Viết đoạn văn đánh giá về chủ đề trong đoạn trích:“ Lòng đâu sẵn mối lương tâm...Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài." (Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Mở đoạn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều. - Giới thiệu đoạn trích & Nêu chủ đề: Đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên thể hiện rõ chủ đề cốt lõi của tác phẩm: Tấm lòng nhân đạo sâu sắc, sự đồng cảm, xót thương cho số phận bi kịch của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

Mở đoạn

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều.

- Giới thiệu đoạn trích & Nêu chủ đề: Đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên thể hiện rõ chủ đề cốt lõi của tác phẩm: Tấm lòng nhân đạo sâu sắc, sự đồng cảm, xót thương cho số phận bi kịch của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến.

Thân đoạn

- Sự đồng cảm giữa những người cùng giới, cùng cảnh ngộ:

+ Dù chưa từng quen biết, Thúy Kiều vừa nghe chuyện Đạm Tiên đã “đầm đầm châu sa”. Đó là giọt nước mắt của sự thấu cảm sâu sắc giữa hai tâm hồn tài hoa.

- Tiếng khóc xót xa cho bi kịch chung của người phụ nữ:

+ Câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” đã nâng bi kịch cá nhân thành bi kịch mang tính phổ quát, phổ biến của phái đẹp trong xã hội cũ (sống làm vợ khắp người ta, chết làm ma không chồng, bị người đời ghẻ lạnh, lãng quên).

- Sự trân trọng và nghĩa cử nhân văn của Kiều:

+ Hành động thắp nhang, khấn vái, đề thơ lên cây thể hiện sự sẻ chia, an ủi linh hồn cô độc của Đạm Tiên. Nó khẳng định vẻ đẹp tâm hồn nhân hậu, vị tha của Thúy Kiều.

- Đánh giá nghệ thuật thể hiện chủ đề:

+ Sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển; ngôn ngữ đậm chất trữ tình; nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc (cảnh sắc u buồn: bóng tà, cỏ áy, gió hiu hiu phản chiếu nỗi sầu nhân thế).

Kết đoạn

- Khẳng định giá trị của chủ đề: Đóng góp vào giá trị nhân đạo cao cả của Truyện Kiều.

- Cảm xúc cá nhân: Chủ đề khơi gợi lòng trắc ẩn, sự xúc động sâu sắc trong lòng người đọc mọi thời đại đối với nỗi đau của con người.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên đã thể hiện một cách sâu sắc chủ đề nhân đạo cốt lõi của Truyện Kiều: tiếng khóc xót thương cho số phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. Giọt nước mắt “đầm đầm châu sa” của Thúy Kiều không đơn thuần là sự cảm thương nhất thời, mà là sự thấu cảm định mệnh. Câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” như một tiếng kêu xé lòng, nâng bi kịch của Đạm Tiên thành bi kịch chung của cả một giới, một thời đại. Nguyễn Du đã hóa thân vào nhân vật để tố cáo xã hội phong kiến phũ phàng, nơi cái đẹp và tài năng luôn bị vùi dập, lãng quên. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình với “bóng tà”, “gió hiu hiu” càng làm đậm tô nỗi sầu nhân thế. Qua đó, chủ đề đoạn trích không chỉ dừng lại ở sự đồng cảm giữa hai kiếp má hồng, mà còn là lời khẳng định giá trị nhân văn cao cả, lay động trái tim người đọc muôn đời.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Chủ đề nổi bật của đoạn trích là sự “đồng bệnh tương lân” – sợi dây kết nối vô hình nhưng mạnh mẽ giữa những tâm hồn tài hoa, cô độc. Dù chưa từng quen biết, Thúy Kiều đã khóc cho Đạm Tiên như khóc cho chính mình, nhận ra định mệnh “ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha”. Hành động thắp nhang, vạch cây đề thơ của Kiều là một nghĩa cử nhân văn cao đẹp, nỗ lực sưởi ấm cho một linh hồn lạnh lẽo dưới suối vàng. Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng các từ láy “mê mẩn”, “tần ngần”, “ủ dột” kết hợp cùng thể thơ lục bát uyển chuyển để lột tả tận cùng nỗi sầu thương. Đoạn trích vượt lên trên một lời viếng mộ thông thường, trở thành khúc ca tri âm sâu sắc. Nó ca ngợi vẻ đẹp của lòng trắc ẩn, đồng thời gián tiếp dự cảm về tương lai đầy giông bão của chính nàng Kiều, tạo nên một giá trị nghệ thuật và nhân văn trường tồn.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Đoạn trích trên là một nốt trầm nhức nhối trong Truyện Kiều, mang chủ đề phản kháng và xót thương cho thân phận người phụ nữ xã hội cũ. Qua tiếng khóc của Thúy Kiều trước nấm mồ vô chủ, Nguyễn Du đã khái quát hóa một triết lý đau đớn về kiếp “hồng nhan bạc mệnh”. Người phụ nữ lúc sống thì “làm vợ khắp người ta”, khi chết lại “làm ma không chồng”, bị tước đoạt cả hạnh phúc lẫn sự tôn nghiêm. Bằng ngòi bút tài hoa và tấm lòng đại từ đại bi, nhà thơ không chỉ xót xa cho Đạm Tiên, mà còn trân trọng nét vẽ linh hồn nhân hậu của Kiều qua hành động khấn vái, đề thơ. Khung cảnh vắng lặng, đượm buồn cuối đoạn trích như sự cộng hưởng của thiên nhiên với nỗi đau con người. Đoạn thơ kết tinh giá trị nhân đạo sâu sắc, khiến người đọc phải trăn trở về quyền sống và giá trị của người phụ nữ trong mọi thời đại.

