Viết bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi."I. MỞ BÀI - Nghệ thuật chân chính không chỉ là hành trình người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp mà còn là hành trình hướng về con người, bởi mọi sáng tạo có giá trị đều được sinh thành từ đời sống và cuối cùng lại trở về với đời sống. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý I. MỞ BÀI - Nghệ thuật chân chính không chỉ là hành trình người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp mà còn là hành trình hướng về con người, bởi mọi sáng tạo có giá trị đều được sinh thành từ đời sống và cuối cùng lại trở về với đời sống. - Nêu vấn đề nghị luận: A. Camus đã khẳng định mối quan hệ ấy khi cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến đã đặt ra một vấn đề sâu sắc về bản chất của sáng tạo nghệ thuật và thiên chức của người nghệ sĩ: người nghệ sĩ chân chính phải không ngừng hoàn thiện mình trong mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cộng đồng, giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và trách nhiệm đối với con người, cuộc đời. II. THÂN BÀI 1. Giải thích ý kiến: - “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân” nhấn mạnh quá trình người nghệ sĩ không ngừng sống, trải nghiệm, sáng tạo, tự ý thức và hoàn thiện tài năng, nhân cách cũng như bản lĩnh nghệ thuật của mình. - “Mình” là cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ với thế giới nội tâm, trải nghiệm riêng, quan niệm thẩm mĩ, cá tính sáng tạo và tiếng nói nghệ thuật không thể trộn lẫn. - “Người khác” là những con người xung quanh nghệ sĩ, là độc giả, cộng đồng, xã hội và rộng hơn là nhân loại mà người nghệ sĩ đang sống cùng và hướng tác phẩm của mình tới. - “Mối tương quan liên tục giữa mình và người khác” khẳng định sáng tạo nghệ thuật bắt đầu từ cái tôi cá nhân nhưng không thể khép kín trong cái tôi ấy, bởi người nghệ sĩ nói bằng tiếng nói riêng nhưng phải có khả năng chạm đến những vấn đề chung của con người. - “Cái đẹp không thể bỏ qua” khẳng định sáng tạo và khám phá cái đẹp là thuộc tính bản chất của nghệ thuật, vì tác phẩm muốn trở thành nghệ thuật phải có giá trị thẩm mĩ, hình thức biểu đạt độc đáo và dấu ấn sáng tạo riêng của người nghệ sĩ. - “Cộng đồng không thể tách khỏi” nhấn mạnh người nghệ sĩ không thể đứng ngoài đời sống, bởi cộng đồng vừa là nguồn cung cấp chất liệu cho sáng tạo, vừa là đối tượng phản ánh và cũng là nơi tác phẩm tìm kiếm sự đồng cảm, tiếp nhận. - “Quãng đường giữa” là hình ảnh ẩn dụ chỉ vị trí đặc biệt của người nghệ sĩ khi phải đồng thời đáp ứng hai đòi hỏi không thể từ bỏ là trung thành với bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật và gắn bó với những vấn đề của con người, cộng đồng. => Như vậy, A. Camus khẳng định nghệ sĩ chân chính phải vừa bảo vệ tự do và cá tính sáng tạo để vươn tới cái đẹp, vừa gắn bó với đời sống và chia sẻ trách nhiệm trước số phận cộng đồng, đồng thời chính quá trình dung hòa hai yêu cầu ấy làm nên sự trưởng thành của người nghệ sĩ và giá trị đích thực của tác phẩm. 2. Bàn luận vấn đề: Luận điểm 1: Người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi sáng tạo cái đẹp là bản chất và thiên chức của nghệ thuật - Văn học phản ánh đời sống bằng phương thức đặc thù của nghệ thuật thông qua hình tượng, cảm xúc, ngôn ngữ và những sáng tạo mang dấu ấn cá nhân nên một tư tưởng đúng hay một vấn đề xã hội có ý nghĩa chưa đủ để làm nên tác phẩm văn chương. - Cái đẹp trong văn chương không chỉ là vẻ đẹp sẵn có của hiện thực mà còn là cái đẹp do nghệ sĩ sáng tạo nên bằng cách nhìn, cách cảm, ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu và phong cách nghệ thuật độc đáo. - Việc theo đuổi cái đẹp đòi hỏi người nghệ sĩ phải bảo vệ cá tính sáng tạo, không ngừng tìm tòi cái mới và không chấp nhận lặp lại những khuôn mẫu nghệ thuật đã có. => Nếu người cầm bút chỉ chú ý đến thông điệp xã hội mà xem nhẹ giá trị thẩm mĩ và sáng tạo hình thức thì tác phẩm dễ trở thành một bài diễn thuyết hoặc sự minh họa cho tư tưởng chứ chưa đạt tới phẩm chất của nghệ thuật. Luận điểm 2: Người nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng bởi đời sống con người vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật - Người nghệ sĩ dù có cá tính độc đáo đến đâu vẫn là một thành viên của cộng đồng, chịu tác động của lịch sử, văn hóa, xã hội và những vấn đề của thời đại mà mình đang sống. - Cộng đồng cung cấp cho người nghệ sĩ những số phận, câu chuyện, ngôn ngữ, trải nghiệm và những vấn đề nhân sinh để từ đó hình thành chất liệu và cảm hứng sáng tạo. - Con người là đối tượng trung tâm của văn học nên những câu hỏi lớn của văn chương cuối cùng vẫn hướng tới số phận, phẩm giá, đau khổ, khát vọng và khả năng kiếm tìm hạnh phúc của con người. => Tác phẩm chỉ thực sự hoàn tất đời sống của mình khi đến với người đọc nên sáng tạo văn chương không phải hành vi độc thoại tuyệt đối mà là một cuộc đối thoại đặc biệt giữa cá nhân nghệ sĩ với cộng đồng. Nếu nghệ sĩ tuyệt đối hóa cái tôi và cái đẹp, quay lưng với những vấn đề của đời sống thì nghệ thuật có nguy cơ trở thành một trò chơi hình thức khép kín, tinh xảo nhưng lạnh lẽo và thiếu sức sống. Luận điểm 3: Nghệ thuật chân chính được tạo nên ở điểm gặp gỡ giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và trách nhiệm đối với cộng đồng - “Cái đẹp” và “cộng đồng” trong quan niệm của Camus không phải hai con đường đối lập buộc nghệ sĩ phải lựa chọn mà là hai yêu cầu cần được thống nhất trong một sáng tạo nghệ thuật chân chính. - Người nghệ sĩ không phải hi sinh nghệ thuật để phụng sự đời sống mà cần dùng chính tài năng nghệ thuật của mình để khám phá, lí giải và nâng những vấn đề của đời sống lên thành những giá trị thẩm mĩ có sức sống lâu dài. - Sự thống nhất giữa cái đẹp và cộng đồng khiến nghệ thuật vừa không đánh mất bản chất thẩm mĩ vừa không quay lưng với đời sống, từ đó tạo nên những tác phẩm vừa đẹp về hình thức, sâu sắc về tư tưởng vừa có khả năng lay động con người. 3. Chứng minh thông qua trải nghiệm văn học: Luận điểm 1: Người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi sáng tạo cái đẹp là bản chất và thiên chức của nghệ thuật – qua Đàn ghi-ta của Lor-ca của Thanh Thảo - Lor-ca trước hết hiện lên như một người nghệ sĩ mang khát vọng sáng tạo mãnh liệt, dám bước đi trên con đường riêng và đấu tranh chống lại một nền nghệ thuật Tây Ban Nha đang có nguy cơ trở nên già cỗi. + Hình ảnh “tiếng đàn bọt nước” gợi vẻ đẹp mong manh nhưng mê hoặc của nghệ thuật, đồng thời ngay từ đầu đã đặt tiếng đàn như một hình tượng trung tâm gắn liền với sự tồn tại của người nghệ sĩ. + Hình ảnh “áo choàng đỏ gắt” và “Tây Ban Nha hát nghêu ngao” vừa gợi không gian văn hóa Tây Ban Nha vừa làm nổi bật một nghệ sĩ tự do, phóng khoáng, cô đơn nhưng kiêu hãnh trên hành trình sáng tạo. + Chuỗi hình ảnh “tiếng ghi-ta nâu”, “tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy”, “tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan” cho thấy nghệ thuật của Lor-ca không được tái hiện bằng những khái niệm khô cứng mà được cảm nhận qua màu sắc, hình khối, âm thanh và những liên tưởng giàu sức gợi. => Việc Thanh Thảo sử dụng hình thức thơ tự do, cấu trúc giàu tính tượng trưng, siêu thực, những hình ảnh lạ hóa và âm thanh “li-la li-la li-la” cho thấy bản thân tác phẩm cũng là một hành vi tìm kiếm cái mới trong nghệ thuật. Thanh Thảo không chỉ ca ngợi một nghệ sĩ cách tân mà chính mình cũng lựa chọn một hình thức thơ mới mẻ để biểu đạt Lor-ca, qua đó cho thấy sự gặp gỡ giữa đối tượng nghệ thuật và phương thức sáng tạo. Cái chết có thể hủy diệt thân xác Lor-ca nhưng không thể hủy diệt tiếng đàn, bởi “không ai chôn cất tiếng đàn” đã khẳng định sức sống vượt thời gian của những sáng tạo nghệ thuật chân chính. Lor-ca vì thế là biểu tượng cho người nghệ sĩ không chấp nhận sự bằng phẳng, lặp lại mà sẵn sàng trả giá để bảo vệ tự do, cá tính và khát vọng hướng tới cái đẹp mới mẻ. Qua Đàn ghi-ta của Lor-ca, có thể thấy “cái đẹp không thể bỏ qua” bởi chính khát vọng tìm kiếm cái đẹp, cái mới và tiếng nói riêng làm nên căn cước của nghệ sĩ, đồng thời giúp nghệ thuật vượt qua giới hạn của một đời người để tiếp tục sống trong cộng đồng. Luận điểm 2: Người nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng bởi đời sống con người vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật – qua Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu - Cuộc gặp với người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện khiến Phùng nhận ra phía sau một lựa chọn tưởng như vô lí là cả một hoàn cảnh phức tạp của nghèo đói, đàn