Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về bài thơ “Ông phỗng đá” – Nguyễn KhuyếnMở đoạn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của học thuật và tâm hồn Việt Nam. Bài thơ “Ông phỗng đá” là một trong những tác phẩm trào phúng xuất sắc nhưng đượm nỗi cay đắng của ông. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý Mở đoạn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của học thuật và tâm hồn Việt Nam. Bài thơ “Ông phỗng đá” là một trong những tác phẩm trào phúng xuất sắc nhưng đượm nỗi cay đắng của ông. - Nội dung khái quát: Mượn hình ảnh bức tượng ông phỗng đá vô tri, nhà thơ gửi gắm nỗi lòng đau xót trước cảnh nước mất nhà tan và sự bất lực của chính mình. Thân đoạn - Hai câu đầu: Ngoại hình vô tri và thái độ dửng dưng của ông phỗng + “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?”: Câu hỏi tu từ hướng vào một vật vô tri, mở đầu bằng giọng điệu vừa hỏi han, vừa có chút chất vấn, mỉa mai. + “Trơ như đá, vững như đồng”: Sử dụng thành ngữ và nghệ thuật so sánh. "Trơ" và "vững" tả thực một bức tượng đá kiên cố, nhưng cũng đồng thời ám chỉ sự vô cảm, thờ ơ trước thế sự. - Hai câu sau: Trách nhiệm và sự vô tâm trước vận mệnh đất nước + “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?”: Lại một câu hỏi tu từ đầy cay đắng. Ông phỗng đứng canh giữ suốt đêm ngày, nhưng "ai đó" là ai? Câu hỏi xoáy sâu vào sự vô nghĩa của hành động. + “Non nước đầy vơi có biết không?”: "Non nước đầy vơi" là hình ảnh hoán dụ chỉ vận mệnh đất nước lúc thăng trầm, biến động (bối cảnh thực tế: Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp). Câu hỏi "có biết không?" như một lời trách móc sự bàng quan của phỗng đá, cũng là nỗi đau đớn của nhà thơ trước thế cục. - Chiều sâu nghệ thuật và tâm trạng ẩn kín (Nghĩa hàm ẩn) + Bài thơ không đơn thuần là tả pho tượng, mà là nghệ thuật vịnh vật ngụ chí (mượn vật nói lòng). + Nghĩa châm biếm: Mỉa mai những kẻ làm quan bù nhìn thời bấy giờ, có mắt như mù, có tai như điếc, mặc cho vận mệnh dân tộc chao đảo. + Nghĩa tự trào (tự cười mình): Đây chính là nỗi lòng của Nguyễn Khuyến. Ông cay đắng tự xem mình như "ông phỗng đá" — dù có lòng yêu nước nhưng đành bất lực, quay về ở ẩn (vào thời điểm đó ông đã từ quan), không thể xoay chuyển được thời cuộc. Kết đoạn - Khẳng định giá trị bài thơ: Đoạn thơ ngắn gọn, ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc, giàu triết lý. - Cảm xúc bản thân: Bài thơ để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu sắc trước nhân cách cao đẹp và nỗi đau thầm kín của một bậc đại nho nặng lòng với nước với dân. Bài siêu ngắn Mẫu 1 Bài thơ “Ông phỗng đá” của Nguyễn Khuyến là một tiếng cười châm biếm nhưng đượm vị cay đắng về thời cuộc. Qua thể thơ tuyệt cú, nhà thơ hướng cái nhìn vào một vật vô tri để gửi gắm nỗi lòng. Hai câu đầu hiện lên hình ảnh ông phỗng “trơ như đá, vững như đồng”, một tư thế bất động, dửng dưng đến lạnh lùng. Phép so sánh và từ láy “trơ” đã lột tả sự vô cảm của bức tượng trước dòng chảy thời gian. Để rồi hai câu sau, nỗi đau ấy vỡ òa thành câu hỏi nhức nhối: “Non nước đầy vơi có biết không?”