Bài tham khảo Mẫu 1

Đoạn trích không chỉ là tiếng khóc dành cho Đạm Tiên mà còn là bản cáo trạng thấm đẫm nước mắt về số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đứng trước nấm mồ vô chủ, Thúy Kiều xúc động đến rơi lệ vì nhận ra đằng sau cuộc đời ngắn ngủi của Đạm Tiên là quy luật nghiệt ngã: người phụ nữ càng tài hoa, nhan sắc càng dễ trở thành nạn nhân của định kiến và bất công. Câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà! / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” đã vượt lên nỗi đau của một cá nhân để trở thành tiếng nói chung cho bao kiếp hồng nhan trong xã hội cũ. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ thái độ phê phán gay gắt những thế lực tàn nhẫn đã chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc khi luôn hướng ngòi bút về phía những con người nhỏ bé, bất hạnh. Đặc biệt, sự đồng cảm chân thành của Thúy Kiều trước số phận Đạm Tiên cho thấy vẻ đẹp của một tâm hồn giàu yêu thương, biết khóc cho nỗi đau của người khác. Chính sự đồng cảm ấy cũng là một dự cảm nghệ thuật về cuộc đời lưu lạc, truân chuyên mà Kiều sẽ phải trải qua. Bởi vậy, đoạn trích không chỉ khơi gợi lòng thương cảm mà còn gửi gắm khát vọng muôn đời về một xã hội công bằng, nơi con người được yêu thương, tôn trọng và sống đúng với giá trị của mình.

Bài tham khảo Mẫu 2

Giá trị lớn nhất của đoạn trích nằm ở tư tưởng nhân đạo sâu sắc mà Nguyễn Du gửi gắm qua tiếng khóc của Thúy Kiều trước mộ Đạm Tiên. Nỗi xót thương ấy không xuất phát từ quan hệ thân quen mà bắt nguồn từ sự đồng điệu giữa những tâm hồn giàu lòng trắc ẩn. Trước một nấm mồ hoang lạnh, Kiều không chỉ thương cho người đã khuất mà còn đau đớn nhận ra quy luật cay nghiệt của cuộc đời: tài năng và nhan sắc nhiều khi lại trở thành nguyên nhân dẫn đến bất hạnh. Câu thơ “Phũ phàng chi bấy hoá công” là lời chất vấn đầy day dứt đối với số phận và xã hội đã đẩy biết bao người phụ nữ vào cảnh cô đơn, tủi nhục. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp, tài năng và khát vọng hạnh phúc của con người, đồng thời lên án những thế lực phong kiến vô nhân đạo đã tước đoạt quyền được sống xứng đáng của họ. Đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều – một cô gái đa cảm, giàu lòng nhân ái, dễ rung động trước nỗi đau của người khác. Chính lòng thương người ấy khiến tiếng khóc của Kiều vượt khỏi giới hạn cá nhân để trở thành tiếng nói của tình người. Với ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế và giọng điệu xót xa, Nguyễn Du đã tạo nên một đoạn thơ giàu giá trị nhân văn, chạm đến trái tim nhiều thế hệ bạn đọc.

