Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà (Nguyễn Khuyến)I. Mở bài - Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là nhà thơ lớn của dân tộc, mệnh danh là "Tam nguyên Yên Đổ", nổi tiếng với các sáng tác viết về tình bạn, tình yêu quê hương đất nước và châm biếm đả kích. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý I. Mở bài - Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là nhà thơ lớn của dân tộc, mệnh danh là "Tam nguyên Yên Đổ", nổi tiếng với các sáng tác viết về tình bạn, tình yêu quê hương đất nước và châm biếm đả kích. - Giới thiệu tác phẩm: "Bạn đến chơi nhà" là bài thơ kiệt tác viết về tình bạn chân thành, tri kỷ, vượt lên trên những vật chất tầm thường của đời sống. - Nêu định hướng phân tích: Khái quát cảm xúc chủ đạo của bài thơ (sự hào hứng, niềm vui khi bạn đến và tình bạn thắm thiết, sâu nặng). II. Thân bài 1. Hoàn cảnh và cảm xúc khi bạn đến chơi nhà (Câu 1) - Câu thơ: "Đã bấy lâu nay bác tới nhà" - Phân tích: + Từ thời gian "đã bấy lâu nay" thể hiện sự mong mỏi, chờ đợi lâu ngày nay mới được gặp lại. + Tiếng gọi "bác" vừa là cách xưng hô thân mật của người làng quê, vừa thể hiện sự quý trọng, gần gũi như người trong nhà. + Câu thơ mở đầu như một tiếng reo vui, niềm vỡ oà, hân hoan khi người bạn hiền đến thăm. 2. Sự "thiếu thốn" về vật chất qua lời kể của nhà thơ (Câu 2 đến câu 7) - Hoàn cảnh trớ trêu: Người giúp việc (trẻ) đi vắng, chợ lại ở xa. - Khung cảnh "vườn tược, ao chuồng": + Ao sâu nước cả không chài được cá. + Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. + Cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa… Tất cả các loại rau trái đều đang ở dạng tiềm năng, non trẻ, chưa thể thu hoạch để làm mâm cơm đãi bạn. - Sự khốn khó đỉnh điểm: "Đầu trò tiếp khách, trầu không có" - Miếng trầu là đầu câu chuyện của người Việt, nhưng ngay cả trầu cũng không có để tiếp khách. - Nghệ thuật đặc sắc: + Lối nói cấu trúc đối lập, liệt kê tăng tiến hài hước. + Giọng điệu tự trào (tự cười mình), hóm hỉnh. + Nhà thơ cố tình vẽ ra một bức tranh gia cảnh túng thiếu, nghèo khó đến mức "cố cùng hoại tận". 3. Tình bạn chân thành, tri kỷ (Câu kết) - Câu thơ: "Bác đến chơi đây ta với ta" - Phân tích: + Cụm từ "ta với ta" mang ý nghĩa sâu sắc: chỉ hai con người (chủ và khách) hòa hợp làm một, không còn khoảng cách, ranh giới. + Sự thiếu thốn vật chất bỗng chốc trở nên vô nghĩa trước tình cảm tâm giao, tri kỷ. + Khẳng định tình bạn đẹp, trong sáng, vượt lên trên mọi thứ vật chất tầm thường, chỉ có tình người gắn kết. III. Kết bài - Tổng kết giá trị nội dung: Bài thơ thể hiện tình bạn thắm thiết, chân thành, vượt qua hoàn cảnh vật chất và sự hóm hỉnh, tài tình trong nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Khuyến. - Tổng kết giá trị nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật dung dị, ngôn ngữ đậm đà chất dân gian, giọng điệu tự trào độc đáo. - Bài học/Suy ngẫm: Gợi mở về ý nghĩa của tình bạn chân chính trong cuộc sống hiện đại (coi trọng tình cảm tâm hồn hơn vật chất bề ngoài). Bài siêu ngắn Mẫu 1 Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là một trong những cây đại thụ của nền văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là "Tam nguyên Yên Đổ". Thơ ông không chỉ thành công ở mảng thơ trữ tình, châm biếm mà còn để lại dấu ấn đậm nét qua những vần thơ viết về tình bạn chân thành, tri kỷ. Tiêu biểu cho đề tài này là bài thơ “Bạn đến chơi nhà”, một tác phẩm đặc sắc thể hiện tình cảm gắn bó thắm thiết, vượt lên trên mọi vật chất tầm thường của đời sống. Mở đầu bài thơ là niềm vui sướng, hân hoan tột độ khi có người bạn tri kỷ ghé thăm sau bao ngày xa cách: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Câu thơ đầu tiên vang lên như một tiếng reo vui, một lời chào hỏi vồn vã, thân mật. Thời gian "đã bấy lâu nay" cho thấy sự chờ đợi, mong mỏi mòn mỏi nay mới thành hiện thực. Từ "bác" không chỉ là cách xưng hô quen thuộc của người làng quê mà còn chứa đựng sự kính trọng, gắn bó ruột thịt. Thế nhưng, ngay câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã đẩy người đọc vào một tình huống vô cùng oái oăm: người giúp việc thì đi vắng, còn chợ lại ở quá xa, không thể xoay sở kịp lúc. Càng đi vào những câu tiếp theo, bức tranh gia cảnh của nhà thơ lại càng trở nên túng thiếu, nghèo khó đến mức "cố cùng hoại tận": “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Hàng loạt khó khăn được liệt kê dồn dập với cấu trúc đối xứng chặt chẽ. Nào là ao sâu nước lớn không chài được cá, vườn rộng rào thưa không đuổi được gà. Đã vậy, sản vật trong vườn từ rau cải, quả cà cho đến giàn bầu, giàn mướp đều đang ở dạng tiềm năng – non trẻ, chưa cái nào có thể thu hoạch được. Bằng giọng điệu hóm hỉnh, tự trào, Nguyễn Khuyến đã liệt kê một danh sách dài những cái "không": không cá, không gà, không rau trái. Đỉnh điểm của sự thiếu thốn chính là thứ đồ tiếp khách cơ bản nhất của người Việt cũng hoàn toàn trống vắng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Miếng trầu là đầu câu chuyện, vậy mà nhà thơ lại không có lấy một miếng trầu để đãi bạn. Sự nghèo túng ấy được diễn tả qua một giọng điệu tưng tửng, vừa tự cười mình vừa tạo ra tiếng cười vui vẻ cho người đọc. Thế nhưng, tất cả những sự thiếu thốn về vật chất ấy bỗng chốc tan biến hoàn toàn trước câu thơ kết đầy bất ngờ và ý nghĩa: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Cụm từ "ta với ta" là một nhãn tự đắt giá của bài thơ. Nó không chia cắt chủ và khách thành hai thế giới riêng biệt mà hòa quyện họ lại làm một thể thống nhất. Bạn đến chơi nhà đâu phải vì mâm cao cỗ đầy hay những thức quà sang trọng, mà đến vì tình cảm tâm giao, vì sự đồng điệu của những tâm hồn thanh cao. “Bạn đến chơi nhà” là bài thơ kiệt tác của Nguyễn Khuyến viết về tình bạn. Bằng nghệ thuật trào lộng đặc sắc, giọng điệu hóm hỉnh, tự nhiên cùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật uyển chuyển, bài thơ đã khẳng định một chân lý sâu sắc: tình bạn chân chính, tri kỷ luôn vượt lên trên mọi vật chất tầm thường của cuộc đời. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Viết về tình bạn là một mảng đề tài quen thuộc trong thơ ca trung đại, nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà”, đề tài ấy lại hiện lên với một vẻ đẹp vô cùng độc đáo, hóm hỉnh mà sâu sắc. Tác phẩm không chỉ phác họa bức tranh chân thực về một tình bạn vượt lên trên hoàn cảnh vật chất mà còn ngời sáng nhân cách thanh cao của nhà thơ Yên Đổ cáo quan về ở ẩn. Bài thơ mở ra bằng một âm hưởng đầm ấm, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Câu thơ đầu tiên chứa đựng niềm vui vỡ òa của người chủ nhà khi đón vị khách quý sau bao nhiêu ngày xa cách. Tiếng "bác" vang lên thân thương, gần gũi. Thế nhưng, niềm vui vừa chớm nở thì nhà thơ lại lập tức chỉ ra một loạt những bất lợi, khó khăn về mặt hoàn cảnh gia đình. Người phục vụ thì không có nhà, chợ búa lại ở chốn xa xôi, tạo nên một sự bất tiện bề bộn. Bước sang phần thân bài, nhà thơ tiếp tục "kể khổ" bằng một loạt hình ảnh miêu tả không gian sinh hoạt nghèo nàn, trống trải: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Bằng nghệ thuật liệt kê kết hợp với nhịp thơ linh hoạt, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một tình cảnh trớ trêu đến cùng cực. Muốn ăn cá thì ao sâu nước lớn không chài được; muốn bắt gà thì vườn rộng rào thưa không thể đuổi bắt. Ngay cả những thứ cây nhà lá vườn tưởng chừng dễ kiếm nhất thì tất cả đều đang trong thời kỳ sinh trưởng: rau cải chưa ra cây, quả cà mới chớm nụ, bầu vừa rụng rốn và mướp thì đương độ ra hoa. Không có lấy một sản vật nào có thể đem ra để làm mâm cơm đãi bạn. Sự thiếu thốn ấy còn chạm đến điểm tột cùng ở câu thơ tiếp theo: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Miếng trầu vốn là phong tục mở đầu câu chuyện của người Việt, nay cũng hoàn toàn trống vắng. Nhà thơ tự bóc mẽ cái nghèo của mình với một thái độ thản nhiên, vui vẻ, biến cái khốn khó thành một tiếng cười tự trào duyên dáng, thâm trầm. Tuy nhiên, đằng sau sự nghèo túng, trống trải ấy lại là một sự giàu có vô biên về mặt tình cảm được kết tinh ở câu thơ cuối cùng: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu kết khép lại bài thơ bằng một nét đẹp tâm hồn cao cả. Chữ "ta" ở đây vừa chỉ chủ, vừa chỉ khách, nhưng thực chất là hai tâm hồn đã hòa quyện làm một, không còn khoảng cách ranh giới. Gặp nhau cốt ở tấm lòng, ở sự tri âm tri kỷ chứ không vụ lợi mâm cỗ linh đình. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú dung dị, ngôn ngữ đậm đà chất dân gian cùng nghệ thuật nói giảm nói tránh và giọng điệu tự trào đặc sắc, “Bạn đến chơi nhà” đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Bài thơ mãi là tượng đài đẹp đẽ tôn vinh tình bạn trong sáng, thanh cao giữa dòng đời nhiều biến động. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Khi nhắc đến Nguyễn Khuyến, người ta thường nghĩ ngay đến những bài thơ thu tuyệt mỹ hay những vần thơ châm biếm sâu cay. Thế nhưng, sẽ là một thiếu sót lớn nếu bỏ qua “Bạn đến chơi nhà” – một bài thơ kiệt tác mang đậm phong vị làng quê, chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc về tình bạn chân chính, trong sạch giữa đời thường. Ngay từ câu thơ mở đầu, bầu không khí của cuộc hội ngộ đã ngập tràn niềm vui tươi, phấn khởi: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Khoảng thời gian "đã bấy lâu nay" gợi nhắc sự mong mỏi, chờ đợi lâu ngày nay mới được đền đáp. Cách xưng hô "bác" vừa gần gũi, thân tình vừa thể hiện sự tôn trọng đối với người bạn hiền. Tuy nhiên, thay vì chuẩn bị một mâm cỗ linh đình để tiếp khách quý, nhà thơ lại bày ra một hoàn cảnh vô cùng neo đơn, thiếu thốn đủ đường: trẻ đi vắng, chợ ở xa, chẳng có ai để sai bảo hay mua sắm. Sự nghèo túng của gia chủ tiếp tục được khắc họa qua bức tranh thiên nhiên và vườn tược xung quanh: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Nhà thơ sử dụng nghệ thuật đối lập, liệt kê tăng tiến vô cùng khéo léo. Hết trở ngại về tự nhiên (ao sâu nước cả, vườn rộng rào thưa) lại đến sự non trẻ của các loại rau quả trong vườn (cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa). Không có lấy một thứ gì có thể dùng để đãi khách. Sự túng thiếu ấy đạt đến đỉnh điểm qua câu thơ: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Đến cả miếng trầu – thứ lễ nghĩa tối thiểu để mở đầu câu chuyện cũng không có nốt. Đọc đến đây, người đọc không khỏi phì cười trước sự "nghèo đến mức kham khổ" mà nhà thơ tự thú nhận. Đó là tiếng cười tự trào đầy hóm hỉnh, một cách nói quá vô cùng duyên dáng của nhà nho cáo quan về ở ẩn. Thế nhưng, chính cái nền nghèo túng, trống trải ấy lại làm nổi bật lên một thứ tài sản vô giá ở câu thơ cuối cùng: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu thơ kết như một thứ ánh sáng chiếu rọi toàn bộ tác phẩm. Chữ "ta" đặt chủ và khách vào thế gắn kết keo sơn, không còn ranh giới giữa chủ khách, sang hèn hay vật chất. Bạn đến chơi nhà vì tình cảm chân thành, vì sự tri âm tri kỷ chứ không vì mâm cao cỗ đầy. Tình bạn ấy vượt lên trên mọi sự tính toán, vụ lợi của xã hội đương thời. Bằng nghệ thuật trào lộng tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi hình, “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến không chỉ là bức tranh sinh động về tình bạn đẹp mà còn gửi gắm bài học nhân sinh sâu sắc. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng: trong cuộc sống, tình cảm chân thành giữa người với người mới là thứ giá trị bền vững và thiêng liêng nhất. Bài tham khảo Mẫu 1 Trong hành trình của thi ca, có những bài thơ được nhớ bởi những biến động lớn lao của thời đại, có những bài thơ lại neo vào lòng người bằng một điều tưởng như rất nhỏ bé: một cuộc gặp gỡ. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến thuộc về những câu thơ như thế. Không chiến công, không cảnh sắc kỳ vĩ, không những lời ngợi ca trang trọng, bài thơ chỉ kể chuyện một người bạn lâu ngày ghé thăm. Vậy mà sau tám câu thơ ngắn ngủi, người đọc lại bắt gặp cả một thế giới tình cảm trong trẻo: ở đó, vật chất càng vơi đi bao nhiêu thì tình người càng đầy lên bấy nhiêu; cái nghèo của vật chất trở thành nền phông để cái giàu của tâm hồn tỏa sáng. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng với những vần thơ viết về làng quê bằng một tình cảm vừa chân thành vừa tinh tế. Nếu chùm thơ thu đem đến một Nguyễn Khuyến lặng lẽ trước vẻ đẹp đồng quê, thì “Bạn đến chơi nhà” lại cho thấy một Nguyễn Khuyến đời thường, hóm hỉnh và đặc biệt giàu tình nghĩa. Bài thơ được viết như một cuộc trò chuyện, tự nhiên đến mức người đọc có cảm giác đang nghe chính nhà thơ cười vui mà kể lại câu chuyện tiếp bạn của mình. Câu thơ mở đầu trước hết là một tiếng reo vui: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Chỉ tám chữ nhưng chứa đựng biết bao tình cảm. “Đã bấy lâu nay” gợi một quãng thời gian xa cách, còn “bác tới nhà” lại đột ngột đem đến sự đoàn tụ. Từ “bác” là cách xưng hô thân tình, gần gũi mà kính trọng. Nguyễn Khuyến không gọi bạn bằng những cách xưng hô trang trọng của văn chương bác học mà lựa chọn chính lời ăn tiếng nói trong đời sống. Vì thế, câu thơ giống một lời chào bật ra từ trái tim hơn là một câu thơ được trau chuốt trên trang giấy. Niềm vui gặp bạn không cần đến những lời lớn lao; chỉ một câu nói giản dị cũng đủ làm ấm cả không gian. Nhưng niềm vui vừa mở ra, nhà thơ đã lập tức đưa người đọc vào một tình huống đầy éo le: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Thông thường, khách quý đến nhà thì chủ nhà phải tìm cách thiết đãi. Thế nhưng Nguyễn Khuyến lại lần lượt đưa ra hàng loạt lí do khiến mọi dự định tiếp khách đều trở nên bất khả thi. Trẻ đi vắng nên không có người sai đi chợ; chợ lại ở xa. Trong nhà có cá nhưng “ao sâu nước cả”, muốn bắt cũng không dễ. Có gà trong vườn nhưng “vườn rộng rào thưa”, muốn đuổi gà cũng khó. Cách kể ấy tạo nên một chuỗi tình huống vừa chân thực vừa dí dỏm. Nhà thơ dường như đang cố tìm mọi thứ có thể dùng để tiếp bạn, rồi ngay lập tức lại tự mình phủ định chúng. Cái duyên của bài thơ nằm chính ở sự “không thành” ấy. Người đọc bật cười trước một chủ nhà có cả ao cá, vườn gà mà cuối cùng vẫn chẳng thể lấy được gì để đãi bạn. Tuy nhiên, đằng sau tiếng cười là một đời sống thanh đạm rất đặc trưng của Nguyễn Khuyến. Ông sống giữa một không gian thôn quê, gần gũi với ao vườn, cây trái; những thứ tưởng bình thường ấy lại trở thành những nét chấm phá làm nên hồn quê trong bài thơ. Hai câu tiếp theo tiếp tục đẩy cái thiếu thốn lên đến mức gần như tuyệt đối: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Khu vườn hiện ra thật xanh tươi, nhưng tất cả đều đang ở trạng thái “chưa thể dùng”. Cải chưa thành cây, cà mới chỉ ra nụ, bầu còn non, mướp đang độ trổ hoa. Nhà thơ không nói “nhà tôi nghèo” mà kể về khu vườn bằng một giọng hóm hỉnh. Chính điều ấy khiến cái nghèo không trở thành bi kịch. Nó chỉ là một nét đời thường được nhìn bằng đôi mắt lạc quan. Đặc biệt, những từ ngữ “chửa”, “mới”, “vừa”, “đương” tạo nên nhịp điệu tự nhiên như lời nói của người dân quê. Những thứ rau quả bé nhỏ bỗng mang một sức sống riêng. Khu vườn không chỉ cung cấp thức ăn mà còn trở thành nhân vật góp phần vào câu chuyện tiếp bạn: cái gì cũng có, chỉ tiếc là cái gì cũng “chưa đến lúc”. Bằng nghệ thuật liệt kê kết hợp với lối nói hóm hỉnh, Nguyễn Khuyến đã biến một hoàn cảnh thiếu thốn thành một câu chuyện duyên dáng. Và rồi, cái thiếu được đẩy tới tận cùng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Trầu vốn là biểu tượng của phong tục giao tiếp truyền thống. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, vậy mà đến miếng trầu tối thiểu cũng không có. Tưởng như chủ nhà đã không còn gì để tiếp khách. Nhưng chính ở đây, ý nghĩa sâu xa của bài thơ bắt đầu hiện rõ. Nếu nhà thơ không có món ngon, không có rượu quý, thậm chí không có trầu, vậy thứ gì còn lại để trao cho người bạn? Câu trả lời nằm trọn trong câu thơ cuối: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Đây chính là điểm hội tụ của toàn bài. Tất cả những cái “không có” ở bảy câu thơ trước cuối cùng lại làm nền cho một cái “có” vô cùng lớn: có tình bạn. “Ta với ta” không phải hai cái tôi tách biệt mà là hai con người đã tìm thấy sự đồng điệu. Hai chữ “ta” đứng cạnh nhau như hai tâm hồn soi chiếu vào nhau, không cần vật chất làm cầu nối, không cần lễ nghi làm khoảng cách. Nếu ở một số bài thơ khác, “ta với ta” có thể gợi sự cô đơn của cái tôi, thì ở đây nó lại gợi cảm giác ấm áp của tình tri kỉ. Một người bạn thật sự không đến vì mâm cơm, cũng không chờ đợi một cuộc tiếp đãi cầu kỳ. Họ đến chỉ vì muốn gặp nhau. Và khi tình bạn đã đủ sâu, sự hiện diện của người bạn đã chính là món quà quý nhất. Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật. Nguyễn Khuyến sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú vốn có khuôn phép chặt chẽ nhưng lại đưa vào đó một giọng điệu gần như lời nói hằng ngày. Hình ảnh thơ đều lấy từ cuộc sống nông thôn: ao cá, vườn gà, cải, cà, bầu, mướp, trầu. Nghệ thuật liệt kê, phép đối và cách tạo tình huống bất ngờ khiến bài thơ có tiếng cười nhẹ nhàng mà thấm thía. Đặc biệt, việc xây dựng hàng loạt cái “không” để làm nổi bật cái “có” ở câu kết là một cách kết cấu rất tài tình. “Bạn đến chơi nhà” vì thế vượt lên trên một câu chuyện tiếp khách. Bài thơ là lời ca về một thứ tình cảm không cần được đo bằng vật chất. Trong một thế giới mà con người đôi khi dễ bị ràng buộc bởi quà cáp, lễ nghi và những giá trị bên ngoài, Nguyễn Khuyến lại nhắc chúng ta về một điều giản dị: tình bạn đẹp nhất là khi người ta tìm đến nhau không phải vì điều gì khác ngoài chính con người của nhau. Tám câu thơ khép lại nhưng dư âm còn ở lại rất lâu. Cái ao sâu, vườn rộng, luống cải, giàn mướp rồi sẽ qua mùa; những món ăn dù ngon đến đâu cũng chỉ là phù du. Nhưng một tình bạn chân thành có thể vượt qua năm tháng. Bởi vậy, “Bạn đến chơi nhà” không chỉ có tiếng cười của một ông già quê tiếp bạn mà còn có hơi ấm của một trái tim biết trân trọng tình người. Trong cái “không có gì” của vật chất, Nguyễn Khuyến đã tìm thấy một sự giàu có tuyệt đẹp: sự giàu có của tình bạn và sự đồng điệu giữa những tâm hồn tri kỉ. Bài tham khảo Mẫu 2 Có những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài một buổi, nhưng dư âm của nó có thể theo con người suốt cả một đời. Có những tình bạn chẳng cần trao nhau vật quý, chẳng cần những lời thề hẹn, chỉ cần một lần tìm đến nhau cũng đủ để nhận ra sự thân thuộc trong tâm hồn. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một bài thơ như được dệt nên từ một cuộc gặp gỡ bình dị như thế. Giữa không gian làng quê thanh sơ, một người bạn tìm đến thăm nhà thơ sau những ngày xa cách. Chủ nhà muốn tiếp bạn nhưng chẳng có gì trong tay. Thế mà nghịch lí thay, càng “không có” bao nhiêu, bài thơ lại càng trở nên giàu có bấy nhiêu – giàu tình, giàu nghĩa và giàu cả vẻ đẹp của một tâm hồn thanh sạch. “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Bài thơ bắt đầu bằng một câu thơ không có chút khoảng cách nào giữa thơ và đời. Nó giống như tiếng người bạn lâu ngày gặp lại bật lên trong niềm vui. “Đã bấy lâu nay” không chỉ nói về thời gian mà còn gợi cả một khoảng trống của nhớ mong. Sau những ngày xa cách, người bạn bỗng xuất hiện trước hiên nhà, mang theo một niềm vui tưởng bình thường mà sâu xa. Cách gọi “bác” khiến câu thơ có sự thân mật của tình bạn, đồng thời vẫn giữ nét trân trọng. Nguyễn Khuyến không cần nói “tôi rất vui”, nhưng niềm vui đã tự nhiên thấm vào từng chữ. Thế rồi, trong niềm vui ấy lại thấp thoáng một chút bối rối đáng yêu. Khách đến nhà, chủ nhà muốn có thứ gì đó để tiếp, nhưng hoàn cảnh cứ lần lượt khước từ: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Một bức tranh nông thôn hiện ra với những nét vẽ thật tự nhiên. Có ao, có cá; có vườn, có gà; có người trong nhà, có cả chợ ngoài xa. Tưởng như mọi thứ đã sẵn sàng cho một bữa cơm quê, vậy mà tất cả đều trở thành những cái “không thể”. Người thì đi vắng, chợ thì xa; cá ở ao nhưng ao lại sâu, gà ở vườn nhưng rào lại thưa. Cái tài của Nguyễn Khuyến là ông không biến hoàn cảnh thiếu thốn thành lời than thở. Ông kể bằng một nụ cười. Mỗi câu thơ như một lần nhà thơ đưa tay tìm kiếm rồi lại bật cười vì chẳng thể lấy được thứ gì. Cái hài nằm trong sự trái ngược: nhà chẳng phải không có gì, nhưng trước mặt người bạn lại chẳng có gì dùng được. Và nếu người đọc còn nghĩ rằng ít nhất khu vườn có thể cứu vãn tình thế, thì hai câu thơ sau lại nhẹ nhàng khép cánh cửa ấy: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Đây có lẽ là hai câu thơ mang đậm nhất hơi thở của làng quê. Ta có thể hình dung một khu vườn xanh mướt, những luống cải non, cây cà mới hé nụ, dây bầu còn non và giàn mướp đang trổ những bông hoa vàng. Cảnh vật hiện lên không hề nghèo nàn mà trái lại rất có sức sống. Chỉ có điều, tất cả đang ở phía trước của một mùa thu hoạch. Nguyễn Khuyến đã nhìn khu vườn bằng ánh mắt của một người gắn bó với quê hương. Cây cối không phải những vật vô tri mà dường như đều có một đời sống riêng: cải đang lớn, cà đang nụ, bầu đang non, mướp đang hoa. Cái chưa thành quả lại vô tình trở thành vẻ đẹp của sự sống. Vì vậy, hai câu thơ không chỉ làm nhiệm vụ “kể nghèo” mà còn dựng lên một không gian thôn dã thân thương, nơi con người sống thuận theo nhịp điệu chậm rãi của đất trời. Đến câu thứ bảy, tình huống được đẩy đến tận cùng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Nếu những câu thơ trước còn có thể khiến người đọc nghĩ đến một bữa cơm đạm bạc, thì giờ đây ngay cả miếng trầu cũng không có. Trong văn hóa truyền thống, trầu cau là biểu tượng của sự giao tiếp, của tình nghĩa và lòng hiếu khách. Bởi vậy, việc “trầu không có” tạo nên một tiếng cười rất duyên. Nhưng tiếng cười ấy càng làm người đọc nhận ra rằng nhà thơ hoàn toàn không bận tâm đến chuyện hình thức. Bởi điều nhà thơ thực sự muốn trao cho người bạn không nằm trên mâm cơm. Nó nằm trong câu thơ cuối: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Câu thơ như một cánh cửa mở ra sau hàng loạt cái “không”. Nếu bảy câu thơ đầu khiến ta tưởng rằng cuộc tiếp khách đang rơi vào bế tắc, thì câu cuối lại bất ngờ cho thấy chẳng có gì đáng tiếc cả. Bởi bạn đến không phải để ăn. Bạn đến để gặp bạn. “Ta với ta” là một cụm từ giản dị nhưng có sức ngân vang đặc biệt. Hai chữ “ta” đặt cạnh nhau vừa là hai người, vừa như một. Khoảng cách giữa chủ và khách, giữa tôi và bạn dường như tan biến. Chỉ còn sự hiện diện của hai con người hiểu nhau, quý nhau. Không cần rượu, không cần trầu, không cần món ngon; một cuộc trò chuyện, một ánh mắt, một nụ cười cũng đã đủ thành một cuộc hội ngộ. Nếu vật chất là những thứ có thể mất đi, thì tình bạn chân thành lại là thứ có thể ở lại. Cá rồi sẽ hết, gà rồi sẽ lớn, rau quả rồi cũng qua mùa; nhưng sự đồng cảm giữa hai tâm hồn có thể vượt qua những giới hạn của thời gian. Chính vì vậy, câu thơ cuối không chỉ khép bài mà còn nâng toàn bộ bài thơ lên một tầng ý nghĩa mới. Về nghệ thuật, bài thơ hấp dẫn bởi sự kết hợp tài tình giữa khuôn phép cổ điển và hơi thở đời thường. Thể thơ thất ngôn bát cú vốn trang trọng nhưng được Nguyễn Khuyến sử dụng với ngôn ngữ rất dân dã. Những từ “chửa”, “mới”, “vừa”, “đương”, những hình ảnh ao cá, vườn gà, bầu, mướp… khiến bài thơ như bước thẳng ra từ một căn nhà quê. Nghệ thuật liệt kê và đối ý tạo nhịp thơ tự nhiên; tiếng cười được tạo ra từ những nghịch lí đời thường. Đặc biệt, kết cấu “cái không” – “cái có” làm nên chiều sâu tư tưởng: càng thiếu thốn vật chất, tình bạn càng hiện lên trọn vẹn. Có lẽ đó chính là điều khiến “Bạn đến chơi nhà” vượt qua giới hạn của thời gian. Bài thơ không chỉ kể chuyện Nguyễn Khuyến và một người bạn của ông, mà còn nói hộ khát vọng muôn đời của con người: được gặp một người có thể đến bên mình mà không cần điều kiện, được ở cạnh nhau mà không phải ngại ngần vì vật chất. Trong một buổi chiều làng quê tưởng như chẳng có gì đặc biệt, Nguyễn Khuyến đã nhận ra một điều rất đẹp: đôi khi món quà lớn nhất mà con người có thể dành cho nhau chính là sự hiện diện chân thành. Và bởi thế, khi câu thơ “ta với ta” khép lại, ta không còn thấy căn nhà thiếu thốn nữa. Ta thấy nơi ấy đầy ắp hơi ấm. Không có trầu mà vẫn có câu chuyện, không có cá gà mà vẫn có niềm vui, không có cao lương mỹ vị mà vẫn có một cuộc gặp gỡ đáng nhớ. Cái nghèo của vật chất đã nhường chỗ cho sự giàu có của tình người. Đó chính là vẻ đẹp giản dị mà bất tử của “Bạn đến chơi nhà”. Bài tham khảo Mẫu 3 Trong đời sống của mỗi con người, có những mối quan hệ được tạo nên bởi hoàn cảnh, có những cuộc gặp gỡ bắt đầu từ lợi ích, nhưng cũng có những tình bạn tồn tại chỉ bởi một sự đồng điệu âm thầm giữa hai tâm hồn. Khi ấy, con người tìm đến nhau không vì một món quà, một bữa ăn hay một sự đáp đền nào cả. Họ đến chỉ vì muốn gặp nhau. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một thi phẩm đẹp về thứ tình cảm như vậy. Bằng giọng thơ tự nhiên, hóm hỉnh mà đằm sâu, nhà thơ đã dựng nên một nghịch lí đầy ý nghĩa: càng không có gì để tiếp bạn, ông càng cho thấy mình có một tình bạn đáng quý đến nhường nào. Nguyễn Khuyến vốn là một nhà thơ có tâm hồn gắn bó sâu nặng với làng quê Việt Nam. Thơ ông thường tìm vẻ đẹp trong những điều gần gũi: một hồ nước, một mái nhà, một khu vườn, một buổi chiều thu. Nhưng điều đặc biệt ở “Bạn đến chơi nhà” là cảnh quê không đứng riêng như một bức tranh thiên nhiên mà trở thành phông nền cho tình người. Ao, vườn, cá, gà, rau quả… tất cả đều góp phần kể câu chuyện về một cuộc gặp gỡ. Câu thơ đầu tiên mở ra toàn bộ mạch cảm xúc: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Không có những lời chào hỏi kiểu cách, nhà thơ đi thẳng vào điều cốt lõi: bạn đã đến. “Đã bấy lâu nay” gợi thời gian xa cách; “bác tới nhà” lại gợi sự hội ngộ. Hai vế tưởng đơn sơ nhưng đặt cạnh nhau đã tạo nên sự chuyển động của cảm xúc: từ mong chờ đến vui mừng, từ xa cách đến gần gũi. Đáng chú ý hơn cả là cách xưng hô “bác”. Chỉ một đại từ nhưng đã xác lập cả một thế giới quan hệ. Đó không phải tiếng gọi xa lạ mà là cách gọi của sự thân tình. Nó khiến bài thơ mang dáng dấp của một cuộc trò chuyện hơn là một sáng tác bác học. Nguyễn Khuyến dường như không “làm thơ” về tình bạn; ông chỉ nói với bạn bằng tất cả sự tự nhiên của một người đang vui vì gặp lại người tri kỉ. Nhưng ngay sau niềm vui ấy, nhà thơ lại bắt đầu kể về những khó khăn trong việc tiếp khách: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ba câu thơ tạo thành một chuỗi tình huống liên tiếp. Muốn đi chợ thì chợ xa, muốn sai người thì trẻ đi vắng; muốn bắt cá thì ao sâu nước lớn; muốn bắt gà thì vườn rộng rào thưa. Cái tài của Nguyễn Khuyến nằm ở cách ông biến sự thiếu thốn thành một trò đùa nhẹ nhàng. Ở đây, nhà thơ không than nghèo. Ông thậm chí còn không nói trực tiếp rằng mình nghèo. Trái lại, ông kể ra những thứ mình có: có ao, có cá, có vườn, có gà. Nhưng trớ trêu thay, tất cả đều không thể trở thành món ăn trong lúc này. Như vậy, tiếng cười của bài thơ được tạo nên từ sự “có mà như không”. Cái duyên của Nguyễn Khuyến chính là ở chỗ ông nhìn hoàn cảnh bằng một tâm thế ung dung. Người đọc cười cùng ông chứ không thương hại ông. Nếu ba câu trên nói đến những thứ có thể bắt được nhưng lại không bắt được, thì hai câu tiếp theo nói đến những thứ đang lớn lên nhưng chưa thể thu hoạch: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Đây là một trong những đoạn thơ đậm hồn quê nhất của Nguyễn Khuyến. Không gian dường như mở rộng từ căn nhà ra khu vườn. Những luống cải, cây cà, dây bầu, giàn mướp hiện lên trong những trạng thái rất cụ thể. Cách lựa chọn từ ngữ “chửa”, “mới”, “vừa”, “đương” tạo nên cảm giác mọi thứ đều đang chuyển động. Cây cối chưa đến mùa thu hoạch nhưng lại đang sống trong một mùa xanh non đầy sức sống. Qua đó, người đọc không chỉ thấy sự thiếu thốn mà còn thấy một đời sống nông thôn bình dị. Đó là thế giới mà con người gần gũi với đất đai, tự trồng rau, nuôi gà, thả cá; cuộc sống không dư dả nhưng thanh sạch và yên bình. Những thứ nhỏ bé ấy đi vào thơ Nguyễn Khuyến không phải như những vật trang trí mà như những mảnh đời thân thuộc. Sau hàng loạt cái “không thể”, câu thơ thứ bảy dường như đóng lại mọi khả năng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Ngay cả trầu – thứ gần như tối thiểu trong một cuộc tiếp khách theo phong tục xưa – cũng không có. Nhưng đây chính là lúc người đọc nhận ra một nghịch lí quan trọng: nhà thơ không cần bất cứ thứ gì trong số đó để chứng minh tình bạn. Nếu một tình bạn phải dựa vào mâm cao cỗ đầy, nó sẽ dễ dàng bị vật chất chi phối. Nhưng nếu hai con người có thể ngồi bên nhau khi chẳng có gì để thiết đãi, tình bạn ấy mới thực sự đạt đến sự chân thành. Và Nguyễn Khuyến đã dành cho điều ấy câu kết giản dị mà bất hủ: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Câu thơ như một nốt nhạc ngân lên sau cả một chuỗi âm thanh hóm hỉnh. Từ “bác” ở đầu bài được lặp lại ở cuối bài, tạo thành sự bao bọc của tình cảm. Còn “ta với ta” chính là điểm kết tinh của toàn bộ tư tưởng. Hai chữ “ta” đứng cạnh nhau có thể hiểu là nhà thơ và người bạn. Nhưng điều đáng nói là giữa hai “ta” ấy dường như không còn khoảng cách. Chủ và khách, người tiếp và người được tiếp, hai cái tôi riêng biệt cùng hòa vào một sự đồng cảm. Họ không cần một món ăn làm cầu nối bởi chính tình bạn đã là chiếc cầu nối vững chắc nhất. Đặt “ta với ta” trong mạch bài thơ, ta càng thấy sức mạnh của câu kết. Bảy câu thơ trước liên tục dựng lên những cái thiếu: thiếu người đi chợ, thiếu khả năng bắt cá, khó bắt gà, rau quả chưa dùng được, đến trầu cũng không có. Nhưng câu cuối lại xuất hiện một cái “có” lớn lao. Đó là có người bạn đang ngồi trước mặt; có một cuộc hội ngộ; có sự thấu hiểu; có một tình bạn không cần vật chất làm điều kiện tồn tại. Chính nghệ thuật lấy “cái không” để làm nổi bật “cái có” đã tạo nên chiều sâu cho bài thơ. Đặc sắc hơn nữa là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Nguyễn Khuyến đưa vào thể thơ thất ngôn bát cú những từ ngữ hết sức đời thường. Nếu hình thức thơ mang vẻ cổ điển thì ngôn ngữ lại gần với lời nói dân gian. Sự kết hợp ấy khiến bài thơ vừa có tính hàm súc của thơ Đường luật vừa có hơi thở tươi rói của đời sống Việt Nam. Tiếng cười trong bài không sắc lạnh, không châm biếm mà nhẹ nhàng, hóm hỉnh. Đó là tiếng cười của một người đang vui vì có bạn. Có thể nói, “Bạn đến chơi nhà” là một minh chứng rằng thơ ca không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao. Đôi khi, chỉ một người bạn bước qua cổng nhà cũng đủ làm nên một bài thơ bất hủ. Nguyễn Khuyến đã lấy một cuộc gặp gỡ đời thường để nói về một giá trị không bao giờ cũ: tình bạn chân thành. Khép lại bài thơ, người đọc không còn bận tâm đến việc nhà thơ có cá hay không, có gà hay không, có trầu hay không. Những thứ ấy chỉ là cái cớ để nhà thơ làm nổi bật điều quan trọng nhất. Bởi rốt cuộc, điều người bạn mang đến không phải là nhu cầu được tiếp đãi, mà là niềm vui được gặp một tâm hồn đồng điệu. Và điều Nguyễn Khuyến trao lại cũng không phải một mâm cơm đầy, mà là sự chân thành của một người bạn. “Bạn đến chơi nhà” vì thế giống như một khoảng sân quê trong trẻo, nơi hai con người ngồi cạnh nhau giữa một đời sống thanh đạm. Ngoài kia, rau quả vẫn lớn, mùa màng vẫn trôi, thời gian vẫn đi qua. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, chỉ còn “ta với ta” – hai tâm hồn tìm thấy nhau, hiểu nhau và quý nhau. Chính sự giản dị đến tận cùng ấy đã làm nên vẻ đẹp sâu sắc của bài thơ: khi tình bạn đủ chân thành, mọi lễ vật đều trở nên thừa thãi; bởi món quà quý nhất giữa những người tri kỉ chính là được có nhau trong đời. Bài tham khảo Mẫu 4 Giữa chốn quan trường nhiễu nhương, khi quyết định rũ bỏ áo mão cân đai để về ở ẩn tại vùng quê Yên Đổ thanh bình, Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình một lối sống thanh cao, hòa mình với thiên nhiên và hồn cốt dân tộc. Thế nhưng, đời sống thanh đạm ấy đôi khi lại trở nên vô cùng thi vị, nhất là trong những khoảnh khắc đón người bạn cũ ghé thăm. Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” không đơn thuần là một cuộc hội ngộ thông thường, mà nó mở ra một bức tranh tuyệt mỹ về tình tri kỷ trong sáng, nơi mọi thước đo vật chất đều tan biến trước sự đồng điệu của những tâm hồn lớn. Ngay từ câu thơ mở đầu, bầu không khí của sự chờ mong và niềm hân hoan vỡ òa đã tràn ngập không gian: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Khoảng thời gian "đã bấy lâu nay" chứa đựng biết bao nhung nhớ, khắc khoải của tình bạn tri âm. Cách xưng hô "bác" vừa đậm chất mộc mạc của làng quê Bắc Bộ, vừa ánh lên sự trân trọng, gần gũi tựa người thân máu mủ. Thế nhưng, vừa dứt tiếng reo vui chào đón, nhà thơ lập tức đẩy người đọc vào một tình huống oái oăm đến dở khóc dở cười: gia nhân đi vắng, chợ búa ở chốn xa xôi. Cái hoàn cảnh neo đơn ấy dường như là sự chuẩn bị tinh tế để nhà thơ dẫn dắt người đọc bước vào một màn "kể khổ" đầy nghệ thuật ở các câu tiếp theo. Bức tranh gia cảnh túng thiếu, trống trải được Nguyễn Khuyến phác họa qua một loạt hình ảnh sinh động, gắn liền với nhịp sống thôn dã: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Bằng nghệ thuật liệt kê tăng tiến kết hợp với phép đối xứng chặt chẽ, nhà thơ lần lượt liệt kê tất cả những nguồn cung cấp thực phẩm cơ bản nhất. Nào là ao sâu nước lớn không thể chài cá; vườn rộng rào thưa không tài nào đuổi được gà. Đã vậy, sản vật từ rau củ quả cũng thi nhau "đình công", tất cả đều đang ở độ non trẻ, tiềm năng: rau cải chưa ra cây, quả cà mới chớm nụ, giàn bầu vừa rụng rốn và giàn mướp thì đương độ trổ hoa. Không một thứ gì có thể thu hoạch để làm mâm cỗ đãi khách. Sự túng thiếu chạm đến đỉnh điểm của sự hài hước khi ngay cả miếng trầu – thứ lễ nghĩa tối thiểu mở đầu câu chuyện của người Việt – cũng hoàn toàn trống vắng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Đọc đến đây, ta không thể không mỉm cười trước thái độ tự trào vô cùng hóm hỉnh của nhà thơ Yên Đổ. Ông tự bóc mẽ cái nghèo của mình, phóng đại sự khốn khó thành một trò đùa thông minh để trêu chọc chính bản thân, đồng thời tạo ra một tiếng cười sảng khoái, thâm trầm. Thế nhưng, đằng sau lớp vỏ bọc của sự nghèo túng, trống trải ấy lại là một sự giàu có vô biên về mặt tình cảm, được bừng sáng ở câu thơ kết: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu thơ vang lên như một thứ ánh sáng triết lý chiếu rọi toàn bộ tác phẩm. Chữ "ta" ở đây không tách bạch chủ và khách thành hai thực thể riêng biệt, mà hòa quyện họ lại làm một thể thống nhất, xóa nhòa mọi ranh giới về địa vị, tuổi tác hay vật chất. Bạn đến chơi nhà đâu phải vì mâm cao cỗ đầy, vì những món ngon vật lạ, mà đến vì lòng chân thành, vì sự tri âm tri kỷ hiếm có giữa đời thường. Khép lại bài thơ, Nguyễn Khuyến không chỉ để lại một kiệt tác về nghệ thuật trào lộng và ngôn ngữ dân gian, mà còn gửi gắm một bài học nhân sinh vô giá. Giữa một xã hội mà danh lợi đôi khi làm mờ mắt con người, tình bạn thanh cao trong “Bạn đến chơi nhà” mãi là một góc bình yên, sáng ngời vẻ đẹp nhân văn sâu sắc. Bài tham khảo Mẫu 5 Thi ca trung đại Việt Nam viết về tình bạn không ít, nhưng để lại dư âm sâu lắng, độc đáo và đầy tinh tế như “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến thì quả thực hiếm hoi. Đằng sau những vần thơ có vẻ như đang "than nghèo kể khổ" ấy là một nhân cách thanh cao, một tâm hồn lãng mạn và một cái nhìn trào lộng đầy trí tuệ của bậc đại thi hào cáo quan về ở ẩn tại làng Yên Đổ. Bài thơ mở ra bằng một âm hưởng đầm ấm, tự nhiên như hơi thở của đời sống thường nhật: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Câu thơ đầu tiên như một tiếng reo vui hân hoan của người chủ nhà khi đón vị khách quý sau bao nhiêu ngày xa cách. Khoảng thời gian "đã bấy lâu nay" gợi lên nỗi niềm mong mỏi, chờ đợi mòn mỏi. Tiếng "bác" cất lên vừa thân tình, gần gũi của người nông dân vừa chứa đựng sự kính trọng sâu sắc. Thế nhưng, niềm vui vừa chớm nở thì nhà thơ lập tức đưa ra một loạt những chướng ngại vật về mặt hoàn cảnh. Người giúp việc thì đi vắng, chợ búa lại ở chốn xa xôi, khiến mọi sự chuẩn bị ban đầu trở thành bất khả thi. Sự trớ trêu của hoàn cảnh tiếp tục được đẩy lên cao trào khi nhà thơ dẫn dắt người đọc đi sâu vào không gian vườn tược, ao chuồng của gia chủ: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Bằng tài năng nghệ thuật bậc thầy trong việc sử dụng từ ngữ và nhịp điệu, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một bức tranh gia cảnh "cố cùng hoại tận". Muốn đãi bạn món cá thì ao sâu nước lớn không thể chài; muốn bắt gà thì vườn rộng rào thưa chẳng thể đuổi bắt. Thậm chí, những thức rau trái dân dã vườn nhà cũng đang trong giai đoạn non trẻ: rau cải chưa ra lá, quả cà mới chớm nụ, giàn bầu vừa rụng rốn và giàn mướp thì đương nở hoa vàng rực. Không có bất kỳ sản vật nào có thể thu hái để mâm cơm thêm trọn vẹn. Đỉnh điểm của sự thiếu thốn ấy chính là việc: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Miếng trầu là khởi nguồn của mọi câu chuyện giao tiếp trong văn hóa truyền thống Việt Nam, vậy mà giờ đây cũng hoàn toàn trống vắng. Nhà thơ không hề bi lụy, than thân trách phận, trái lại, ông mỉm cười tự trào, biến cái khốn khó của vật chất thành một tiếng cười hóm hỉnh, duyên dáng và đầy tự hào ngầm. Đó là bản lĩnh của một nhà nho giữ gìn thanh danh, cốt cách giữa cuộc đời nhiều biến động. Thế nhưng, chính cái nền nghèo túng, trống trải đến tội nghiệp ấy lại làm nổi bật lên giá trị cốt lõi của tình bạn chân chính ở câu kết: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu thơ kết như một thứ dung môi hóa giải mọi lo âu, toan tính. Chữ "ta" gắn kết chủ và khách thành một khối nguyên vẹn, không còn khoảng cách sang hèn, không còn sự câu nệ lễ nghĩa phiền toái. Bạn đến với ta không phải vì mâm cao cỗ đầy hay những thứ gia vị tầm thường của đời sống, mà đến vì tấm lòng, vì sự đồng điệu của hai tâm hồn tri kỷ. “Bạn đến chơi nhà” vì thế đã vượt qua giới hạn của một bài thơ thù tạc thông thường để vươn lên thành một biểu tượng cao đẹp về tình bạn. Tác phẩm mãi là minh chứng cho thấy: khi tâm hồn đã chạm đến sự thấu cảm tuyệt đối, mọi thiếu thốn vật chất trên đời bỗng trở nên vô nghĩa. Bài tham khảo Mẫu 6 Đọc lại “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, người ta không chỉ thưởng thức một kiệt tác nghệ thuật của ngôn từ mà còn lắng đọng trước một triết lý sống nhân sinh sâu sắc. Giữa cõi đời biến động, khi con người đôi khi tất bật chạy theo những giá trị vật chất phù phiếm, bài thơ của nhà nho Yên Đổ hiện lên như một khoảng lặng trong trẻo, nhắc nhở chúng ta về giá trị thiêng liêng của một tình bạn chân thành, vượt lên trên mọi khuôn sáo tầm thường. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, không gian của sự sum vầy đã được mở ra bằng một giọng điệu vô cùng tự nhiên, đằm thắm: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Khoảng thời gian đằng đẵng "đã bấy lâu nay" được đền đáp bằng một cuộc hội ngộ tràn đầy niềm vui sướng. Cách gọi "bác" chứa đựng sự trân quý, gắn bó keo sơn. Thế nhưng, nhà thơ không mượn những nghi thức xa hoa để chào mừng bạn, mà thay vào đó là một loạt các lý do đầy oái oăm về sự thiếu thốn của gia cảnh. Người phục vụ không có nhà, chợ ở nơi xa lắc xa lơ, tạo nên một sự bất tiện bề bộn ngay từ phút mở đầu. Bức tranh đời sống tiếp tục được nhà thơ phóng bút phác họa qua không gian sinh hoạt thu nhỏ tại chốn thôn quê: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Bằng nghệ thuật đối lập, liệt kê tăng tiến vô cùng tài tình, Nguyễn Khuyến đã bày ra một danh sách dài những cái "không". Từ ao sâu nước lớn khó lòng chài cá, vườn rộng rào thưa chẳng thể đuổi gà, cho đến những luống rau, giàn quả đều đang trong độ non trẻ, chưa thể thu hái. Không gian ấy hiện lên vừa hoang vắng, vừa nghèo khó đến tột cùng. Sự túng thiếu ấy thậm chí còn chạm đến giới hạn bi hài khi: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Miếng trầu – thứ lễ nghĩa tối thiểu để mở đầu câu chuyện giao tiếp truyền thống – cũng hoàn toàn vắng bóng. Thay vì buồn bã hay ngượng ngùng, Nguyễn Khuyến lại mỉm cười tự cười chính mình bằng một giọng điệu hóm hỉnh, tưng tửng. Đó là tiếng cười của một bậc đại trí, biết vượt lên trên hoàn cảnh bằng một thái độ sống an nhiên, tự tại. Tuy nhiên, toàn bộ sự nghèo túng, trống trải được bày biện ở phần trên bỗng chốc hóa thành hư vô trước sức mạnh của câu thơ kết: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu thơ khép lại bài thơ như một nốt trầm xao xuyến. Cụm từ "ta với ta" là một nhãn tự đắt giá, thể hiện sự hòa quyện tuyệt đối giữa chủ và khách. Lúc này, khoảng cách giữa người với người đã hoàn toàn bị xóa nhòa. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy, vì mâm mỗ linh đình, mà đến vì tình cảm tâm giao tri kỷ, vì sự trong sáng của một tấm lòng hướng về nhau. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú uyển chuyển, nghệ thuật trào lộng tinh tế cùng ngôn ngữ đậm đà bản sắc dân gian, “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến mãi là một tượng đài bất tử. Tác phẩm gửi gắm một thông điệp xanh vượt thời gian: tình bạn chân chính chưa bao giờ đo lường bằng vật chất, mà được khắc tạc bằng sự đồng điệu của những trái tim chân thành. Bài tham khảo Mẫu 7 Trong miền ký ức của mỗi con người, có lẽ luôn tồn tại một cánh cửa mà chỉ những người thân thuộc nhất mới có thể bước qua. Đó là cánh cửa của tình bạn – nơi người ta tìm đến nhau không vì những lễ nghi, không vì những món quà, càng không cần những lời hứa hẹn ồn ào. Chỉ một tiếng gọi, một nụ cười, một buổi ghé thăm cũng đủ làm khoảng cách của tháng năm bỗng chốc tan biến. Đọc “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, ta bắt gặp một cuộc hội ngộ như thế. Giữa căn nhà quê thanh vắng, sau những ngày xa cách, một người bạn trở về. Nhà thơ chẳng có gì để thiết đãi, nhưng dường như chính sự thiếu thốn ấy lại làm hiện lên một điều đầy đặn hơn tất cả: tình bạn chân thành của hai tâm hồn tri kỉ. Nguyễn Khuyến là một trong những gương mặt lớn của thơ ca Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ông yêu quê hương bằng một tình yêu không ồn ào mà thấm sâu vào từng cảnh vật bình dị. Trong thơ ông, làng quê không phải một miền đất xa xôi, được phủ lên bởi những màu sắc lộng lẫy, mà là ao nước, vườn cây, mái nhà, con đường, mùa thu và những con người chất phác. “Bạn đến chơi nhà” cũng bước ra từ thế giới ấy. Nhưng nếu ở nhiều thi phẩm khác, thiên nhiên là nơi nhà thơ gửi gắm nỗi niềm, thì ở đây, cảnh vật trở thành phông nền cho một cuộc gặp gỡ đầy yêu thương. Bài thơ bắt đầu bằng một câu thơ tự nhiên như tiếng lòng vừa bật lên: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Không có lời chào dài, cũng không có những câu chữ cầu kì. Chỉ tám tiếng thôi mà cả một khoảng thời gian xa cách dường như hiện về. “Đã bấy lâu nay” là khoảng trống của những ngày không gặp, là những mùa đi qua trong lặng lẽ. Còn “bác tới nhà” lại là khoảnh khắc khoảng trống ấy được lấp đầy. Cách xưng hô “bác” mang vẻ thân tình, gần gũi, cho thấy đây không phải cuộc viếng thăm xã giao mà là cuộc trở về của một người tri kỉ. Có lẽ bởi vui quá, nhà thơ mới vội vàng kể ngay về hoàn cảnh của mình: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Một bức tranh làng quê mở ra trước mắt người đọc. Có căn nhà, có người thân, có chợ xa, có ao sâu, có cá, có vườn rộng, có gà. Tưởng như mọi thứ đều đủ đầy cho một bữa cơm quê thân mật. Nhưng lạ thay, thứ gì cũng ở đó mà chẳng thứ gì có thể trở thành món ăn. Cái duyên của Nguyễn Khuyến nằm ở chính nghịch lí ấy. Ông không nói mình nghèo, không than thở về cảnh sống thanh đạm. Ông chỉ hóm hỉnh kể từng cái khó: trẻ đi vắng, chợ ở xa; cá có nhưng ao sâu; gà có nhưng vườn rộng, rào thưa. Mỗi câu thơ như một nụ cười nhẹ. Đằng sau nụ cười ấy là một tâm hồn bình thản, không để vật chất trở thành thước đo của tình cảm. Rồi ánh mắt nhà thơ như chậm lại nơi khu vườn: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Đây có lẽ là những câu thơ đẹp nhất khi Nguyễn Khuyến đưa cả khu vườn quê vào cuộc gặp gỡ của hai người bạn. Cải còn non, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp còn đương hoa. Mọi thứ đều đang ở giữa một mùa sinh trưởng. Những luống rau, giàn bầu, giàn mướp không chỉ gợi cái thiếu thốn của một bữa ăn mà còn gợi nhịp sống dịu dàng của thôn quê. Ta có thể hình dung buổi gặp ấy giữa một khoảng vườn xanh. Có những dây mướp vươn mình đón nắng, những bông hoa nhỏ rung rinh trong gió, những luống rau còn non và những quả bầu chưa đến độ hái. Thiên nhiên dường như cũng đang chứng kiến cuộc hội ngộ. Nhà thơ chẳng có gì để bày lên mâm, nhưng khu vườn vẫn âm thầm dâng tặng một vẻ đẹp khác – vẻ đẹp của sự sống và bình yên. Nếu những câu thơ trước là sự thiếu thốn có phần hài hước, thì đến: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” cái thiếu dường như đã đi đến tận cùng. Trầu vốn là thứ giản dị nhất trong một cuộc tiếp khách truyền thống. Không có trầu, nghĩa là đến lễ nghi tối thiểu cũng không còn. Nhưng cũng chính lúc này, bài thơ chuẩn bị bước sang một tầng ý nghĩa khác. Bởi Nguyễn Khuyến đâu thực sự cần một món ăn để giữ chân bạn. Điều ông cần chính là một người có thể ngồi bên mình mà không cần bất cứ thứ gì làm cầu nối. Vì thế, câu kết vang lên nhẹ nhàng mà sâu thẳm: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Bốn chữ “ta với ta” giống như một khoảng lặng đẹp sau tiếng cười. Bảy câu thơ trước cứ lần lượt kể về những cái không có, nhưng câu cuối lại khiến người đọc nhận ra: hóa ra căn nhà này không hề trống rỗng. Nó có một tình bạn đầy đặn đến mức không cần vật chất tô điểm. “Ta” là nhà thơ, “ta” cũng là người bạn. Hai chữ giống nhau nhưng không trùng lặp; chúng đứng cạnh nhau như hai con người độc lập nhưng cùng chung một nhịp đập của tình cảm. Khoảng cách giữa chủ và khách biến mất. Không còn chuyện ai tiếp ai, ai cho ai. Chỉ còn hai người ngồi bên nhau, cùng chia sẻ sự thân thuộc của những tâm hồn đã hiểu nhau từ lâu. Nếu “ta với ta” trong “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là cái tôi đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn, thì “ta với ta” của Nguyễn Khuyến lại là hai cái tôi tìm thấy nhau giữa cuộc đời. Một bên là khoảng trống, một bên là sự đầy đặn. Một bên là cô độc, một bên là tri kỉ. Chỉ một sự khác biệt nhỏ trong ngữ cảnh mà sắc thái tình cảm đã thay đổi hoàn toàn. Đặc sắc của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật. Nguyễn Khuyến sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú – một thể thơ vốn nghiêm ngặt – nhưng lại thổi vào đó hơi thở đời thường. Những hình ảnh ao cá, vườn