con, cuộc mưu sinh trên biển và tình thương của một người mẹ. Người đàn ông hàng chài cũng không chỉ được nhìn như một kẻ vũ phu đơn giản mà còn là một con người từng hiền lành nhưng bị cuộc sống đói nghèo và bế tắc góp phần làm biến dạng. - Những trải nghiệm ấy buộc Phùng phải thay đổi cách nhìn, từ chỗ tin rằng một khoảnh khắc đẹp có thể giúp mình chạm tới chân lí đến nhận thức rằng cuộc sống và con người luôn phức tạp hơn những gì mắt ta nhìn thấy. - Chi tiết cuối truyện khi Phùng nhìn vào bức ảnh nghệ thuật và luôn thấy người đàn bà hàng chài bước ra khỏi bức ảnh khẳng định rằng từ sau trải nghiệm ấy, cái đẹp trong nhận thức của người nghệ sĩ không còn có thể tách khỏi số phận con người. - Phùng thực sự “tôi luyện bản thân” không chỉ bằng kĩ năng nhiếp ảnh mà bằng quá trình đi từ quan sát đến trải nghiệm, từ say mê cái đẹp đến thấu hiểu cuộc sống và từ cái nhìn đơn giản đến cái nhìn đa diện về con người. => Chiếc thuyền ngoài xa vì thế cho thấy nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng, bởi chính đời sống với tất cả những phức tạp và đau đớn của nó giúp nghệ sĩ điều chỉnh cái nhìn, trưởng thành và tạo nên một nghệ thuật có chiều sâu nhân sinh. Luận điểm 3: Nghệ thuật chân chính được tạo nên ở điểm gặp gỡ giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và trách nhiệm đối với cộng đồng – nhìn từ bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng - Sai lầm của Vũ Như Tô không nằm ở việc ông yêu cái đẹp mà ở chỗ ông tuyệt đối hóa cái đẹp, coi nó như giá trị cao nhất và không nhận ra rằng cái đẹp nghệ thuật không thể hoàn toàn tách khỏi điều kiện sống và hạnh phúc của con người. - Câu hỏi “Tôi có tội gì?” cho thấy bi kịch nhận thức của Vũ Như Tô khi ông không hiểu được vì sao một công trình mà mình coi là tuyệt mĩ lại bị chính cộng đồng chống lại và hủy diệt. Việc Cửu Trùng Đài bị đốt, Vũ Như Tô bị giết và giấc mộng nghệ thuật tan vỡ cho thấy khi nghệ sĩ đi quá xa về một phía của “quãng đường giữa”, cái đẹp có thể mất đi nền tảng xã hội để tồn tại. - Bi kịch của Vũ Như Tô đồng thời cho thấy quan hệ giữa nghệ thuật với đời sống không đơn giản, bởi nếu chỉ đòi hỏi nghệ thuật phục vụ những nhu cầu trước mắt thì con người cũng có nguy cơ không tạo ra được những công trình lớn có giá trị lâu dài. - Nguyễn Huy Tưởng không đưa ra một lời phán xét giản đơn đối với Vũ Như Tô mà đặt người đọc trước một câu hỏi khó về mối quan hệ giữa khát vọng sáng tạo lớn lao của cá nhân với lợi ích thiết thực của cộng đồng. => Qua bi kịch ấy có thể thấy “quãng đường giữa” mà Camus nói tới không phải một sự thỏa hiệp dễ dàng mà là hành trình đầy thử thách trong đó người nghệ sĩ phải tìm cách để cái đẹp mình sáng tạo không quay lưng với con người và trách nhiệm với con người không triệt tiêu khát vọng sáng tạo cái đẹp. 4. Mở rộng, đánh giá: - Không nên đồng nhất trách nhiệm với cộng đồng với việc văn chương phải trực tiếp giải quyết các vấn đề chính trị hoặc xã hội, bởi một tác phẩm viết về những rung động rất riêng tư vẫn có thể mang ý nghĩa cộng đồng nếu chạm tới những giá trị phổ quát của con người. - Không nên đánh đồng cái đẹp với sự trau chuốt hình thức đơn thuần, bởi cái đẹp nghệ thuật còn nằm ở chiều sâu tư tưởng, sự chân thực của cảm xúc, sức mạnh của hình tượng và khả năng giúp con người nhận thức sâu sắc hơn về chính mình. - Nghệ thuật chỉ chạy theo hình thức mà không quan tâm tới con người có nguy cơ trở nên đẹp đẽ nhưng vô cảm, trong khi nghệ thuật chỉ chăm chú truyền tải thông điệp xã hội mà xem nhẹ sáng tạo thẩm mĩ lại dễ trở thành minh họa hoặc thuyết giáo. - Một tác phẩm lớn cần hướng tới sự thống nhất giữa Chân, Thiện và Mĩ, trong đó sự thật của đời sống tạo nên chiều sâu nhận thức, tình yêu con người tạo nên giá trị nhân văn và sáng tạo nghệ thuật tạo nên sức sống thẩm mĩ. III. KẾT BÀI - Nhận định của A. Camus đã chạm tới bản chất sâu xa của sáng tạo khi khẳng định người nghệ sĩ chân chính phải không ngừng đi trên “quãng đường giữa” cái tôi và cộng đồng, giữa tự do và trách nhiệm, giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và nghĩa vụ không quay lưng với con người. - Một nghệ sĩ lớn không phải là người buộc phải lựa chọn giữa cái đẹp và cộng đồng mà là người đủ tài năng để biến những vấn đề của con người thành cái đẹp và đủ trách nhiệm để cái đẹp mình sáng tạo không trở thành một thế giới khép kín, xa lạ với con người. - Chính ở điểm gặp gỡ giữa cái đẹp và cuộc đời, nghệ thuật vừa giữ được bản chất nghệ thuật của mình vừa thực hiện được thiên chức cao quý là giúp con người hiểu sâu hơn về cuộc sống, về người khác và về chính mình. Bài siêu ngắn Mẫu Nghệ thuật là hành trình sáng tạo cái đẹp nhưng chưa bao giờ là cuộc độc hành tách biệt khỏi đời sống. Bởi vậy, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến khẳng định người nghệ sĩ chân chính phải vừa giữ gìn cá tính sáng tạo, vươn tới cái đẹp, vừa gắn bó và có trách nhiệm với cộng đồng. Trước hết, người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi đó là bản chất của nghệ thuật. Trong Đàn ghi-ta của Lor-ca, Thanh Thảo không chỉ tái hiện số phận bi tráng của Lor-ca mà còn sáng tạo một thế giới nghệ thuật giàu tính tượng trưng, siêu thực. Hình ảnh “tiếng đàn bọt nước”, chuỗi âm thanh “li-la li-la li-la” cùng những liên tưởng độc đáo đã làm sống dậy vẻ đẹp của một nghệ sĩ tự do, luôn khát khao cách tân. Chính sự tìm tòi về hình thức giúp tư tưởng và cảm xúc của bài thơ có sức ám ảnh lâu bền. Tuy nhiên, nghệ sĩ cũng không thể tách khỏi cộng đồng bởi đời sống con người vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu cho thấy điều đó qua hành trình nhận thức của Phùng. Đằng sau cảnh chiếc thuyền trong sương đẹp như một bức tranh là hiện thực bạo lực đau đớn của gia đình hàng chài. Từ nghịch lí ấy, nhà văn đặt ra yêu cầu: nghệ thuật không thể chỉ say mê vẻ đẹp bên ngoài mà phải đi sâu vào những góc khuất của đời sống, thấu hiểu số phận con người bằng cái nhìn đa diện và nhân hậu. Sự thống nhất giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng càng được soi sáng qua bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô mang khát vọng xây dựng Cửu Trùng Đài như một công trình “bền như trăng sao”, để dân tộc có một kiệt tác trường tồn. Khát vọng nghệ thuật ấy cao đẹp, nhưng khi công trình được xây dựng bằng tiền của, mồ hôi, xương máu và sự khốn khổ của nhân dân, cái đẹp đã rơi vào xung đột với đời sống. Bi kịch của Vũ Như Tô cho thấy nghệ thuật chân chính không thể quay lưng với con người; cái đẹp chỉ thực sự có ý nghĩa khi không đối lập với quyền sống và hạnh phúc của cộng đồng. Dẫu vậy, trách nhiệm với cộng đồng không có nghĩa văn chương phải trực tiếp giải quyết mọi vấn đề xã hội; một tiếng nói riêng tư vẫn có thể mang ý nghĩa phổ quát nếu chạm tới những giá trị sâu xa của con người. Cái đẹp cũng không chỉ là sự trau chuốt hình thức mà còn nằm ở chiều sâu tư tưởng, cảm xúc và hình tượng nghệ thuật. Nếu chỉ chạy theo hình thức, nghệ thuật dễ trở nên đẹp đẽ mà vô cảm; nếu chỉ truyền tải thông điệp mà xem nhẹ thẩm mĩ, tác phẩm lại dễ rơi vào minh họa, thuyết giáo. Bởi thế, nhận định của A. Camus đã chạm tới bản chất và thiên chức của sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm lớn cần hướng tới sự thống nhất giữa Chân, Thiện và Mĩ: bắt rễ từ sự thật đời sống, được nâng đỡ bởi tình yêu con người và trở nên bất tử nhờ sức mạnh của cái đẹp. Bài tham khảo Mẫu 1 Văn chương chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của riêng người cầm bút. Một bài thơ có thể bắt đầu từ một rung động rất riêng, một vở kịch có thể sinh ra từ ám ảnh của một cá nhân, một truyện ngắn có thể khởi đi từ một khoảnh khắc bất chợt; nhưng khi đã trở thành nghệ thuật, tác phẩm luôn bước vào đời sống chung của con người. Bởi vậy, người nghệ sĩ vừa cần giữ lấy tiếng nói riêng, vừa không thể quay lưng với cộng đồng đã nuôi dưỡng mình. Trong diễn văn tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus từng cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến đã chạm đến một vấn đề cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật: người nghệ sĩ chân chính phải không ngừng hoàn thiện mình trong sự cân bằng giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và trách nhiệm đối với con người, cuộc đời. Trước hết, “cái đẹp không thể bỏ qua” là lời nhấn mạnh về bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật. Nghệ sĩ trước hết là người sáng tạo cái đẹp, nhưng cái đẹp ấy không chỉ nằm ở vẻ trau chuốt của ngôn từ hay sự cầu kì của hình thức. Nó còn là vẻ đẹp của tư tưởng, của cảm xúc, của cách nhìn