Bài tham khảo Mẫu 3

Qua đoạn trích, Nguyễn Du đã khẳng định một chủ đề giàu ý nghĩa nhân văn: sự cảm thông sâu sắc đối với những kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Hình ảnh Thúy Kiều khóc thương trước mộ Đạm Tiên không chỉ là phản ứng của một trái tim đa cảm mà còn là sự thức tỉnh về những bất công của cuộc đời. Tiếng than “Đau đớn thay phận đàn bà!” vừa là lời xót xa, vừa là tiếng nói tố cáo một xã hội coi rẻ giá trị của người phụ nữ, khiến họ phải chịu nhiều đau khổ và bất hạnh. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện cái nhìn đầy nhân ái khi luôn đứng về phía những con người yếu thế, nâng niu phẩm giá và khát vọng hạnh phúc của họ. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa Kiều và mộ Đạm Tiên còn mang ý nghĩa dự báo: số phận của Đạm Tiên chính là tấm gương phản chiếu tương lai đầy sóng gió của Kiều. Vì vậy, đoạn thơ không chỉ thể hiện lòng thương người mà còn làm nổi bật tư tưởng "thương người như thể thương thân", một giá trị nhân văn xuyên suốt toàn bộ Truyện Kiều. Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy, ngôn ngữ giàu chất trữ tình và cảm hứng nhân đạo bao trùm, Nguyễn Du đã tạo nên một đoạn thơ có sức lay động mạnh mẽ, giúp người đọc thêm trân trọng con người, biết đồng cảm với những số phận bất hạnh và khát khao xây dựng một cuộc sống công bằng, nhân ái hơn.

Bài tham khảo Mẫu 4

Đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên là một trong những phân đoạn kết tinh sâu sắc nhất chủ đề nhân đạo của Truyện Kiều: tiếng khóc thương cho số phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Ngay khi nghe câu chuyện về nàng ca nhi xấu số, Thúy Kiều đã “đầm đầm châu sa” – giọt nước mắt mở đầu cho một chuỗi bi kịch kéo dài suốt mười lăm năm lưu lạc. Đỉnh cao tư tưởng của đoạn trích nằm ở hai câu thơ mang tính khái quát hóa: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Nguyễn Du không chỉ khóc cho một Đạm Tiên cụ thể, mà ông đang cất lên lời phản kháng, tố cáo xã hội bất công, nơi “hóa công” phũ phàng luôn đày đọa kiếp má hồng. Nỗi đau ấy càng nhức nhối khi nhà thơ vạch trần quy luật nghiệt ngã của kiếp kỹ nữ: sống làm vợ khắp người ta, chết làm ma không chồng, để rồi cuối cùng bị người đời lãng quên, ghẻ lạnh. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tài hoa, khung cảnh “cỏ áy bóng tà”, “gió hiu hiu thổi” ở cuối đoạn thơ không chỉ là sắc màu của thiên nhiên, mà chính là sự đồng điệu, nhuốm màu sầu thảm của đất trời trước nỗi đau nhân thế. Đoạn văn mang giá trị nhân văn cao cả khi khơi dậy lòng trắc ẩn và sự trân trọng đối với quyền sống của người phụ nữ.

Bài tham khảo Mẫu 5

Chủ đề của đoạn trích không chỉ dừng lại ở sự xót thương, mà sâu sắc hơn, đó là sự “đồng bệnh tương lân” – tiếng lòng tri âm giữa những tâm hồn tài hoa, cô độc và dự cảm về định mệnh. Thúy Kiều đối diện với nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên không phải với tư cách một người qua đường xa lạ, mà như đang nhìn thấy tấm gương phản chiếu tương lai của chính mình. Sự đồng cảm mãnh liệt ấy dẫn đến những nghĩa cử nhân văn cao đẹp: thắp nhang, khấn vái và rút trâm đề thơ lên vỏ cây. Kiều muốn dùng hơi ấm của lòng nhân hậu để sưởi ấm cho một linh hồn lạnh lẽo dưới suối vàng. Nguyễn Du đã vô cùng tinh tế khi sử dụng điệp từ “lại càng” kết hợp với các từ láy “mê mẩn”, “tần ngần”, “ủ dột” để miêu tả thế giới nội tâm đang dậy sóng của nhân vật. Nỗi sầu muộn của Kiều kết lại bằng hình ảnh “sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài”, cho thấy một trái tim đa sầu đa cảm, luôn biết đau trước nỗi đau của đồng loại. Đoạn trích qua đó khẳng định một tư tưởng lớn: cái đẹp và tài năng dù có bị vùi dập, thì tình người và sự tri âm vẫn là đốm lửa thiêng liêng sưởi ấm trần thế, tạo nên sức sống vượt thời gian cho tác phẩm.