. "Non nước đầy vơi" chính là ẩn dụ cho vận mệnh đất nước đang lúc ngả nghiêng dưới gót giày thực dân. Câu hỏi tu từ ấy không chỉ mỉa mai hạng người làm quan bù nhìn, thờ ơ trước nỗi đau dân tộc, mà còn bộc lộ trực diện thái độ bất bình của tác giả. Đoạn thơ ngắn gọn nhưng sức gợi lớn, vừa xót xa cho cảnh nước mất nhà tan, vừa là tiếng roi quất mạnh vào sự vô trách nhiệm của những kẻ có mắt như mù trước họa giang sơn. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Đọc “Ông phỗng đá” của Nguyễn Khuyến, người đọc không chỉ thấy một bức tranh trào phúng mà còn cảm nhận được nỗi đau tự trào sâu sắc của một nhân cách lớn. Mượn hình ảnh ông phỗng đứng trơ trọi, tác giả đặt ra câu hỏi tu từ đầy xót xa: “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?”. Phao câu hỏi ấy thực chất là Nguyễn Khuyến đang tự chất vấn chính mình. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, dù là một bậc đại khoa đầy tài năng, ông cũng đành bất lực xin từ quan về ở ẩn, chẳng thể xoay chuyển được thời cuộc. Hình ảnh phỗng đá “đêm ngày gìn giữ” nhưng lại chẳng biết “non nước đầy vơi” chính là nỗi đau của một trí thức yêu nước nhưng đành bó tay đứng nhìn giang sơn rơi vào tay giặc. Ngôn ngữ bài thơ giản dị, giọng điệu vừa mỉa mai vừa ngậm ngùi, biến bức tượng đá vô tri thành tấm gương soi chiếu bi kịch tinh thần thầm kín và cao đẹp của Tam Nguyên Yên Đổ trước lịch sử. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Bài thơ “Ông phỗng đá” của Nguyễn Khuyến tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng chiều sâu triết lý và cảm xúc mãnh liệt nhờ nghệ thuật vịnh vật ngụ chí đỉnh cao. Hai câu thơ đầu sử dụng thành ngữ “trơ như đá, vững như đồng” không chỉ khắc họa ngoại hình bất động của pho tượng mà còn ám chỉ thái độ bàng quan trước thế sự. Sự sâu sắc của bài thơ được đẩy lên cao trào ở hai câu cuối thông qua các câu hỏi tu từ liên tiếp. Nhà thơ truy vấn ông phỗng đứng canh giữ cho ai khi “non nước đầy vơi” — biểu tượng cho sự thăng trầm, ly tán của đất nước lúc bấy giờ. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã khéo léo đan cài hai tầng nghĩa: vừa châm biếm sâu cay những kẻ làm quan bù nhìn vô trách nhiệm, vừa tự xót thương cho sự bất lực của chính mình khi chọn lối sống ẩn dật. Tác phẩm là một nốt lặng đầy đau đớn, khẳng định tấm lòng luôn đau đáu vì dân, vì nước của nhà thơ. Bài tham khảo Mẫu 1 Bài thơ Ông phỗng đá của Nguyễn Khuyến chỉ gồm bốn câu thơ ngắn nhưng chứa đựng ý nghĩa phê phán sâu sắc và nỗi niềm đau đáu của một nhà nho yêu nước trước thời cuộc. Hình ảnh “ông phỗng đá” vốn là pho tượng vô tri đứng trước đền miếu, được tác giả sử dụng như một hình tượng ẩn dụ giàu sức gợi. Ngay câu thơ mở đầu, tiếng gọi “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?” vừa như lời hỏi han, vừa là lời chất vấn đầy day dứt. Từ láy “trơ” trong câu thơ thứ hai không chỉ diễn tả trạng thái bất động của pho tượng mà còn gợi lên thái độ lạnh lùng, vô cảm trước những biến động của cuộc đời. Hai câu thơ cuối vang lên như lời trách cứ sâu cay: “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó? / Non nước đầy vơi có biết không?”