mới mẻ về con người và thế giới. “Cộng đồng không thể tách khỏi” lại nhắc tới mối quan hệ không thể cắt đứt giữa người nghệ sĩ với đời sống chung. Dù sáng tạo từ một cái tôi cá nhân, nghệ sĩ vẫn sống giữa cộng đồng, nhận từ đó chất liệu, ngôn ngữ, trải nghiệm và những vấn đề ám ảnh. Vì vậy, “quãng đường giữa” mà Camus nói tới không phải sự thỏa hiệp nhạt nhòa, mà là một trạng thái căng thẳng sáng tạo: người nghệ sĩ vừa bảo vệ tự do và cá tính để tạo nên cái đẹp, vừa ý thức sâu sắc về trách nhiệm với con người. Chính trong quá trình dung hòa hai yêu cầu ấy, người nghệ sĩ trưởng thành và tác phẩm có được giá trị bền vững. Người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp, bởi nếu đánh mất nhu cầu sáng tạo, nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật. Điều này có thể thấy rõ qua Đàn ghi-ta của Lor-ca của Thanh Thảo. Bài thơ không kể lại cuộc đời Lor-ca theo lối thông thường mà tái tạo hình tượng người nghệ sĩ Tây Ban Nha bằng một thế giới hình ảnh giàu tính tượng trưng, liên tưởng và âm nhạc. Những câu thơ về “tiếng đàn bọt nước”, “áo choàng đỏ gắt”, “vầng trăng chếnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn” không chỉ tạo nên một không gian văn hóa Tây Ban Nha mà còn khắc họa Lor-ca như một nghệ sĩ tự do, cô độc, luôn đi tìm một chân trời nghệ thuật mới. Thanh Thảo đặc biệt say mê vẻ đẹp của tiếng đàn Lor-ca. Sau cái chết của người nghệ sĩ, tiếng đàn không mất đi mà hóa thân thành những hình ảnh đầy ám gợi: “tiếng ghi-ta nâu”, “tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy”, “tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan”. Ở đây, cái đẹp không tách khỏi bi kịch mà càng sáng lên từ bi kịch. Lor-ca có thể bị giết, nhưng nghệ thuật và khát vọng tự do mà ông đại diện thì không dễ bị hủy diệt. Thanh Thảo đã không minh họa cuộc đời Lor-ca bằng những thông tin khô cứng; ông sáng tạo một cấu trúc thơ mới mẻ, giàu nhạc tính, giàu biểu tượng để đưa người đọc đến gần hơn với tinh thần của người nghệ sĩ. Chính sự tìm tòi về hình thức cho thấy nghệ thuật không thể chỉ có ý tưởng đúng mà còn cần một cách biểu đạt đủ mới mẻ, đủ đẹp để ý tưởng ấy thực sự sống. Tuy nhiên, nghệ sĩ không thể chỉ đi tìm cái đẹp trong một không gian khép kín của riêng mình. Đời sống con người vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một minh chứng sâu sắc cho điều đó. Nhân vật Phùng vốn là một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Trong chuyến đi thực tế, anh bắt gặp một cảnh biển đẹp đến mức tưởng như đã chạm tới “chân lí của sự toàn thiện”. Chiếc thuyền trong sương hiện lên hài hòa, cân đối, khiến anh rung động trước vẻ đẹp tinh khôi của nghệ thuật. Nhưng ngay sau khoảnh khắc ấy, Phùng chứng kiến một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược: người đàn ông hàng chài đánh vợ một cách tàn nhẫn. Cái đẹp của bức ảnh và nỗi đau của con người cùng xuất hiện trong một không gian, buộc người nghệ sĩ phải thay đổi cách nhìn. Phùng nhận ra rằng nếu chỉ đứng từ xa để say mê một vẻ đẹp hoàn hảo, anh có thể bỏ qua những sự thật gai góc đang diễn ra ngay phía sau nó. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện tiếp tục làm sâu sắc nhận thức ấy. Người phụ nữ lam lũ, tưởng như chỉ biết cam chịu, hóa ra lại có những lí lẽ rất riêng bắt nguồn từ hoàn cảnh sống, từ đàn con, từ những nhọc nhằn của nghề biển. Nguyễn Minh Châu không hề phủ nhận giá trị của cái đẹp, nhưng ông nhắc nhở rằng cái đẹp nghệ thuật phải được đặt trong mối quan hệ với sự thật của đời sống và số phận con người. Nghệ sĩ càng nhạy cảm với cái đẹp càng cần nhạy cảm với nỗi đau. Nếu Đàn ghi-ta của Lor-ca cho thấy nhu cầu bảo vệ cái đẹp và Chiếc thuyền ngoài xa nhấn mạnh trách nhiệm với đời sống, thì bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng lại cho thấy điều gì xảy ra khi hai phương diện ấy không gặp được nhau. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài năng, mang trong mình khát vọng xây dựng một công trình “tranh tinh xảo với hóa công”, có thể làm vẻ vang đất nước. Khát vọng ấy không hề thấp kém. Nó xuất phát từ lòng say mê cái đẹp và ước mơ để lại cho đời một công trình lớn lao. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ Cửu Trùng Đài được xây lên bằng mồ hôi, tiền bạc và cả máu của nhân dân. Trong khi Vũ Như Tô hướng tới một vẻ đẹp lí tưởng thì dân chúng phải chịu sưu cao, thuế nặng, lao dịch khổ cực. Khoảng cách giữa nghệ thuật và đời sống vì thế ngày càng lớn. Vũ Như Tô tin rằng mình xây đài cho đất nước, cho hậu thế, nhưng ông lại không nhìn thấy rằng ngay trước mắt mình, con người đang khốn khổ vì công trình ấy. Chính sự lệch pha giữa lí tưởng nghệ thuật và đời sống cộng đồng đã đẩy ông vào bi kịch. Điều đáng nói là Nguyễn Huy Tưởng không đơn giản phủ định Vũ Như Tô. Nhà văn nhìn thấy trong nhân vật một tài năng lớn và một khát vọng nghệ thuật đáng trân trọng, nhưng đồng thời cũng chỉ ra giới hạn của một nghệ sĩ khi cái đẹp bị tách khỏi cuộc sống. Cửu Trùng Đài bị phá hủy không chỉ là sự sụp đổ của một công trình, mà còn là sự sụp đổ của một quan niệm nghệ thuật tuyệt đối hóa cái đẹp mà quên mất con người. Bi kịch ấy khiến người đọc hiểu rõ hơn ý kiến của Camus: nghệ thuật chân chính phải được tạo nên ở điểm gặp gỡ giữa khát vọng sáng tạo và trách nhiệm cộng đồng. Nếu chỉ có cái đẹp mà thiếu con người, cái đẹp có thể trở nên lạnh lẽo; nếu chỉ có trách nhiệm mà thiếu sáng tạo thẩm mĩ, nghệ thuật lại dễ trở thành lời minh họa khô cứng. Từ đó có thể thấy, ý kiến của Camus không yêu cầu người nghệ sĩ phải biến mọi tác phẩm thành tiếng nói trực tiếp về những vấn đề chính trị hay xã hội. Trách nhiệm với cộng đồng có nhiều hình thức. Một bài thơ tình, một truyện viết về nỗi cô đơn hay một tác phẩm khám phá thế giới nội tâm cá nhân vẫn có thể mang ý nghĩa cộng đồng nếu nó chạm đến những giá trị phổ quát của con người. Khi một tác phẩm giúp con người hiểu sâu hơn về tình yêu, sự mất mát, lòng tự trọng, tự do hay cô đơn, nó đã góp phần làm giàu đời sống tinh thần chung. Cũng cần hiểu rằng cái đẹp trong nghệ thuật không đồng nghĩa với sự bóng bẩy hình thức. Một tác phẩm có thể rất giản dị về ngôn ngữ nhưng vẫn đẹp bởi chiều sâu cảm xúc và cách nhìn chân thực. Ngược lại, một tác phẩm được trang trí bằng vô số kĩ thuật nhưng thiếu tư tưởng và thiếu cảm xúc vẫn có thể trở nên rỗng. Cái đẹp đích thực phải được tạo nên từ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa cảm xúc và tư tưởng, giữa phát hiện nghệ thuật và trải nghiệm sống. Vì thế, nghệ thuật chỉ chạy theo hình thức mà không quan tâm tới con người có nguy cơ trở thành một thứ vẻ đẹp vô cảm. Nhưng nghệ thuật chỉ chăm chú truyền tải thông điệp xã hội mà xem nhẹ sáng tạo lại dễ rơi vào thuyết giáo. Một tác phẩm lớn luôn cần sự gặp gỡ giữa Chân, Thiện và Mĩ: sự thật của đời sống tạo nên chiều sâu nhận thức, tình yêu con người tạo nên giá trị nhân văn, còn tài năng sáng tạo tạo nên sức sống thẩm mĩ. Ba phương diện ấy không tách rời mà nâng đỡ nhau. Nhìn từ Đàn ghi-ta của Lor-ca, Chiếc thuyền ngoài xa và Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, có thể thấy người nghệ sĩ luôn phải đi trên một con đường không dễ dàng. Họ cần đủ tự do để giữ lấy tiếng nói riêng, đủ say mê để không phản bội cái đẹp, nhưng cũng cần đủ tỉnh táo để nghe được tiếng nói của đời sống và con người quanh mình. Sự trưởng thành của người nghệ sĩ vì thế không chỉ nằm ở việc kĩ thuật ngày một tinh luyện, mà còn ở khả năng mở rộng cái tôi cá nhân để đối thoại với cộng đồng. Có lẽ đó cũng là lí do những tác phẩm lớn thường không chỉ đẹp mà còn khiến ta nghĩ, không chỉ khiến ta rung động mà còn khiến ta nhìn lại cách mình đang sống giữa người khác. Ý kiến của A. Camus vì vậy là một quan niệm sâu sắc về bản chất của sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ chân chính không thể từ bỏ cái đẹp, nhưng cũng không thể quay lưng với cộng đồng. Chỉ khi cái đẹp gặp được sự thật của đời sống, khi tự do sáng tạo gặp được trách nhiệm với con người, nghệ thuật mới vượt khỏi giới hạn của một biểu hiện cá nhân để trở thành giá trị chung có khả năng sống lâu trong tâm trí nhiều thế hệ. Bài tham khảo Mẫu 2 Có những tác phẩm bắt đầu từ một khoảnh khắc rất riêng: một ánh nắng trên khu vườn, một chuyến tàu đi qua phố huyện, một tiếng gọi tha thiết về đất nước. Nhưng khi đi vào văn chương, những rung động riêng tư ấy không còn chỉ thuộc về một cá nhân. Chúng trở thành nơi con người gặp gỡ nhau trong cái đẹp, trong kí ức, trong niềm vui và cả những nỗi đau chung. Bởi vậy, sáng tạo nghệ thuật chưa bao giờ là hành trình khép kín của một cái tôi đơn độc. Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus từng cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến đã gợi mở một quan niệm sâu sắc về bản chất của nghệ thuật: người nghệ sĩ phải giữ được tự do và cá tính sáng tạo để hướng tới cái đẹp, nhưng đồng thời không thể tách mình khỏi đời sống và trách nhiệm đối với con người. “Cái đẹp không thể bỏ qua” trước hết nhấn mạnh thiên chức thẩm mĩ của nghệ thuật. Người nghệ sĩ sáng tạo không chỉ để kể lại cuộc sống mà còn phải tìm ra một hình thức biểu đạt riêng, một cách nhìn riêng, một vẻ đẹp có khả năng làm giàu đời sống tinh thần của con người. Trong khi đó, “cộng đồng không thể tách khỏi” khẳng định nghệ sĩ luôn tồn tại trong mối quan hệ với người khác. Đời sống cộng đồng cung cấp cho nghệ thuật chất liệu, ngôn ngữ, cảm xúc, những câu hỏi về con người và thời đại; đồng thời cũng là nơi tác phẩm hướng đến. Người nghệ sĩ vì thế luôn đứng trong “quãng đường giữa”: một bên là nhu cầu bảo vệ cái tôi sáng tạo, một bên là trách nhiệm với đời sống chung. Chính quá trình không ngừng tìm kiếm sự hài hòa giữa hai phương diện ấy giúp người nghệ sĩ trưởng thành và tạo nên những tác phẩm có giá trị lâu bền. Trước hết, người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi cái đẹp là một trong những lí do căn bản khiến nghệ thuật tồn tại. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử cho thấy rõ sức mạnh của một tâm hồn luôn hướng tới vẻ đẹp ngay trong những hoàn cảnh đau đớn nhất. Bài thơ mở ra bằng câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, như một lời mời, một lời trách nhẹ, đồng thời đánh thức cả một miền kí ức. Từ đó, thôn Vĩ hiện lên trong trẻo dưới ánh “nắng hàng cau”, với khu vườn “mướt quá xanh như ngọc”. Chỉ vài nét chấm phá, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một thế giới thanh tân, tinh khiết, nơi thiên nhiên dường như được nhìn qua một tâm hồn đang tha thiết níu giữ vẻ đẹp của cuộc sống. Nhưng cái đẹp trong Đây thôn Vĩ Dạ không chỉ là vẻ đẹp của cảnh vật. Nó còn là vẻ đẹp của khát vọng giao cảm. Càng về sau, không gian càng trở nên xa cách: gió và mây chia lìa, dòng nước buồn, bóng người xa mờ trong sương khói. Hình ảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” vừa thực vừa mộng, khiến cảnh vật mang vẻ đẹp huyền ảo nhưng cũng thấm đượm nỗi cô đơn. Đặc biệt, câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” khép lại bài thơ bằng một nỗi băn khoăn không có lời đáp. Hàn Mặc Tử không né tránh bi kịch của bản thân, nhưng từ nỗi đau ấy, ông vẫn nâng niu cái đẹp của thiên nhiên, tình người và khát vọng được kết nối. Bài thơ cho thấy người nghệ sĩ chân chính không chỉ sao chép hiện thực mà có khả năng làm cho hiện thực bước vào một thế giới thẩm mĩ mới. Cái đẹp ấy được tạo nên từ cảm xúc chân thành, ngôn ngữ giàu sức gợi và một cái tôi sáng tạo không thể hòa lẫn. Tuy vậy, nghệ thuật không thể chỉ dừng lại ở những rung động riêng. Người nghệ sĩ còn phải gắn bó với cộng đồng bởi con người và đời sống luôn là nguồn sống của văn chương. Hai đứa trẻ của Thạch Lam là minh chứng tiêu biểu. Truyện gần như không có một cốt truyện kịch tính. Thạch Lam chỉ đưa người đọc về một phố huyện nghèo khi chiều xuống, nơi những kiếp người nhỏ bé đang sống một cuộc đời lặng lẽ và quẩn quanh. Chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng nước nhưng chẳng kiếm được bao nhiêu; bác Siêu với gánh phở là một món quà quá xa xỉ đối với người nghèo; gia đình bác xẩm sống lay lắt; chị em Liên và An ngồi trông một cửa hàng nhỏ trong bóng tối đang dần phủ kín. Đáng nói là Thạch Lam không quan sát họ từ một khoảng cách lạnh lùng. Ông đi vào nhịp sống chậm buồn của phố huyện bằng một niềm thương cảm kín đáo. Mỗi con người đều nhỏ bé, nghèo nàn, gần như không có khả năng thay đổi cuộc sống. Nhưng họ vẫn chờ đợi một điều gì đó. Đoàn tàu đêm đi qua phố huyện trở thành khoảnh khắc hiếm hoi mang theo ánh sáng, âm thanh và hơi thở của một thế giới khác. Liên và An cố thức đợi tàu không chỉ để nhìn một chuyến tàu, mà còn như để được chạm vào một cuộc sống sáng hơn, náo nhiệt hơn, khác với bóng tối quen thuộc đang bao quanh mình. Qua hình ảnh ấy, Thạch Lam đã nhận ra trong những con người rất bình thường một khát vọng khó gọi thành tên: khát vọng được đổi thay, được sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn. Chính ở đây, có thể thấy nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng. Nếu không sống gần những số phận nhỏ bé, không biết lắng nghe nhịp thở của đời thường, Thạch Lam khó có thể viết nên một truyện ngắn gần như không có biến cố mà vẫn để lại dư âm sâu sắc đến vậy. Đời sống cộng đồng không chỉ cung cấp đề tài cho nhà văn; quan trọng hơn, nó khiến nhà văn biết đau cùng những niềm đau và nhận ra cả những ước mong rất mong manh của con người. Hai đứa trẻ vì thế không chỉ là một bức tranh phố huyện mà còn là một biểu hiện của lòng nhân ái. Nếu Đây thôn Vĩ Dạ cho thấy khát vọng sáng tạo cái đẹp và Hai đứa trẻ cho thấy sự gắn bó của người nghệ sĩ với đời sống, thì đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm lại là một minh chứng đẹp đẽ cho điểm gặp gỡ giữa hai phương diện ấy. Viết trong những năm kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đứng trước một đề tài lớn: đất nước. Nhưng ông không lựa chọn cách nói trang trọng, xa vời hay chỉ kể lại những chiến công lịch sử. Nhà thơ đưa đất nước trở về với những điều thân thuộc nhất trong cuộc sống của mỗi người. Đất nước hiện lên từ câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường kể, từ miếng trầu bà ăn, từ mái tóc mẹ, từ hạt gạo một nắng hai sương, từ những phong tục và lối sống đã đi qua bao thế hệ. Cách cảm nhận ấy khiến khái niệm đất nước vốn lớn lao trở nên gần gũi. Đất nước không chỉ có trong bản đồ hay sử sách; đất nước có trong lời ăn tiếng nói, trong gia đình, trong kí ức, trong mỗi con người bình dị. Sự sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm nằm ở việc kết hợp chất liệu văn hóa dân gian với giọng thơ trữ tình – chính luận, làm cho một vấn đề mang tính tư tưởng vẫn giàu cảm xúc. Đặc biệt, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” đã đưa bài thơ vượt ra khỏi cảm xúc cá nhân để trở thành tiếng nói hướng về cộng đồng. Nguyễn Khoa Điềm nhìn lại lịch sử không chỉ qua những tên tuổi lớn mà còn qua biết bao con người vô danh đã sống, lao động, chiến đấu và góp phần tạo nên đất nước. Những người “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng chính họ đã “làm ra Đất Nước”. Như vậy, cái đẹp nghệ thuật ở đây không hề tách khỏi trách nhiệm cộng đồng. Trái lại, chính ý thức về nhân dân đã đem đến cho bài thơ chiều sâu tư tưởng; còn nghệ thuật sử dụng chất liệu dân gian, hình ảnh gần gũi, giọng điệu giàu cảm xúc đã giúp tư tưởng ấy trở nên thấm thía. Đây là điểm gặp gỡ mà Camus nói tới: nghệ sĩ vẫn giữ được cá tính sáng tạo của mình nhưng đồng thời hướng tiếng nói ấy về đời sống chung. Từ ba tác phẩm có thể thấy, nghệ thuật chân chính luôn cần cả hai phía. Nếu chỉ có khát vọng về cái đẹp mà tách khỏi con người, nghệ thuật có thể trở thành một trò chơi hình thức tinh xảo nhưng lạnh lẽo. Ngược lại, nếu người nghệ sĩ chỉ chú ý đến thông điệp xã hội mà xem nhẹ yêu cầu thẩm mĩ, tác phẩm dễ trở thành sự minh họa hoặc thuyết giáo. Văn chương không phải một bản báo cáo về hiện thực; nó cần biến sự thật đời sống thành những hình tượng có sức lay động. Bởi vậy, trách nhiệm với cộng đồng và khát vọng sáng tạo không loại trừ nhau mà phải bổ sung cho nhau. Cũng cần hiểu rằng trách nhiệm với cộng đồng không có nghĩa mọi tác phẩm đều phải trực tiếp nói về những vấn đề lớn lao của xã hội hay thời đại. Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là tiếng lòng của một cá nhân đang khát khao giao cảm, nhưng chính sự chân thành trong nỗi cô đơn và khát vọng được yêu thương ấy lại khiến bài thơ chạm tới trải nghiệm phổ quát của con người. Một tác phẩm viết về tình yêu, kí ức, cô đơn hay mất mát vẫn có thể mang ý nghĩa cộng đồng nếu giúp con người nhận ra một phần sâu kín trong chính mình. Cộng đồng không chỉ hiện diện trong những vấn đề chung của xã hội mà còn trong những cảm xúc chung làm nên nhân tính. Tương tự, không nên đồng nhất cái đẹp với sự cầu kì hình thức. Cái đẹp của Hai đứa trẻ không nằm ở những thủ pháp phô trương mà ở giọng văn tinh tế, không khí man mác và khả năng làm hiện lên cả một đời sống từ những chi tiết rất nhỏ. Cái đẹp của Đất Nước lại nằm trong sự kết hợp tự nhiên giữa tư tưởng và cảm xúc, giữa văn hóa dân gian và tiếng nói của một người trí thức trẻ trước vận mệnh dân tộc. Nghệ thuật đẹp khi hình thức trở thành phương tiện thích hợp nhất để chuyên chở một cảm xúc chân thật và một khám phá có ý nghĩa về con người. Vì thế, tác phẩm lớn thường hướng tới sự hòa hợp giữa Chân, Thiện và Mĩ. “Chân” là sự trung thực với đời sống và với cảm xúc; “Thiện” là tình yêu, sự tôn trọng con người; “Mĩ” là khả năng sáng tạo nên những hình thức nghệ thuật có sức lay động. Thiếu sự thật, nghệ thuật trở nên giả tạo; thiếu tình người, cái đẹp dễ trở nên lạnh; thiếu sáng tạo, những tư tưởng đúng đắn khó có thể trở thành văn chương. Ba giá trị ấy khi gặp nhau sẽ tạo nên sức sống lâu bền của tác phẩm. Ý kiến của A. Camus vì thế không chỉ nói về lựa chọn nghề nghiệp của người nghệ sĩ mà còn đặt ra một thử thách lâu dài đối với sáng tạo. Người nghệ sĩ phải biết đi sâu vào cái tôi để tìm được tiếng nói riêng, nhưng cũng phải bước ra khỏi chính mình để lắng nghe những tiếng nói khác. Họ cần say mê cái đẹp nhưng không được quên những con người đang sống ngoài trang giấy. Càng trưởng thành, nghệ sĩ càng hiểu rằng tự do sáng tạo và trách nhiệm cộng đồng không phải hai con đường tách biệt, mà là hai chiều của cùng một hành trình. Từ vẻ đẹp vừa gần vừa xa của Đây thôn Vĩ Dạ, nỗi buồn nhân hậu trong Hai đứa trẻ đến tiếng nói về “Đất Nước của Nhân dân” của Nguyễn Khoa Điềm, có thể thấy nghệ thuật chỉ thực sự có sức sống khi cái đẹp tìm được một nơi để gặp gỡ con người. Bởi vậy, nhận định của A. Camus là một quan niệm sâu sắc về thiên chức người nghệ sĩ. Sáng tạo chân chính không phải rời bỏ cộng đồng để đi tìm cái đẹp, cũng không phải hi sinh cái đẹp chỉ để phục vụ một thông điệp tức thời. Đó là hành trình không ngừng tìm một điểm cân bằng khó khăn nhưng cần thiết: để tác phẩm vừa mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ, vừa có thể trở thành tiếng nói chung của con người trong cuộc đời rộng lớn. Bài tham khảo Mẫu 3 Mỗi người nghệ sĩ khi bước vào hành trình sáng tạo dường như đều mang theo hai tiếng gọi. Một tiếng gọi vọng lên từ thế giới riêng của tâm hồn, thôi thúc họ đi tìm cái mới, cái đẹp và một cách biểu đạt chưa từng có. Tiếng gọi còn lại đến từ cuộc đời rộng lớn, nơi có những con người đang yêu thương, đau khổ, hi vọng và cùng chia sẻ một số phận chung. Nghệ thuật khó có thể sống lâu nếu người cầm bút chỉ lắng nghe một trong hai tiếng gọi ấy. Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus từng cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Nhận định đã chạm đến một vấn đề sâu sắc của sáng tạo: người nghệ sĩ chân chính vừa cần bảo vệ cá tính và tự do để vươn tới cái đẹp, vừa phải gắn bó với cộng đồng, và chính hành trình tìm kiếm sự hài hòa giữa hai phương diện ấy làm nên giá trị của nghệ thuật. “Cái đẹp không thể bỏ qua” trước hết khẳng định bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật. Người nghệ sĩ không đơn thuần sao chép những gì đã có mà phải sáng tạo, phải đem đến cho đời một cách cảm, cách nghĩ và hình thức biểu đạt mang dấu ấn riêng. Còn “cộng đồng không thể tách khỏi” nhấn mạnh rằng nghệ sĩ dù có cá tính mạnh mẽ đến đâu cũng không tồn tại ngoài đời sống. Họ nhận từ cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa, những trải nghiệm và chất liệu sáng tạo; rồi tác phẩm sau khi ra đời lại trở về với con người. Bởi vậy, “quãng đường giữa” mà Camus nhắc tới chính là hành trình người nghệ sĩ không ngừng điều hòa giữa cái tôi và người khác, giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp với trách nhiệm trước cuộc đời. Đó không phải sự thỏa hiệp làm mất cá tính, mà là quá trình giúp tài năng và ý thức nhân văn cùng trưởng thành. Trước hết, nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi sáng tạo cái đẹp là một trong những thiên chức căn bản của nghệ thuật. Vội vàng của Xuân Diệu là minh chứng đặc biệt rõ nét. Trước Xuân Diệu, thiên nhiên mùa xuân đã xuất hiện nhiều trong thơ ca, nhưng qua đôi mắt của ông, thế giới dường như được nhìn lại lần đầu với tất cả vẻ tươi non và quyến rũ. Nhà thơ muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” – những ước muốn tưởng như phi lí nhưng lại rất chân thành, bởi ông muốn giữ màu đừng nhạt, giữ hương đừng bay, muốn níu lại mọi vẻ đẹp đang hiện hữu trước mắt mình. Dưới ánh nhìn say mê ấy, cuộc đời hiện lên như một khu vườn tràn đầy sức sống: có ong bướm, hoa đồng nội, lá cành, ánh sáng và tiếng chim. Đặc biệt, Xuân Diệu đã đưa ra một chuẩn mực thẩm mĩ mới khi cảm nhận “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Thiên nhiên không còn là chuẩn mực để so sánh con người; ngược lại, vẻ đẹp trẻ trung của con người trở thành chuẩn mực để nhà thơ cảm nhận thiên nhiên. Đó là một dấu ấn rất riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nhưng cái đẹp trong Vội vàng không đứng yên. Chính vì cảm nhận sâu sắc sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ càng thấy vẻ đẹp trở nên quý giá. “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”, bởi trong khoảnh khắc hiện tại đã thấp thoáng sự chia lìa. Từ đó, lời giục giã “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” và khát vọng “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” sự sống trở thành biểu hiện của một tình yêu cuộc đời mãnh liệt. Xuân Diệu không chỉ tìm thấy cái đẹp mà còn tạo nên một cách nói mới về cái đẹp bằng nhịp thơ biến đổi linh hoạt, hình ảnh táo bạo và cảm xúc nồng nhiệt. Qua Vội vàng, có thể thấy nghệ thuật cần cá tính. Nếu người nghệ sĩ không dám nhìn bằng đôi mắt của riêng mình, cái đẹp rất dễ trở thành sự lặp lại. Tuy nhiên, một tiếng nói riêng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó vẫn có khả năng gặp gỡ những tiếng nói khác. Người nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng bởi đời sống con người chính là nguồn sống và cũng là nơi nghệ thuật hướng đến. Làng của Kim Lân đã cho thấy điều đó qua một câu chuyện tưởng rất bình dị về ông Hai – một người nông dân phải rời làng Chợ Dầu đi tản cư trong những năm kháng chiến chống Pháp. Ông Hai yêu làng bằng một tình yêu gần như bản năng. Đi đâu ông cũng nhớ làng, thích kể về làng và tự hào về làng mình. Nhưng Kim Lân không dừng lại ở tình cảm riêng tư ấy. Ông đặt nhân vật vào một tình huống thử thách: ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Tin dữ ấy khiến ông đau đớn, tủi hổ. Ông “cổ nghẹn ắng hẳn lại”, da mặt tê rân rân, rồi lặng lẽ cúi đầu đi về. Những ngày sau đó, ông gần như không dám bước ra ngoài vì sợ nghe người ta nhắc đến chuyện làng mình. Điều đáng quý là chính trong hoàn cảnh ấy, tình yêu làng của ông Hai được đặt trong một tình cảm lớn hơn. Ông yêu làng tha thiết nhưng không thể chấp nhận một ngôi làng phản bội kháng chiến. Lựa chọn “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” cho thấy tình cảm của người nông dân đã có sự chuyển biến sâu sắc. Tình yêu với nơi chôn nhau cắt rốn giờ đây hòa vào tình yêu đất nước và lòng trung thành với kháng chiến. Đến khi tin làng theo giặc được cải chính, ông vui sướng đi khoe cả chuyện nhà mình bị Tây đốt. Nghe tưởng nghịch lí, nhưng trong niềm vui ấy là sự tự hào vì gia đình ông đã chịu mất mát để chứng minh làng mình không phản bội. Kim Lân đã không nói về lòng yêu nước bằng những khái niệm xa xôi. Ông tìm nó trong nỗi nhớ làng, trong niềm tự hào, trong những phút đau đớn và lựa chọn của một người nông dân bình thường. Chính sự gắn bó với đời sống cộng đồng giúp nhà văn phát hiện rằng những tình cảm lớn của dân tộc đôi khi bắt đầu từ những điều rất gần gũi. Nghệ thuật vì thế không cần đứng trên cuộc đời để cất lên những lời lớn lao; nhiều khi chỉ cần bước đủ gần vào tâm hồn một con người, nhà văn đã có thể chạm đến tâm trạng của cả một cộng đồng. Nếu Vội vàng làm nổi bật cá tính sáng tạo và Làng cho thấy sự gắn bó của nghệ sĩ với đời sống, thì Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân là một điểm gặp gỡ đẹp đẽ giữa hai phương diện ấy. Nguyễn Tuân vốn là người suốt đời đi tìm cái đẹp. Đến với Tây Bắc, ông vẫn mang theo đôi mắt của một nghệ sĩ tài hoa, nhưng cái đẹp mà ông tìm kiếm giờ đây không còn xa cách đời sống. Nó hiện hữu trong thiên nhiên đất nước và đặc biệt trong những con người lao động bình thường. Sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân trước hết là một công trình nghệ thuật của thiên nhiên. Có lúc con sông hung bạo với đá dựng thành vách, những hút nước nguy hiểm, thác nước gầm réo và những trùng vi thạch trận như muốn nuốt chửng con người. Nhưng khi đi qua những đoạn thác dữ, Sông Đà lại mang một vẻ đẹp hoàn toàn khác: dòng sông “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”, màu nước thay đổi theo mùa, bờ sông mang vẻ hoang sơ, yên tĩnh. Chỉ một dòng sông mà Nguyễn Tuân nhìn thấy nhiều diện mạo. Điều ấy cho thấy sự giàu có trong cảm quan thẩm mĩ và tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông. Song nếu tác phẩm chỉ dừng lại ở việc ngợi ca Sông Đà, nó chưa thể có chiều sâu như vậy. Trung tâm của thiên tùy bút cuối cùng vẫn là con người. Ông lái đò không có tên riêng, chỉ là một người lao động bình thường đã nhiều năm gắn bó với dòng sông. Nhưng dưới con mắt Nguyễn Tuân, công việc vượt thác của ông trở thành một cuộc chiến đầy trí tuệ và bản lĩnh. Ông thuộc từng luồng nước, từng cửa sinh, cửa tử; khi đối diện thạch trận, ông bình tĩnh điều khiển con thuyền, nắm đúng quy luật của dòng nước để vượt qua. Điều đẹp nhất là sau khi chiến thắng thác dữ, người lái đò và những người bạn lại bình thản đốt lửa, nói về cá và cuộc sống thường ngày, gần như không nhắc đến chiến công vừa trải qua. Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất “vàng mười” trong chính những người lao động Tây Bắc. Một người nghệ sĩ từng say mê những vẻ đẹp “vang bóng một thời” giờ đây hướng ánh nhìn tài hoa vào con người của cuộc sống mới. Cá tính nghệ thuật của ông không mất đi; trái lại, nó được làm giàu khi gặp đời sống. Chính ở đây, cái đẹp và cộng đồng không đứng ở hai phía. Con người của cộng đồng trở thành đối tượng của cái đẹp, còn tài năng nghệ sĩ giúp vẻ đẹp vốn âm thầm ấy được phát hiện và tỏa sáng. Ba tác phẩm với ba thế giới khác nhau đã làm rõ điều Camus nói về hành trình của người nghệ sĩ. Xuân Diệu cho thấy nghệ thuật cần một cái tôi đủ mạnh để nhìn cuộc sống theo cách riêng. Kim Lân chứng minh rằng văn chương chỉ thực sự sâu khi chạm vào đời sống và tâm hồn cộng đồng. Nguyễn Tuân lại cho thấy một nghệ sĩ có thể giữ nguyên cá tính tài hoa mà vẫn tìm được sự hòa hợp với những con người bình dị của thời đại. Nghệ thuật chân chính vì vậy không bắt người nghệ sĩ phải lựa chọn hoặc cái đẹp, hoặc cộng đồng. Điều khó hơn chính là làm cho hai phương diện ấy gặp được nhau. Tuy nhiên, trách nhiệm với cộng đồng không đồng nghĩa với việc mọi tác phẩm đều phải trực tiếp giải quyết một vấn đề chính trị hay xã hội. Vội vàng bắt đầu từ cảm thức rất riêng của Xuân Diệu về tuổi trẻ, thời gian và tình yêu cuộc sống, nhưng niềm khát sống ấy vẫn có khả năng đánh thức ở người đọc ý thức về giá trị của hiện tại. Một tiếng nói càng chân thật với những trải nghiệm sâu xa của con người càng có cơ hội vượt khỏi phạm vi cá nhân để trở thành tiếng nói chung. Trách nhiệm của nghệ thuật, vì thế, đôi khi nằm ngay trong việc giúp con người biết sống sâu sắc hơn. Cũng không nên đồng nhất cái đẹp với sự cầu kì hay trau chuốt hình thức. Cái đẹp nghệ thuật còn nằm ở sự chân thật của cảm xúc, chiều sâu của tư tưởng, sức sống của hình tượng và khả năng đem đến một cách nhìn mới. Ngôn ngữ tài hoa của Nguyễn Tuân đẹp bởi nó giúp người đọc nhận ra vẻ kì vĩ của thiên nhiên và tài năng của người lao động; cách xây dựng tâm lí ông Hai của Kim Lân có giá trị bởi qua một cá nhân cụ thể, nhà văn chạm tới tình cảm của biết bao người dân trong kháng chiến. Nếu nghệ thuật chỉ say mê hình thức mà quên mất con người, nó có thể rất tinh xảo nhưng lạnh lẽo. Ngược lại, nếu chỉ chăm chú chuyển tải những thông điệp đúng đắn mà không quan tâm tới sáng tạo thẩm mĩ, tác phẩm dễ trở thành lời thuyết giáo. Một tác phẩm lớn vì thế luôn hướng tới sự gặp gỡ giữa Chân, Thiện và Mĩ: sự thật của đời sống cho nghệ thuật chiều sâu, tình yêu con người đem đến giá trị nhân văn, còn tài năng sáng tạo giúp những giá trị ấy có được hình hài đẹp đẽ và sức sống lâu bền. “Quãng đường giữa” mà Camus nói đến có lẽ không phải một con đường bằng phẳng. Người nghệ sĩ phải liên tục tự hỏi mình: làm thế nào để giữ được tiếng nói riêng mà không trở thành một cái tôi khép kín; làm thế nào để hướng về cộng đồng mà không đánh mất tự do sáng tạo? Chính những câu hỏi ấy buộc người nghệ sĩ phải “tôi luyện bản thân”, phải sống sâu hơn, nhìn kĩ hơn và làm mới nghệ thuật của mình. Tài năng vì thế không chỉ trưởng thành trong cô độc của phòng viết mà còn trong cuộc đối thoại không ngừng với con người và thời đại. Từ nhịp sống cuống quýt trong Vội vàng, tình yêu làng tha thiết của ông Hai đến cuộc vượt thác hào hùng của người lái đò Sông Đà, văn chương cho thấy cái đẹp có thể bắt đầu từ một tâm hồn riêng nhưng chỉ thực sự rộng lớn khi tìm được đường đến với con người. Nhận định của A. Camus vì vậy đã chạm tới bản chất và thiên chức của người nghệ sĩ. Nghệ thuật cần một cái tôi không thể thay thế, nhưng cái tôi ấy không sống trong khoảng không; nó trưởng thành giữa cuộc đời, trong quan hệ với những người khác. Và có lẽ những tác phẩm sống lâu nhất chính là những tác phẩm mà ở đó, vẻ đẹp của sáng tạo và nhịp đập của cộng đồng không còn đứng ở hai phía, mà cùng hòa chung trong một tiếng nói nhân văn. Bài tham khảo Mẫu 4 Có những bài thơ khởi đi từ một rung động rất riêng, nhưng khi chạm tới người đọc, chúng lại trở thành tiếng nói của nhiều tâm hồn. Một mùa thu trong mắt Xuân Diệu có thể làm sống dậy cảm giác mong manh trước thời gian; một cuộc chia tay trong Việt Bắc có thể hóa thành nỗi nhớ của cả một thời kháng chiến; những con sóng trong thơ Xuân Quỳnh lại chuyên chở khát vọng yêu thương muôn thuở của con người. Bởi nghệ thuật chân chính luôn bắt đầu từ cái tôi nhưng không dừng lại ở cái tôi. Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus từng cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến đã đặt ra một vấn đề sâu sắc về bản chất của sáng tạo nghệ thuật: người nghệ sĩ vừa phải giữ gìn tự do, cá tính và khát vọng sáng tạo cái đẹp, vừa không thể quay lưng với con người và đời sống chung. “Cái đẹp không thể bỏ qua” trước hết nhấn mạnh bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật. Người nghệ sĩ không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn phải làm cho cuộc sống ấy được nhìn thấy bằng một hình thức mới, một cảm quan mới, một giọng điệu riêng. Nếu thiếu cá tính sáng tạo, nghệ thuật chỉ còn là sự lặp lại. Trong khi đó, “cộng đồng không thể tách khỏi” lại nhắc rằng người nghệ sĩ luôn sống giữa con người, được nuôi dưỡng bởi ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và những trải nghiệm chung. Vì thế, “quãng đường giữa” mà Camus nói tới chính là hành trình dung hòa giữa cái tôi và người khác, giữa tự do sáng tạo và trách nhiệm cộng đồng. Nghệ sĩ chân chính phải không ngừng “tôi luyện” mình trong mối tương quan ấy: càng có tiếng nói riêng càng phải biết lắng nghe đời sống; càng say mê cái đẹp càng phải hiểu rằng vẻ đẹp lớn nhất cuối cùng vẫn phải hướng về con người. Người nghệ sĩ trước hết không thể bỏ qua cái đẹp, bởi sáng tạo cái đẹp là thiên chức căn bản của nghệ thuật. Đây mùa thu tới của Xuân Diệu là một minh chứng rõ nét. Mùa thu vốn là đề tài quen thuộc của thi ca phương Đông, nhưng qua cảm quan Xuân Diệu, nó hiện lên với một sắc thái mới: trẻ trung mà buồn, đẹp đẽ mà mong manh, quyến rũ mà đã thấp thoáng dấu hiệu phôi pha. Ngay từ hình ảnh “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”, nhà thơ đã mang đến một cách nhìn táo bạo. Liễu không chỉ là cây liễu mà trở thành một dáng hình có tâm trạng, như đang cúi đầu trong nỗi buồn biệt li. Mùa thu trong bài thơ không hiện ra bằng những hình ảnh ước lệ quen thuộc mà qua những chuyển động rất tinh tế: hoa rụng, lá run, cành khô, sắc đỏ phai dần, cái rét mướt len vào không gian. Nhà thơ nhìn mùa thu bằng một tâm hồn cực kì nhạy cảm với sự biến đổi của thời gian. Chính khả năng cảm nhận những biến chuyển nhỏ bé ấy tạo nên vẻ đẹp riêng cho thơ Xuân Diệu. Ông không bằng lòng với những khuôn mẫu có sẵn mà làm mới đề tài bằng ngôn ngữ, hình ảnh và cảm giác của riêng mình. Đặc biệt, cái đẹp trong Đây mùa thu tới không phải vẻ đẹp tĩnh lặng mà luôn gắn với cảm giác mất mát. Xuân Diệu yêu cuộc sống nên càng nhạy cảm trước sự tàn phai. Cái đẹp vì thế vừa được nâng niu, vừa nhuốm buồn. Từ một mùa thu của thiên nhiên, nhà thơ đã tạo nên một mùa thu của tâm trạng. Điều đó cho thấy nghệ thuật không chỉ cần cảm xúc mà còn cần khả năng sáng tạo hình thức để cảm xúc ấy trở nên độc đáo. Chính cá tính thẩm mĩ đã khiến một đề tài cũ trở thành một trải nghiệm mới. Tuy nhiên, người nghệ sĩ không thể chỉ sống trong thế giới của riêng mình. Đời sống cộng đồng vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật. Việt Bắc của Tố Hữu là một ví dụ tiêu biểu. Bài thơ ra đời từ một sự kiện lịch sử cụ thể: cuộc chia tay giữa cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng qua tài năng của Tố Hữu, một sự kiện mang