gà, cải, cà, bầu, mướp, trầu đều rất gần gũi. Ngôn ngữ dân dã khiến bài thơ giống như một lời trò chuyện. Nghệ thuật liệt kê hàng loạt cái “không” tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, nhưng đồng thời cũng là cách nhà thơ làm nổi bật một cái “có” lớn lao ở cuối bài. Có thể nói, Nguyễn Khuyến đã làm một điều thật tài tình: ông lấy sự thiếu thốn của vật chất để đo chiều sâu của tình cảm. Càng không có món ăn, tình bạn càng hiện lên rõ ràng. Càng không có lễ vật, cuộc gặp càng trở nên tự nhiên. Càng không có khoảng cách của chủ – khách, hai người càng gần nhau. “Bạn đến chơi nhà” vì thế không chỉ là bài thơ về một người bạn ghé thăm. Đó là bài thơ về sự trở về của một tâm hồn với một tâm hồn khác. Trong một thế giới mà con người đôi khi dễ quên nhau giữa những bộn bề, Nguyễn Khuyến nhắc ta rằng điều quý giá nhất trong một mối quan hệ không nằm ở những gì ta có thể trao bằng tay, mà nằm ở những gì ta có thể trao bằng trái tim. Và khi câu thơ cuối khép lại, ta bỗng thấy căn nhà nhỏ của Nguyễn Khuyến như sáng lên. Không có cá, không có gà, không có rau quả đủ đầy, thậm chí không có cả miếng trầu. Nhưng có tiếng cười, có sự đồng điệu, có một người bạn đã vượt qua khoảng cách tháng năm để tìm về. Căn nhà ấy nghèo vật chất mà giàu tình nghĩa. Khu vườn ấy chưa kịp cho quả ngọt, nhưng tình bạn đã kết thành một trái ngọt đẹp đẽ của đời người. Có lẽ vì thế mà sau bao mùa lá rụng, “Bạn đến chơi nhà” vẫn còn ở lại. Bởi trong tận cùng của sự giản dị, Nguyễn Khuyến đã nói được một điều rất lớn lao: khi hai tâm hồn thực sự là tri kỉ, chỉ cần ngồi cạnh nhau thôi cũng đã là một cuộc đời đủ đầy. Bài tham khảo Mẫu 8 Thời gian giống như một dòng sông lặng lẽ. Nó cuốn theo những mùa hoa, những mái tóc, những bước chân và cả những cuộc gặp gỡ tưởng chừng rất đỗi bình thường. Nhưng có những tình bạn lại không trôi theo dòng nước ấy. Càng xa cách, càng được thử thách bởi năm tháng, tình bạn chân thành càng trở nên trong trẻo. Đọc “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, ta như bắt gặp một khoảnh khắc thời gian bất chợt đứng yên: một người bạn lâu ngày trở lại, cánh cửa nhà quê mở ra, và hai tâm hồn từng gắn bó lại tìm thấy nhau trong một buổi gặp không có mâm cao cỗ đầy, chỉ có sự chân thành làm điểm tựa. Câu thơ đầu tiên vang lên nhẹ như một tiếng gọi từ miền ký ức: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Người bạn đã xa bao lâu? Nhà thơ không nói. Nhưng chính sự không xác định ấy lại khiến khoảng thời gian xa cách trở nên mênh mang. “Đã bấy lâu nay” có thể là những ngày, những tháng, những mùa, thậm chí là cả một quãng đời. Và sau tất cả, người bạn vẫn tìm đến. Chỉ một chữ “bác” cũng đủ gói ghém biết bao sự gần gũi. Đó là thứ tình bạn không cần phải gọi tên quá nhiều, bởi chỉ cần một cuộc ghé thăm cũng đủ khiến niềm vui ùa về. Nhưng Nguyễn Khuyến không đón bạn bằng một mâm cơm thịnh soạn. Ông đón bạn bằng chính sự thật thà của đời sống: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Một câu thơ như lời phân trần vui vẻ. Người bạn đến đúng lúc nhà vắng trẻ, chợ lại xa. Cánh cửa của sự chuẩn bị dường như đã khép lại. Nhưng rồi nhà thơ lại nhìn quanh và nhận ra: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Cá ở ao mà không thể bắt. Gà ở vườn mà không thể đuổi. Những điều tưởng như gần trong gang tấc lại trở nên xa xôi. Cách nói của Nguyễn Khuyến khiến ta bật cười, nhưng đó là nụ cười ấm áp. Nhà thơ không cố giấu đi sự thiếu thốn mà cũng chẳng hề mặc cảm về nó. Ông kể với bạn như kể một chuyện vui trong nhà. Có lẽ giữa những người tri kỉ, sự thật thà chính là một hình thức thân mật. Không cần tô vẽ. Không cần che đậy. Người bạn đến thì cứ ngồi xuống. Nhà có gì thì nói có, không có thì nói không. Bởi tình bạn đủ sâu để không bị tổn thương bởi những điều nhỏ bé ấy. Khu vườn tiếp tục được gọi tên: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Nếu đọc chậm những câu thơ này, ta sẽ thấy một thế giới quê hương dịu dàng hiện ra. Những luống cải còn non, cây cà mới hé nụ, dây bầu vừa kết trái, giàn mướp đang nở hoa. Không gian ấy không chỉ là nơi nhà thơ sống mà còn là nơi tâm hồn ông trú ngụ. Điều đặc biệt là Nguyễn Khuyến không chọn những hình ảnh cao sang để làm thơ. Ông chọn những thứ rất nhỏ bé: một cây cà, một quả bầu, một giàn mướp. Nhưng dưới ngòi bút của ông, những điều bình thường ấy trở nên có hồn. Chúng mang theo nhịp sống của đồng quê, mang màu xanh của những mùa vụ, mang cả sự bình yên của một con người đã tìm về cuộc sống giản dị. Khu vườn ấy dường như cũng đang nói với người đọc rằng: có những điều trong đời cần phải chờ đợi. Rau cần một mùa mới lớn. Quả cần một mùa mới chín. Tình bạn cũng vậy, cần tháng năm để trở thành tri kỉ. Những gì quý giá thường không đến vội vàng. Nhưng rồi nhà thơ chợt nhận ra ngay cả thứ đơn sơ nhất cũng chẳng có: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Câu thơ như một nụ cười bật ra. Trầu – thứ mở đầu cho câu chuyện – cũng không có. Nếu tiếp khách là một nghi lễ, Nguyễn Khuyến gần như không có bất cứ điều gì để thực hiện nghi lễ ấy. Nhưng chính sự “không có” lại khiến cuộc gặp trở nên chân thực hơn bao giờ hết. Người bạn đến đây đâu phải để được tiếp đãi. Người bạn đến để gặp người bạn của mình. Và đó chính là nơi câu thơ cuối trở thành một sự kết tinh: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” “Ta với ta” là một câu thơ tưởng như giản dị mà có chiều sâu kỳ lạ. Hai chữ “ta” đứng cạnh nhau, như hai bóng người cùng ngồi dưới một mái nhà. Nhưng càng đọc, ta càng cảm nhận được sự xóa nhòa khoảng cách. Chủ và khách không còn đối lập. Cho và nhận cũng không còn ranh giới. Hai con người dường như cùng bước vào một không gian tinh thần chung – nơi chỉ có sự thấu hiểu. Tình bạn ở đây không cần vật chất làm chứng. Nó tự chứng minh bằng sự hiện diện. Không cần rượu, vì cuộc trò chuyện đã đủ say. Không cần trầu, vì câu chuyện đã tự nhiên bắt đầu. Không cần cá, gà, rau quả, vì niềm vui gặp bạn đã là một bữa tiệc tinh thần. Chính vì vậy, câu thơ cuối có sức nâng toàn bộ bài thơ. Nếu chỉ đọc bảy câu đầu, ta có thể nghĩ đây là một câu chuyện về sự thiếu thốn. Nhưng đọc đến câu cuối, ta nhận ra Nguyễn Khuyến chưa từng muốn nói về cái nghèo. Ông đang nói về một thứ giàu có khác – sự giàu có của tình người. Nghệ thuật của bài thơ cũng đặc biệt ở chỗ đó. Thể thơ thất ngôn bát cú vốn có cấu trúc chặt chẽ, nhưng Nguyễn Khuyến đã làm cho nó trở nên mềm mại như lời nói. Các hình ảnh được lấy từ đời sống hàng ngày. Những cặp câu đối vừa tạo nên sự cân xứng của thể thơ vừa làm tiếng cười bật ra tự nhiên. Đặc biệt, nghệ thuật liệt kê hàng loạt cái “không” chính là một thủ pháp tưởng đơn giản mà rất sâu sắc: càng kể nhiều thứ không có, tác giả càng chuẩn bị cho sự xuất hiện của một thứ có giá trị hơn tất cả – tình bạn. Nếu vật chất có thể đem ra cân đong, tình cảm lại không có một chiếc cân nào đủ sức đo. Một mâm cơm có thể đầy rồi vơi. Một món quà có thể được trao rồi mất. Nhưng sự chân thành giữa những người tri kỉ có thể ở lại qua rất nhiều năm tháng. Nguyễn Khuyến đã nhìn thấy điều ấy bằng một tâm hồn tinh tế. Có lẽ vì vậy, “Bạn đến chơi nhà” vẫn khiến người đọc hôm nay rung động dù đã đi qua một thời đại rất xa. Bởi ai trong chúng ta cũng từng mong có một người bạn như thế – một người có thể bước vào nhà khi ta chẳng kịp chuẩn bị, ngồi xuống bên ta mà không cần câu nệ, và khiến ta hiểu rằng mình được yêu quý không phải bởi những gì mình có, mà bởi chính con người mình. Khép lại bài thơ, hình ảnh “ta với ta” cứ ở lại như hai ngọn đèn nhỏ trong một căn nhà quê yên tĩnh. Ngoài kia có thể là dòng đời rộng lớn, có thể là những đổi thay không ngừng của thời gian. Nhưng nơi đây, trong khoảnh khắc bạn tìm về, mọi thứ dường như lắng xuống. Chỉ còn