. Câu hỏi tu từ liên tiếp thể hiện nỗi băn khoăn của tác giả trước những con người sống thờ ơ với vận mệnh dân tộc. Trong bối cảnh đất nước nhiều biến động, sự im lặng ấy trở thành biểu tượng cho lối sống vô trách nhiệm đáng phê phán. Với giọng điệu mỉa mai kín đáo, nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc và ngôn ngữ hàm súc, Nguyễn Khuyến đã gửi gắm thông điệp sâu sắc về trách nhiệm công dân. Bài thơ khiến người đọc hôm nay không khỏi suy ngẫm: mỗi người cần sống có ý thức, biết quan tâm và hành động vì cộng đồng, quê hương, đất nước. Bài tham khảo Mẫu 2 Đọc bài thơ Ông phỗng đá, người đọc cảm nhận rõ tấm lòng yêu nước cùng nỗi ưu tư sâu nặng của Nguyễn Khuyến trước thực trạng xã hội đương thời. Hình tượng trung tâm của bài thơ là “ông phỗng đá” – một pho tượng vô tri nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng rộng lớn. Tác giả không miêu tả trực tiếp con người mà mượn hình ảnh ấy để phê phán những kẻ sống thụ động, dửng dưng trước vận mệnh dân tộc. Câu thơ “Mà trơ như đá vững như đồng!” sử dụng phép so sánh độc đáo, vừa gợi vẻ cứng nhắc của pho tượng vừa nhấn mạnh sự vô cảm đến đáng trách của con người. Đặc biệt, hai câu kết đã nâng ý nghĩa bài thơ lên tầm khái quát: đất nước đang “đầy vơi”, đang đổi thay và chất chứa bao nỗi đau, nhưng liệu những con người ấy có thấu hiểu hay không? Câu hỏi không cần lời đáp bởi đáp án đã nằm trong sự im lặng của “ông phỗng đá”. Đằng sau giọng điệu châm biếm nhẹ nhàng là nỗi xót xa, bất lực của một trí thức yêu nước khi chứng kiến cảnh nước mất, dân khổ. Bài thơ ngắn gọn nhưng giàu giá trị hiện thực và nhân văn, nhắc nhở mỗi người không được sống vô tâm trước những vấn đề của xã hội. Đó cũng là lời thức tỉnh về tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân trong mọi thời đại. Bài tham khảo Mẫu 3 Ông phỗng đá là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách trào phúng sâu sắc của Nguyễn Khuyến. Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã dựng lên hình ảnh một pho tượng đá đứng lặng lẽ giữa cuộc đời, từ đó gợi ra nhiều suy ngẫm về con người và thời cuộc. Cách xưng hô “hỡi ông” tạo cảm giác thân thuộc nhưng cũng hàm chứa sự mỉa mai kín đáo. Hình ảnh “trơ như đá, vững như đồng” không đơn thuần miêu tả đặc điểm của pho tượng mà còn là lời phê phán những con người chỉ biết đứng nhìn, không dám hành động trước những biến động lớn lao của đất nước. Đặc biệt, hai câu thơ cuối chứa đựng chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Tác giả đặt ra câu hỏi về trách nhiệm trước “non nước đầy vơi” – hình ảnh gợi những đổi thay, mất mát và đau thương của dân tộc. Qua đó, Nguyễn Khuyến bộc lộ nỗi lòng đau đáu với quê hương, đồng thời bày tỏ thái độ không đồng tình với sự thờ ơ, vô cảm. Giọng thơ tưởng như nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa sức công phá mạnh mẽ bởi nó đánh thức lương tri và ý thức trách nhiệm trong mỗi con người. Đọc bài thơ, em không chỉ cảm nhận được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến mà còn hiểu rằng sống có trách nhiệm, biết quan tâm đến cộng đồng và đất nước là điều vô cùng cần thiết đối với mỗi người. Bài tham khảo Mẫu 4 Bài thơ “Ông phỗng đá” của Nguyễn Khuyến là một kiệt tác trào phúng, mượn vật ngụ ý để phơi bày hiện thực cay đắng của xã hội đương thời. Mở đầu tác phẩm, nhà thơ cất tiếng hỏi đầy bâng khuâng: “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?”