Bài tham khảo Mẫu 6

Đoạn trích trên đã thể hiện trọn vẹn giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Truyện Kiều qua chủ đề: ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và xót xa cho bi kịch của người phụ nữ. Bản chất của chủ đề này được khơi nguồn từ lòng trắc ẩn tự nhiên, từ “mối thương tâm” sẵn có trong lòng Thúy Kiều. Nguyễn Du đã tái hiện một thực tế tàn nhẫn của xã hội cũ, nơi những người phụ nữ có sắc, có tài như Đạm Tiên khi sống bị trục lợi, lúc chết bị bỏ rơi “nào người tích lục tham hồng là ai?”. Trước sự thờ ơ của người đời, hành động “sụp ngồi đặt cỏ trước mồ” của Kiều trở thành biểu tượng của tình người cao cả, vượt qua ranh giới giữa âm và dương, giữa hiện tại và quá khứ. Đặc biệt, bút pháp tả cảnh ngụ tình của đại thi hào đã đạt đến độ chín muồi. Hình ảnh “một vùng cỏ áy bóng tà” cùng tiếng “gió hiu hiu thổi một vài bông lau” không chỉ gợi không gian hiu quạnh, mà còn khắc họa thành công sự tàn tạ, phai nhạt của kiếp người bạc mệnh. Qua chủ đề này, Nguyễn Du không chỉ bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với nhân vật, mà còn hướng người đọc đến tinh thần nhân đạo, biết trân trọng và bảo vệ những giá trị tốt đẹp của con người trước những bão giông cuộc đời.

Bài tham khảo Mẫu 7

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người đã để lại cho nền văn học Việt Nam kiệt tác Truyện Kiều giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Trong đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên, ông đã thể hiện rõ chủ đề cốt lõi của tác phẩm: niềm xót thương sâu sắc trước số phận bi kịch của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Dù chưa từng gặp gỡ, chỉ vừa nghe kể về cuộc đời Đạm Tiên, Thúy Kiều đã “đầm đầm châu sa”, giọt nước mắt ấy không xuất phát từ sự quen biết mà từ trái tim giàu yêu thương, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác. Đặc biệt, hai câu thơ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” đã nâng bi kịch của Đạm Tiên thành bi kịch chung của biết bao người phụ nữ tài sắc nhưng bất hạnh. Họ khi sống phải chịu cảnh “làm vợ khắp người ta”, khi chết lại cô đơn, lạnh lẽo, không một người hương khói. Trước nấm mồ hoang, Kiều thắp hương, khấn vái, đề thơ như một lời tri ân và an ủi người đã khuất, qua đó bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn. Để làm nổi bật chủ đề ấy, Nguyễn Du sử dụng thể thơ lục bát mềm mại, ngôn ngữ giàu chất trữ tình và bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc với hình ảnh “bóng tà”, “gió hiu hiu”, “cỏ áy” gợi không gian hiu quạnh, thấm đẫm nỗi buồn. Đoạn trích góp phần làm nên giá trị nhân đạo bất hủ của Truyện Kiều, đồng thời khơi dậy trong mỗi người đọc niềm thương cảm đối với những số phận bất hạnh và ý thức trân trọng giá trị của con người.

