nên cái sang, cái quý trong cuộc đời của con người một lòng một dạ phấn đấu hi sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và nhân loại bị áp bức trên toàn thế giới. Bài thơ tứ tuyệt ngắn gọn nhưng đã giúp chúng ta hiểu thêm về một quãng đời hoạt động của Bác Hồ. Vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, Bác vẫn sống ung dung, thanh thản và tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bên cạnh đó, bài thơ còn là bài học thấm thía về thái độ sống và quan điểm sống đúng đắn, tích cực của một chiến sĩ cộng sản chân chính.
|






Danh sách bình luận