. Câu hỏi tu từ hướng vào một pho tượng đá vô tri nhưng lại ẩn chứa sự chất vấn sắc lẹm. Bằng nghệ thuật so sánh kết hợp thành ngữ “trơ như đá vững như đồng”, tác giả không chỉ tả thực dáng vẻ bất động của ông phỗng, mà còn lột tả sâu sắc sự dửng dưng, vô cảm của con người trước biến thiên lịch sử. Đỉnh điểm của sự châm biếm nằm ở hai câu thơ cuối, khi nhà thơ xoáy sâu vào trách nhiệm của kẻ đứng canh: “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó? / Non nước đầy vơi có biết không?”. Hình ảnh hoán dụ “non nước đầy vơi” gợi lên bức tranh giang sơn đang thời kỳ biến động, ly tán dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Câu hỏi “có biết không?” cất lên vừa như một lời trách móc, vừa là cái tát đau đớn vào bộ mặt phe quan lại phong kiến bù nhìn lúc bấy giờ. Họ có mắt như mù, có tai như điếc, cam chịu làm kiếp "phỗng đá" để mặc vận mệnh dân tộc chao đảo. Đoạn thơ với ngôn từ giản dị nhưng hàm súc, thể hiện sự căm phẫn và đau xót tột cùng của một nhà thơ yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan, biến bức tượng đá thành bản án đanh thép lên án sự vô trách nhiệm đối với thời cuộc. Bài tham khảo Mẫu 5 Đằng sau tiếng cười châm biếm trong bài thơ “Ông phỗng đá” là một bi kịch tinh thần đầy đau đớn và chiều sâu tự trào của cụ Tam Nguyên Yên Đổ. Bài thơ không đơn thuần là vịnh một pho tượng vô tri, mà chính là tấm gương soi chiếu nỗi lòng bất lực của Nguyễn Khuyến trước thời thế. Câu hỏi mở đầu “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?” thực chất là lời tự chất vấn lương tâm đầy nghiêm khắc. Sống trong cảnh đất nước lầm than, một bậc đại nho đầy tài năng, khí tiết như ông lại đành chọn cách từ quan về ở ẩn, không thể xoay chuyển được càn khôn. Từ “trơ” trong câu thơ thứ hai trở nên nhức nhối, bởi nó vừa tả cái thần của tượng, vừa diễn tả nỗi đau đau thắt khi nhà thơ phải khoác lên mình vẻ ngoài lạnh lùng, xa lánh sự đời. Hình ảnh ông phỗng đứng canh giữ suốt đêm ngày nhưng lại dửng dưng trước cảnh “non nước đầy vơi” chính là hình ảnh ẩn dụ cho sự bất lực của tác giả. Ông tự giễu cợt mình cũng giống như ông phỗng đá kia, dù có lòng yêu nước, có tâm trung quân nhưng đành bó tay đứng nhìn giang sơn rơi vào tay giặc. Giọng điệu đoạn thơ vừa mỉa mai, vừa ngậm ngùi, xót xa. Qua đó, người đọc không thấy một Nguyễn Khuyến tiêu cực, mà trái lại, thấy một nhân cách ngời sáng, một tâm hồn luôn khắc khoải, đau đáu khôn nguôi vì vận mệnh của nhân dân và đất nước. Bài tham khảo Mẫu 6 “Ông phỗng đá” là một trong những bài thơ vịnh vật ngụ chí xuất sắc nhất của Nguyễn Khuyến, kết tinh giữa tài năng nghệ thuật và tấm lòng yêu nước sâu nặng. Đoạn thơ được mở đầu bằng một câu hỏi tu từ tự nhiên nhưng đầy sức gợi, mở ra không gian suy tưởng về một biểu tượng văn hóa dân gian. Tác giả đã khéo léo sử dụng cặp tính từ đối xứng “trơ như đá vững như đồng” để khắc họa tư thế đứng hiên ngang nhưng lại hoàn toàn vô tri của pho tượng. Nghệ thuật tăng tiến được đẩy lên cao ở hai câu thơ sau qua câu hỏi về mục đích tồn tại: “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?”