Bài tham khảo Mẫu 8

Là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ phản ánh hiện thực xã hội phong kiến mà còn tỏa sáng bởi tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Điều đó được thể hiện rõ qua đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên, nơi tác giả cất lên tiếng nói đầy yêu thương dành cho những người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Trước nấm mồ vô chủ, Thúy Kiều không hề thờ ơ mà xúc động đến rơi lệ. Giọt nước mắt ấy là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn đồng điệu, cùng mang vẻ đẹp của tài năng và trái tim giàu cảm xúc. Từ nỗi đau của Đạm Tiên, Nguyễn Du khái quát thành quy luật nghiệt ngã của xã hội: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.” Đó vừa là tiếng than, vừa là lời tố cáo một xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và quyền hạnh phúc của người phụ nữ. Không dừng lại ở sự thương xót, Kiều còn thắp hương, khấn nguyện, đề thơ trước mộ Đạm Tiên như gửi đến người đã khuất một sự sẻ chia chân thành. Nghĩa cử ấy làm sáng lên vẻ đẹp nhân hậu và vị tha của nhân vật. Thành công của đoạn trích còn đến từ nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, ngôn ngữ giàu sức biểu cảm và bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế khi cảnh vật nhuốm màu hoang vắng, hiu hắt đã hòa vào tâm trạng con người. Qua đó, Nguyễn Du khẳng định giá trị cao đẹp của tình thương, để tiếng khóc của Thúy Kiều vẫn còn lay động trái tim người đọc sau hàng trăm năm.

Bài tham khảo Mẫu 9

Nhắc đến Nguyễn Du là nhắc đến một trái tim lớn luôn hướng về con người, đặc biệt là những số phận nhỏ bé, bất hạnh. Chính vì thế, Truyện Kiều không chỉ là câu chuyện về cuộc đời Thúy Kiều mà còn là bản trường ca thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Trong đoạn trích viếng mộ Đạm Tiên, chủ đề ấy được thể hiện đầy xúc động qua sự đồng cảm giữa hai người phụ nữ tài sắc nhưng cùng mang dự cảm về một kiếp đời truân chuyên. Chỉ nghe kể về Đạm Tiên, Kiều đã bật khóc nức nở bởi nàng nhìn thấy trong số phận người xưa hình bóng của biết bao kiếp hồng nhan. Đặc biệt, lời than “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” đã vượt khỏi giới hạn của một nhân vật để trở thành tiếng nói nhân đạo cho cả một lớp người bị xã hội phong kiến vùi dập. Càng cảm động hơn khi Kiều thành kính thắp hương, khấn vái và đề thơ trước mộ Đạm Tiên. Đó không chỉ là nghi lễ tưởng niệm mà còn là sự tri ân, sẻ chia với một linh hồn cô độc, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của tấm lòng nhân ái và đức hi sinh. Nguyễn Du đã khắc họa chủ đề bằng nghệ thuật lục bát đạt đến độ mẫu mực, ngôn ngữ giàu cảm xúc và bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, khiến khung cảnh “bóng tà”, “gió hiu hiu”, “bông lau” như thấm đẫm nỗi buồn nhân thế. Đoạn trích góp phần làm nên giá trị nhân đạo bất hủ của Truyện Kiều, đồng thời nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, cảm thông và trân trọng phẩm giá con người trong mọi thời đại.

Bài tham khảo Mẫu 10

Đoạn trích đã thể hiện sâu sắc chủ đề về niềm cảm thương đối với số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp của lòng nhân ái và khát vọng công bằng. Trước nấm mồ Đạm Tiên, Thúy Kiều không chỉ khóc thương cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh mà còn xót xa cho thân phận chung của biết bao người phụ nữ tài sắc nhưng bất hạnh: “Đau đớn thay phận đàn bà! / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.” Qua tiếng khóc ấy, Nguyễn Du bộc lộ thái độ lên án xã hội phong kiến bất công đã vùi dập tài năng, nhan sắc và hạnh phúc của con người. Đồng thời, hình ảnh Kiều thắp hương, khấn vái, đứng lặng trước mộ Đạm Tiên đã làm nổi bật tấm lòng giàu lòng trắc ẩn, biết yêu thương và đồng cảm với nỗi đau của người khác. Chính sự đồng cảm ấy cũng là dự cảm về cuộc đời nhiều sóng gió của Thúy Kiều sau này, góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm. Bằng ngôn ngữ giàu sức gợi, giọng điệu xót thương và nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, đoạn trích đã gửi gắm giá trị nhân đạo sâu sắc, khẳng định khát vọng được sống hạnh phúc và được trân trọng của con người.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close