tính chính trị không trở thành lời tổng kết khô cứng mà hóa thành một cuộc đối thoại đầy tình nghĩa. Cặp đại từ “mình – ta” khiến mối quan hệ giữa cách mạng và nhân dân được diễn đạt như một tình cảm thân thiết, gần gũi. Nỗi nhớ Việt Bắc không chỉ là nhớ núi rừng, nhớ bản làng, mà còn là nhớ những con người đã cùng sẻ chia gian khó: những ngày “miếng cơm chấm muối”, những mái nhà, những người mẹ, những lớp học, những buổi lao động và cả những năm tháng chiến đấu. Tố Hữu đã làm cho lịch sử đi vào thơ qua tình cảm con người. Chính sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng khiến bài thơ có sức lay động. Đặc biệt, Việt Bắc không chỉ nói về một cá nhân nhớ một miền đất. Nỗi nhớ ấy đại diện cho tình nghĩa giữa cách mạng và nhân dân, giữa những con người từng cùng nhau đi qua một thời gian khổ. Trong bức tranh tứ bình, thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên hài hòa, vừa giàu màu sắc vừa ấm áp tình đời. Còn trong những đoạn thơ về đoàn quân, khí thế của cả một thời đại lại hiện ra mạnh mẽ, hào hùng. Như vậy, cộng đồng trong thơ Tố Hữu không phải một khái niệm trừu tượng mà là những gương mặt, những bàn tay, những năm tháng cùng nhau sống và chiến đấu. Nghệ thuật ở đây đã trở thành một hình thức lưu giữ kí ức chung. Nếu Đây mùa thu tới cho thấy nhu cầu bảo vệ cá tính sáng tạo và Việt Bắc khẳng định sự gắn bó của nghệ sĩ với cộng đồng, thì Sóng của Xuân Quỳnh lại cho thấy một cách rất đẹp sự gặp gỡ giữa cái tôi riêng tư và những giá trị chung của con người. Sóng trước hết là tiếng nói của một người phụ nữ đang yêu, với những rung động rất riêng, rất chân thật. Nhưng chính từ cái riêng ấy, bài thơ đã chạm đến bản chất phổ quát của tình yêu. Hình tượng sóng được xây dựng như một ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ. Những trạng thái “dữ dội và dịu êm”, “ồn ào và lặng lẽ” vừa đối lập vừa thống nhất, gợi lên những biến động phức tạp của tình yêu. Xuân Quỳnh không né tránh những mâu thuẫn nội tâm mà nhìn chúng như một phần tự nhiên của cảm xúc. Cũng như sóng không chịu nằm yên trong một không gian chật hẹp mà tìm ra tận bể, trái tim người phụ nữ cũng hướng về một tình yêu rộng lớn, sâu sắc và đích thực. Điều đáng quý là cái tôi trong Sóng không khép kín trong cảm xúc cá nhân. Khi nhà thơ tự hỏi về nguồn gốc của sóng và tình yêu, câu trả lời vẫn bỏ ngỏ: “Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau”. Chính sự thành thật ấy khiến bài thơ gần gũi với trải nghiệm của bao người. Nỗi nhớ trong tình yêu cũng được diễn tả vừa mãnh liệt vừa dịu dàng, từ mặt nước đến chiều sâu, từ ý thức đến giấc mơ. Đó là nỗi nhớ của một người, nhưng cũng là nỗi nhớ mà bất cứ ai từng yêu đều có thể nhận ra. Đặc biệt, ở cuối bài thơ, khát vọng tình yêu cá nhân được mở rộng thành ước muốn vượt qua giới hạn hữu hạn của đời người. Xuân Quỳnh muốn tình yêu được hòa vào “biển lớn tình yêu”, muốn cái riêng tìm thấy sự sống lâu bền trong một giá trị lớn hơn bản thân. Chính ở đây, cái đẹp và cộng đồng gặp nhau theo một cách tinh tế. Bài thơ không trực tiếp nói về những vấn đề xã hội, nhưng nó vẫn mang ý nghĩa cộng đồng bởi chạm tới khát vọng phổ quát: được yêu chân thành, được sống hết mình và được giữ gìn một tình yêu vượt qua sự hữu hạn của thời gian. Từ ba tác phẩm có thể thấy, con đường mà Camus nói tới không phải là sự lựa chọn giữa cái đẹp và cộng đồng. Xuân Diệu tạo nên vẻ đẹp độc đáo từ cái nhìn riêng; Tố Hữu làm cho tiếng nói của cộng đồng trở thành thơ; Xuân Quỳnh lại biến cảm xúc riêng tư thành một tiếng nói có khả năng gặp gỡ nhiều người. Nghệ thuật lớn luôn cần một cái tôi rõ nét, nhưng cái tôi ấy phải có khả năng mở ra phía người khác. Nếu chỉ có cái tôi mà không có cộng đồng, nghệ thuật dễ rơi vào sự khép kín. Nếu chỉ có cộng đồng mà không có dấu ấn cá nhân, tác phẩm lại dễ trở thành tiếng nói chung chung, thiếu sức sống riêng. Cũng từ đó, cần hiểu trách nhiệm với cộng đồng theo nghĩa rộng. Văn chương không nhất thiết lúc nào cũng phải trực tiếp nói về chiến tranh, chính trị hay những vấn đề xã hội lớn. Một bài thơ như Sóng, viết về tình yêu đôi lứa, vẫn có thể mang giá trị cộng đồng vì nó chạm tới những cảm xúc phổ quát của con người. Một tiếng nói riêng nếu đủ chân thành và đủ sâu sẽ có khả năng trở thành tiếng nói chung. Trách nhiệm của người nghệ sĩ đôi khi nằm chính trong việc giúp con người hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra trong chính tâm hồn họ. Tương tự, cái đẹp không nên bị đồng nhất với sự trau chuốt hình thức. Cái đẹp của Đây mùa thu tới không chỉ nằm ở hình ảnh mới lạ mà còn ở khả năng làm hiện lên một cảm thức thời gian tinh tế. Cái đẹp của Việt Bắc không chỉ ở nhạc điệu lục bát hay những bức tranh thiên nhiên, mà còn ở chiều sâu tình nghĩa. Cái đẹp của Sóng không chỉ nằm trong hình tượng giàu sức gợi mà còn ở sự chân thực, nữ tính và khát vọng yêu thương. Nghệ thuật đẹp khi hình thức và tư tưởng nâng đỡ lẫn nhau. Bởi vậy, nếu nghệ thuật chỉ chạy theo hình thức, nó có thể trở nên tinh xảo nhưng lạnh lẽo. Ngược lại, nếu chỉ chăm chú truyền tải thông điệp mà xem nhẹ sáng tạo, tác phẩm dễ trở thành lời thuyết giáo. Một tác phẩm lớn luôn cần sự hòa hợp giữa Chân, Thiện và Mĩ. “Chân” là sự trung thực với đời sống và cảm xúc; “Thiện” là tình yêu và sự trân trọng con người; “Mĩ” là khả năng tổ chức những giá trị ấy thành một hình thức nghệ thuật giàu sức lay động. Khi ba phương diện gặp nhau, nghệ thuật mới có khả năng sống lâu hơn hoàn cảnh đã sinh ra nó. Nhận định của Camus vì thế còn nhấn mạnh sự trưởng thành không ngừng của người nghệ sĩ. “Tôi luyện bản thân” nghĩa là không dừng lại ở một cách nhìn, một giọng điệu hay một vị trí an toàn. Nghệ sĩ phải luôn đối thoại với chính mình và với người khác, với vẻ đẹp và những vấn đề của đời sống. Họ cần đủ tự do để không đánh mất tiếng nói riêng, nhưng cũng cần đủ nhạy cảm để không biến cái tôi thành một thế giới khép kín. Càng trưởng thành, nghệ sĩ càng hiểu rằng cái đẹp không ở ngoài con người, và cộng đồng cũng không đối lập với tự do sáng tạo. Từ một mùa thu mong manh trong thơ Xuân Diệu, một Việt Bắc nặng nghĩa tình trong thơ Tố Hữu đến những con sóng không ngừng hướng ra biển lớn của Xuân Quỳnh, có thể thấy nghệ thuật luôn tìm cách nối cái riêng với cái chung. Nhận định của A. Camus vì vậy đã chạm đúng bản chất và thiên chức của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ chân chính không thể từ bỏ cái đẹp, nhưng cũng không thể rời xa con người. Khi cái tôi sáng tạo biết mở mình về phía cộng đồng, khi trách nhiệm với cuộc đời được nâng lên bằng tài năng thẩm mĩ, nghệ thuật không chỉ trở thành dấu ấn của một cá nhân mà còn thành nơi nhiều tâm hồn có thể gặp gỡ và nhận ra nhau. Bài tham khảo Mẫu 5 Có những khi, nghệ thuật bắt đầu từ một khoảnh khắc rất riêng: một buổi chiều mùa hạ đầy sắc màu, một nỗi nhớ về đồng đội giữa núi rừng, hay một lần đối diện với vẻ đẹp dữ dội của thiên nhiên. Nhưng nếu tác phẩm chỉ dừng lại ở cảm xúc cá nhân, nó khó có thể sống lâu trong lòng người đọc. Nghệ thuật lớn luôn có xu hướng đi từ cái riêng đến cái chung, từ rung động của một cá nhân đến những giá trị có thể chia sẻ với nhiều người. Bởi thế, A. Camus từng khẳng định: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Nhận định ấy đã chạm tới một vấn đề sâu sắc của sáng tạo nghệ thuật: người nghệ sĩ chân chính vừa phải giữ được tự do và cá tính để hướng tới cái đẹp, vừa phải gắn bó với đời sống, với con người và trách nhiệm cộng đồng. “Cái đẹp không thể bỏ qua” trước hết nhấn mạnh bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật. Nghệ sĩ không chỉ ghi chép hiện thực mà còn phải khám phá, chưng cất và tái tạo hiện thực trong một hình thức có sức lay động. Còn “cộng đồng không thể tách khỏi” lại khẳng định nghệ sĩ không thể tồn tại như một cá thể cô lập. Họ sống giữa lịch sử, giữa đời sống nhân dân, nhận từ cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa và vô vàn trải nghiệm. Vì vậy, “quãng đường giữa” mà Camus nói đến chính là hành trình dung hòa hai yêu cầu tưởng chừng khác biệt: một bên là nhu cầu khẳng định cái tôi sáng tạo, một bên là ý thức gắn bó với người khác. Chính trong quá trình ấy, người nghệ sĩ “tôi luyện bản thân”, nghĩa là không ngừng mở rộng cách nhìn, làm sâu sắc tư tưởng và hoàn thiện nghệ thuật của mình. Trước hết, người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi sáng tạo cái đẹp là thiên chức không thể thay thế của nghệ thuật. Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là một minh chứng tiêu biểu. Bài thơ ra đời trong một khoảnh khắc nhàn tản, nhưng tâm hồn thi nhân không hề tĩnh lặng. Trước mắt Nguyễn Trãi là một thế giới mùa hè đang căng tràn sức sống: màu xanh của hòe, sắc đỏ của lựu, hương sen, tiếng chợ cá và tiếng ve. Những động từ như “đùn đùn”, “phun” khiến cảnh vật không đứng yên mà như đang sinh sôi, chuyển động. Điều đáng chú ý là Nguyễn Trãi không chỉ nhìn thiên nhiên bằng mắt. Ông cảm nhận mùa hè bằng nhiều giác quan: thấy màu sắc, nghe âm thanh, nhận biết hương thơm và cảm được cả nhịp sống của con người. Nhờ vậy, bức tranh ngày hè không chỉ đẹp mà còn rất gần gũi, có hơi thở đời sống. Cái đẹp trong thơ Nguyễn Trãi vì thế không phải thứ vẻ đẹp xa lạ, cầu kì; nó bắt nguồn từ sự tinh tế của một tâm hồn biết rung động trước cuộc sống bình thường. Nhưng giá trị của Cảnh ngày hè không dừng ở việc tạo dựng một bức tranh thiên nhiên rực rỡ. Đằng sau niềm say mê cái đẹp là một tấm lòng luôn hướng về con người. Hai câu cuối với ước vọng “Dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy điểm đến của cảm xúc vẫn là cuộc sống nhân dân. Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, nhưng tình yêu ấy không khiến ông quên đời. Chính ở đây, cái đẹp và cộng đồng đã sớm gặp nhau: vẻ đẹp của cảnh vật mở đường cho một ước vọng nhân sinh rộng lớn. Điều đó cho thấy người nghệ sĩ càng tinh tế trước cái đẹp càng có khả năng nhận ra giá trị của một đời sống tốt đẹp mà con người xứng đáng được hưởng. Nếu Nguyễn Trãi tìm thấy cái đẹp trong một ngày hè thanh bình thì Quang Dũng trong Tây Tiến lại tìm thấy cái đẹp giữa chiến tranh và gian khổ. Bài thơ được viết từ nỗi nhớ của nhà thơ về đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc. Nhưng nỗi nhớ ấy không chỉ là cảm xúc riêng của Quang Dũng; qua thơ, nó trở thành một cách lưu giữ vẻ đẹp của cả một thế hệ thanh niên đã sống và chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến. Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên hùng vĩ, dữ dội với những dốc cao, vực sâu, mưa nguồn, sương núi. Những câu thơ như “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” hay “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” không chỉ gợi ra sự hiểm trở của địa hình mà còn đặt người lính vào một thử thách lớn. Giữa hoàn cảnh ấy, người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp vừa bi tráng vừa lãng mạn. Họ chịu đựng thiếu thốn, bệnh tật, cái chết, nhưng vẫn giữ một tâm hồn trẻ trung, hào hoa, vẫn nhớ về dáng người con gái Hà Nội, vẫn rung động trước vẻ đẹp của đêm hội, của sông nước miền Tây. Đáng chú ý, Quang Dũng không né tránh sự hi sinh. Những hình ảnh về người lính ngã xuống được diễn tả trực tiếp nhưng không bi lụy. Cái chết được đặt trong một âm hưởng trang trọng, khiến sự mất mát cá nhân hòa vào vẻ đẹp của lí tưởng và lòng yêu nước. Chính vì thế, Tây Tiến cho thấy người nghệ sĩ không thể tách khỏi cộng đồng. Quang Dũng viết bằng nỗi nhớ của riêng mình nhưng nỗi nhớ ấy đã hướng về đồng đội, về một tập thể, về một thế hệ. Thơ ông trở thành nơi lưu giữ kí ức chung, nơi cái riêng của người viết gặp được cái chung của lịch sử và cộng đồng. Nếu Cảnh ngày hè cho thấy cái đẹp có thể gắn với một ước vọng nhân sinh, Tây Tiến cho thấy nghệ thuật có thể biến kí ức cộng đồng thành vẻ đẹp, thì Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân lại là một minh chứng rõ ràng cho điểm gặp gỡ giữa khát vọng sáng tạo cái đẹp và trách nhiệm với đời sống. Nguyễn Tuân vốn là một nghệ sĩ suốt đời say mê cái đẹp. Đến với Sông Đà, ông vẫn giữ nguyên cá tính tài hoa ấy, nhưng đối tượng của cái đẹp đã có một sự dịch chuyển quan trọng: từ những con người “vang bóng một thời” đến thiên nhiên và người lao động của cuộc sống mới. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, Sông Đà hiện lên vừa hung bạo vừa trữ tình. Khi hung bạo, dòng sông có đá dựng vách thành, những hút nước nguy hiểm, thác nước gầm réo và những “trùng vi thạch trận” như một kẻ thù có mưu mẹo. Khi trữ tình, sông Đà lại mềm mại “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”, mang những sắc màu thay đổi theo mùa. Chính cách cảm nhận đa diện ấy đã biến một dòng sông thành một hình tượng nghệ thuật có tính cách, có tâm trạng và sức sống riêng. Nhưng điểm sáng lớn nhất của tùy bút vẫn là ông lái đò. Ông là một người lao động bình thường, không tên tuổi, nhưng Nguyễn Tuân đã phát hiện ở ông vẻ đẹp của trí tuệ, bản lĩnh và kinh nghiệm. Cuộc vượt thác được miêu tả như một trận chiến mà người lái đò phải nhớ từng luồng nước, từng cửa sinh, cửa tử, phải bình tĩnh trước sức mạnh ghê gớm của thiên nhiên. Sau khi vượt qua thác dữ, ông lại trở về trạng thái bình thường, đốt lửa, ăn uống và gần như không nhắc lại chiến công. Chính sự bình thản ấy càng làm nổi bật vẻ đẹp của một con người đã coi công việc nguy hiểm như một phần tự nhiên của đời sống. Qua ông lái đò, có thể thấy Nguyễn Tuân vẫn giữ trọn niềm say mê cái đẹp, nhưng cái đẹp ấy giờ đây được tìm thấy ngay trong cộng đồng lao động. Tài hoa của người nghệ sĩ và cuộc sống của nhân dân không còn đứng ở hai phía. Nghệ thuật không hạ thấp mình khi hướng về đời sống; ngược lại, chính đời sống đã mở ra cho Nguyễn Tuân những vẻ đẹp mới để khám phá. Đây là minh chứng rõ rệt cho ý kiến của Camus: người nghệ sĩ trưởng thành khi cá tính sáng tạo biết đối thoại với cộng đồng. Từ ba tác phẩm có thể nhận ra rằng cái đẹp và cộng đồng không phải hai cực loại trừ nhau. Cảnh ngày hè đẹp bởi một tâm hồn tinh tế nhưng đồng thời lại kết thúc bằng ước vọng cho dân. Tây Tiến giàu chất lãng mạn nhưng không rời khỏi kí ức chiến đấu của cả một thế hệ. Người lái đò Sông Đà rất tài hoa, uyên bác nhưng cái đẹp mà Nguyễn Tuân tìm kiếm cuối cùng lại nằm trong thiên nhiên đất nước và con người lao động. Khi hai phương diện ấy gặp nhau, nghệ thuật vừa có cá tính vừa có chiều sâu nhân văn. Tuy nhiên, cũng cần hiểu trách nhiệm với cộng đồng theo nghĩa rộng. Văn chương không nhất thiết phải trực tiếp giải quyết một vấn đề chính trị hay xã hội mới có giá trị cộng đồng. Một tác phẩm viết về tình yêu, cô đơn, thiên nhiên hay kí ức vẫn có thể mang ý nghĩa chung nếu nó chạm tới những cảm xúc phổ quát của con người. Chính khả năng khiến một trải nghiệm cá nhân trở thành điều nhiều người nhận ra ở chính mình đã tạo nên sức sống cộng đồng của nghệ thuật. Tương tự, cái đẹp không nên bị hiểu đơn giản là sự trau chuốt hình thức. Cái đẹp còn nằm ở chiều sâu của tư tưởng, sự chân thực của cảm xúc, sức mạnh của hình tượng và khả năng giúp người đọc nhận thức sâu hơn về cuộc sống. Vẻ đẹp trong Cảnh ngày hè không chỉ nằm ở màu sắc; nó còn nằm trong tấm lòng ưu dân. Vẻ đẹp trong Tây Tiến không chỉ nằm ở những câu thơ giàu nhạc tính; nó còn nằm trong cách nhà thơ nâng sự hi sinh của đồng đội thành một giá trị tinh thần. Vẻ đẹp của Người lái đò Sông Đà không chỉ nằm trong lớp ngôn từ tài hoa; nó còn nằm ở việc phát hiện phẩm chất phi thường trong một con người bình thường. Bởi vậy, nghệ thuật chỉ chạy theo hình thức mà quên mất con người dễ trở thành một thứ vẻ đẹp lạnh lẽo. Ngược lại, nghệ thuật chỉ chăm chú chuyển tải thông điệp mà xem nhẹ sáng tạo thẩm mĩ lại dễ rơi vào minh họa, thuyết giáo. Một tác phẩm lớn cần hướng tới sự hòa hợp của Chân, Thiện và Mĩ: sự thật của đời sống đem lại chiều sâu nhận thức; tình yêu con người làm nên giá trị nhân văn; sáng tạo nghệ thuật đem lại sức sống thẩm mĩ. Khi ba yếu tố ấy nâng đỡ lẫn nhau, tác phẩm mới có khả năng vượt ra khỏi hoàn cảnh ra đời để sống lâu trong lòng người đọc. Nhìn rộng hơn, lời Camus còn gợi nhắc một yêu cầu khó khăn đối với người nghệ sĩ: phải không ngừng tự vượt qua chính mình. “Tôi luyện bản thân” không chỉ là rèn luyện kĩ thuật, mà còn là mở rộng tầm nhìn, làm sâu sắc cảm xúc và học cách lắng nghe những người khác. Người nghệ sĩ cần một cái tôi rõ ràng để không hòa tan vào đám đông, nhưng cũng cần một tâm hồn đủ rộng để không biến sáng tạo thành một thế giới đóng kín. Chính sự căng thẳng giữa hai phía ấy làm nên sức sống của nghệ thuật. Từ một ngày hè rực rỡ trong thơ Nguyễn Trãi, nỗi nhớ đồng đội trong Tây Tiến đến vẻ đẹp của người lái đò trên dòng Sông Đà, có thể thấy nghệ thuật chân chính luôn tìm cách đưa cái đẹp đến gần con người và đưa con người vào trong cái đẹp. Nhận định của A. Camus vì thế đã chạm tới bản chất sâu xa của sáng tạo. Người nghệ sĩ không thể từ bỏ cá tính, cũng không thể tách khỏi cộng đồng. Chỉ khi cái tôi biết mở ra phía cuộc đời, khi trách nhiệm với con người được nâng đỡ bởi tài năng nghệ thuật, tác phẩm mới vừa mang dấu ấn riêng của người sáng tạo, vừa trở thành một giá trị có thể được nhiều thế hệ cùng chia sẻ.
|






Danh sách bình luận