. Từ “ai đó” mang đại từ phiếm chỉ, đầy mỉa mai về sự vô nghĩa của việc canh giữ. Đặc biệt, cụm từ “non nước đầy vơi” là nhãn tự của bài thơ, khái quát sinh động cục diện đất nước lúc thăng trầm, biến đổi. Nhịp thơ dồn dập ở câu cuối như một tiếng thở dài ngao ngán, cũng là lời thức tỉnh lương tri con người trước họa mất nước. Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, ngôn ngữ thuần Nôm nhuần nhuyễn, Nguyễn Khuyến đã lồng ghép hai tầng nghĩa sâu sắc: vừa phê phán những kẻ làm quan vô tích sự, vừa tự thương hại cho sự vô dụng của bản thân trước thời cuộc. Tác phẩm khép lại nhưng dư âm về nỗi đau thời thế và tấm lòng trung quân ái quốc của nhà thơ vẫn còn đọng lại mãi trong lòng người đọc. Bài tham khảo Mẫu 7 Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của nền văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với những vần thơ trào phúng sắc sảo mà thấm đẫm nỗi niềm thời thế. Bài thơ “Ông phỗng đá” là một tác phẩm tiêu biểu, qua hình ảnh pho tượng đá vô tri, nhà thơ kín đáo gửi gắm nỗi đau mất nước và tâm trạng bất lực của người trí thức yêu nước trước thời cuộc. Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ: “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?”, vừa như lời trò chuyện, vừa như một sự chất vấn đầy mỉa mai. Hình ảnh “trơ như đá, vững như đồng” vừa tả thực dáng vẻ kiên cố của pho tượng, vừa gợi liên tưởng đến những con người lạnh lùng, vô cảm trước những biến động lớn lao của dân tộc. Hai câu thơ sau chứa đựng chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Câu hỏi “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?” gợi cảm giác hoài nghi về ý nghĩa của sự tồn tại ấy, còn “Non nước đầy vơi có biết không?” là lời trách móc đau đớn trước những kẻ thờ ơ khi đất nước đang lâm vào cảnh điêu linh. Bằng nghệ thuật vịnh vật ngụ chí, Nguyễn Khuyến không chỉ châm biếm tầng lớp quan lại bù nhìn mà còn tự giễu chính mình. Ông ý thức được nỗi bất lực của bản thân khi đã từ quan về ở ẩn mà không thể góp sức cứu nước. Với ngôn ngữ hàm súc, giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu cay, bài thơ để lại trong lòng người đọc niềm xúc động trước nhân cách thanh cao và tấm lòng đau đáu vì non sông của nhà thơ. Bài tham khảo Mẫu 8 Trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Khuyến là một nhà thơ có tâm hồn cao đẹp và tấm lòng sâu nặng với quê hương, đất nước. Bài thơ “Ông phỗng đá” tuy chỉ gồm bốn câu ngắn nhưng lại chứa đựng nỗi niềm thời thế và giá trị nhân văn sâu sắc. Hình tượng ông phỗng đá hiện lên qua câu hỏi “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?” như một đối tượng đang bị nhà thơ truy vấn. Cách xưng hô thân mật nhưng ẩn chứa thái độ châm biếm khiến giọng thơ trở nên đặc biệt. Đến câu thơ “Mà trơ như đá vững như đồng!”, tác giả sử dụng phép so sánh để khắc họa sự bất động của pho tượng, đồng thời ngầm phê phán những con người có trái tim chai sạn, dửng dưng trước thời cuộc. Hai câu thơ cuối là đỉnh điểm của cảm xúc. “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?” không chỉ là câu hỏi dành cho pho tượng mà còn hướng đến những kẻ mang danh chức phận nhưng không thực sự có ích cho dân cho nước. Hình ảnh “non nước đầy vơi” gợi lên những biến động đau thương của đất nước dưới ách xâm lăng, còn câu hỏi “có biết không?” chứa đựng biết bao xót xa, day dứt. Đằng sau tiếng cười trào phúng là nỗi đau thầm kín của Nguyễn Khuyến. Ông vừa phê phán những kẻ vô trách nhiệm, vừa tự nhận mình giống như ông phỗng đá khi không thể thay đổi được thời cuộc. Bài thơ vì thế không chỉ giàu ý nghĩa phê phán mà còn làm sáng lên tấm lòng yêu nước chân thành của một bậc đại nho cuối thế kỉ XIX. Bài tham khảo Mẫu 9 “Ông phỗng đá” là một bài thơ ngắn nhưng giàu sức gợi của Nguyễn Khuyến – nhà thơ lớn luôn đau đáu trước vận mệnh dân tộc. Qua hình ảnh pho tượng đá đứng lặng lẽ giữa cuộc đời, tác giả đã gửi gắm nỗi lòng cay đắng trước cảnh nước mất nhà tan và sự bất lực của người trí thức yêu nước. Ngay từ câu thơ đầu, “Ông đứng làm chi đó hỡi ông?”, nhà thơ đã cất lên lời hỏi mang tính chất đối thoại nhưng thực chất là một sự chất vấn. Hình ảnh “trơ như đá, vững như đồng” không chỉ miêu tả đặc điểm của pho tượng mà còn là ẩn dụ về những con người sống vô cảm, thờ ơ trước những đổi thay dữ dội của xã hội. Đến hai câu cuối, cảm xúc của nhà thơ trở nên sâu lắng hơn. Câu hỏi “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?” gợi ra sự tồn tại vô nghĩa của một kẻ chỉ biết đứng nhìn mà không hành động. Trong khi đó, hình ảnh “non nước đầy vơi” đã khái quát số phận đất nước đang chìm trong biến động, đau thương. Câu hỏi “có biết không?” như một tiếng thở dài nghẹn ngào, vừa trách người vừa trách mình. Bằng nghệ thuật vịnh vật ngụ chí đặc sắc, Nguyễn Khuyến đã tạo nên nhiều tầng ý nghĩa: châm biếm bọn quan lại bù nhìn và tự bộc lộ nỗi đau bất lực của bản thân trước thời cuộc. Với ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, giọng thơ trào phúng mà thấm đẫm tâm sự, bài thơ để lại trong lòng người đọc sự cảm phục đối với nhân cách thanh cao cùng tình yêu nước sâu nặng của nhà thơ. Bài tham khảo Mẫu 10 Bài thơ Ông phỗng đá của Nguyễn Khuyến tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Qua hình ảnh ông phỗng đá đứng lặng im, tác giả đã gửi gắm thái độ phê phán những con người sống thờ ơ, vô cảm trước vận mệnh của đất nước và cuộc đời. Hai câu thơ đầu khắc họa hình ảnh ông phỗng đá “trơ như đá, vững như đồng”, vừa gợi dáng vẻ bất động, vô tri, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ về những kẻ chỉ biết đứng nhìn mà không hành động. Hai câu thơ sau là lời chất vấn đầy day dứt: “Đêm ngày gìn giữ cho ai đó? / Non nước đầy vơi có biết không?”. Những câu hỏi tu từ thể hiện nỗi đau và sự trăn trở của tác giả trước thực trạng đất nước đổi thay mà có người vẫn dửng dưng, vô trách nhiệm. Với giọng thơ mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay cùng nghệ thuật sử dụng hình ảnh ẩn dụ độc đáo, bài thơ đã để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với quê hương, đất nước.
|






Danh sách bình luận