hai con người và một tình cảm không cần gọi tên quá nhiều. Nguyễn Khuyến đã khiến một cuộc gặp gỡ bình thường trở thành một bài ca đẹp về tình bạn. Và có lẽ, vẻ đẹp lớn nhất của bài thơ chính là sự giản dị: khi tình cảm đã đủ sâu, người ta không cần mang theo điều gì đến với nhau; chỉ cần mang theo một tấm lòng. Bài tham khảo Mẫu 9 Có những thứ càng nhiều càng trở nên bình thường, nhưng cũng có những thứ càng giản dị lại càng trở nên quý giá. Một bữa cơm có thể được nhớ trong một ngày, một món quà có thể khiến người ta vui trong một khoảnh khắc, nhưng một tình bạn chân thành có thể trở thành miền ký ức theo con người suốt cả cuộc đời. Trong “Bạn đến chơi nhà”, Nguyễn Khuyến đã không dựng lên một cuộc gặp gỡ bằng những gì sang trọng. Ông để người bạn bước vào ngôi nhà của mình giữa một hoàn cảnh gần như không có gì để tiếp đãi. Và chính từ cái nền tưởng như nghèo nàn ấy, nhà thơ đã làm nở rộ một đóa hoa tình bạn đẹp đến nao lòng. “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Câu thơ mở đầu giống như một tiếng thở phào của niềm vui sau những tháng ngày xa cách. “Đã bấy lâu nay” là thời gian đã đi qua, còn “bác tới nhà” là sự trở về của tình thân. Không cần nói nhớ, câu thơ vẫn có nỗi nhớ. Không cần nói vui, người đọc vẫn nghe được niềm vui. Bởi đôi khi cảm xúc chân thành nhất không nằm trong những lời trực tiếp mà ẩn sau cách con người gọi tên nhau. Chữ “bác” khiến khoảng cách giữa hai người lập tức được thu hẹp. Đó là một cách gọi bình dị nhưng chứa đựng sự thân thiết. Nhà thơ không đón bạn bằng ngôn ngữ của những nghi lễ trang trọng mà bằng chính tiếng nói của đời sống. Bởi vậy, bài thơ ngay từ đầu đã có một vẻ đẹp rất riêng: vẻ đẹp của sự tự nhiên. Nhưng niềm vui vừa đến đã gặp một tình huống thật đáng cười: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Những câu thơ nối nhau như những lần nhà thơ “thử tìm” một thứ gì đó để tiếp bạn. Nhưng càng tìm, càng thấy không thể. Chợ ở xa. Người đi chợ lại vắng. Cá có nhưng ao sâu. Gà có nhưng vườn rộng. Một cuộc tiếp khách tưởng đơn giản bỗng trở thành bài toán không có lời giải. Thế nhưng điều đáng quý là Nguyễn Khuyến không hề biến hoàn cảnh thành lời than. Trái lại, ông nhìn nó bằng ánh mắt hài hước. Tiếng cười ấy khiến sự nghèo khó trở nên nhẹ tênh. Đó là thái độ sống của một con người không để vật chất quyết định giá trị của mình. Đằng sau những câu thơ tưởng như chỉ để kể chuyện, ta còn bắt gặp hình ảnh một Nguyễn Khuyến gắn bó với đời sống nông thôn. Ao và vườn không phải những hình ảnh trang trí mà là không gian sống thực của ông. Cá, gà, rau quả là những gì gần gũi nhất. Vì vậy, bài thơ có một mùi hương rất riêng – mùi của đất, của vườn, của cuộc sống thanh đạm nơi làng quê. Hai câu thơ: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, lại mở ra một sắc màu khác. Nếu ba câu trên khiến người đọc bật cười thì hai câu này khiến lòng người dịu xuống. Những luống cải còn non. Những cây cà vừa mới nụ. Những dây bầu, dây mướp còn đang ở độ đầu mùa. Tất cả đều chưa thành quả, nhưng chính sự chưa thành ấy lại gợi một vẻ đẹp rất thơ. Thiên nhiên trong bài thơ không đứng yên. Nó đang lớn lên từng ngày, đang âm thầm chuẩn bị cho một mùa quả ngọt. Phải chăng tình bạn cũng giống như khu vườn ấy? Nó không phải thứ có thể vội vàng tạo dựng. Một mối quan hệ muốn trở thành tri kỉ cần được vun bồi bằng thời gian, bằng những lần sẻ chia, bằng sự chân thành không tính toán. “Đã bấy lâu nay” ở đầu bài và “ta với ta” ở cuối bài như hai bờ của một dòng sông: giữa chúng là khoảng thời gian đủ dài để tình bạn được thử thách và lắng đọng. Nhưng rồi ngay cả miếng trầu cũng không có: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Trầu vốn là thứ bình dị mà thiêng liêng trong văn hóa Việt. Nó mở đầu cho câu chuyện, mở đầu cho sự giao tiếp, mở đầu cho những mối thân tình. Thế mà ở đây, “trầu không có”. Một lần nữa, nhà thơ lại đẩy hoàn cảnh vào một cái thiếu tưởng như không thể cứu vãn. Nhưng thật ra, cuộc gặp này chưa bao giờ cần được cứu vãn. Bởi nó không được xây dựng trên vật chất ngay từ đầu. Câu kết xuất hiện như một cánh cửa mở vào chiều sâu của tình bạn: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Sau bảy câu thơ nói về những thứ không có, chữ “ta” xuất hiện. Không phải cá, không phải gà, không phải rau, không phải trầu. Chỉ có “ta”. Nhưng chính “ta” mới là điều nhà thơ muốn trao cho bạn. “Ta với ta” là hai con người, nhưng lại như một thế giới chung. Một “ta” là Nguyễn Khuyến, một “ta” là người bạn. Hai người ngồi cạnh nhau mà không cần bất cứ thứ gì để chứng minh sự thân thiết. Họ có thể cùng cười trước sự thiếu thốn, cùng trò chuyện về những chuyện đời thường, cùng im lặng mà vẫn không thấy ngượng ngùng. Đó là thứ tình bạn đã vượt qua hình thức để chạm đến bản chất. Nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy câu thơ còn chứa một quan niệm sống đẹp. Con người thường có xu hướng dùng vật chất để đo lòng người: quà tặng có giá bao nhiêu, bữa ăn sang trọng thế nào, cách tiếp đón long trọng ra sao. Nhưng Nguyễn Khuyến lại đặt tất cả những thứ ấy sang một bên. Với ông, giá trị của một người bạn không nằm ở những gì người ấy mang đến hay những gì ta có thể đãi người ấy, mà nằm ở việc hai tâm hồn có thể thực sự ở bên nhau hay không. Đó cũng là lí do bài thơ mang vẻ đẹp vượt thời gian. Xã hội có thể thay đổi, những ngôi nhà có thể khác đi, cách con người tiếp khách có thể không còn giống ngày xưa, nhưng nhu cầu được thấu hiểu và được sẻ chia thì vẫn nguyên vẹn. Bất cứ ai từng có một người bạn thật sự đều có thể nhận ra mình trong câu thơ “ta với ta”. Về nghệ thuật, Nguyễn Khuyến đã kết hợp nhuần nhuyễn chất cổ điển với chất dân gian. Thể thơ thất ngôn bát cú tạo nên một khuôn khổ chặt chẽ, nhưng ngôn ngữ lại rất đời thường. Các hình ảnh ao, vườn, cá, gà, cải, cà, bầu, mướp, trầu khiến bài thơ mang đậm hồn quê. Phép đối trong những câu thơ giữa vừa tạo sự cân xứng vừa làm nổi bật cái duyên hài hước. Đặc biệt, thủ pháp tương phản giữa “không có gì” và “có một tình bạn” khiến tư tưởng của bài thơ trở nên sâu sắc mà không cần lời bình luận dài dòng. Có thể nói, Nguyễn Khuyến đã biến một căn nhà không có món ngon thành một không gian đầy ắp tình người. Ông biến một cuộc tiếp khách không có lễ vật thành một cuộc hội ngộ có ý nghĩa. Và ông biến bốn chữ “ta với ta” thành biểu tượng cho một tình bạn trong sáng, không vụ lợi. Đọc bài thơ, ta bỗng hiểu rằng trong đời người, có những cuộc gặp không cần phải chuẩn bị. Một người bạn thật sự có thể đến khi căn bếp còn trống, khu vườn chưa có quả, trên bàn không có lấy một miếng trầu. Nhưng sự hiện diện của họ vẫn khiến căn nhà trở nên ấm áp. Bởi sau cùng, thứ làm nên một cuộc gặp đáng nhớ chưa bao giờ là những món ăn được đặt trên bàn. Đó là những câu chuyện được sẻ chia, những kỉ niệm được đánh thức, những khoảng lặng không cần lấp đầy. Và trên tất cả, đó là cảm giác được ở cạnh một người mà ta có thể hoàn toàn là chính mình. “Bạn đến chơi nhà” vì thế giống như một đóa hoa mọc lên từ mảnh đất rất đỗi bình dị. Không rực rỡ, không phô trương, nhưng càng ngắm càng thấy hương thơm. Nguyễn Khuyến đã để lại cho thơ ca không chỉ một bài thơ về tình bạn, mà còn một lời nhắn nhủ dịu dàng về cách con người nên đối đãi với nhau: hãy đến với nhau bằng tấm lòng, bởi khi tình cảm đủ chân thành, hai chữ “ta với ta” đã có thể trở thành một thế giới trọn vẹn. Bài tham khảo Mẫu 10 Giữa chốn bão giông của cuộc đời và quan trường nhiều danh lợi, Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình chốn ẩn dật bình yên tại mảnh đất Yên Đổ. Ở nơi làng quê nghèo khó ấy, tâm hồn của nhà thơ lớn dường như càng trở nên trong trẻo, khoáng đạt hơn. Và bài thơ “Bạn đến chơi nhà” chính là một nốt nhạc trữ tình, trong trẻo và đẹp đẽ nhất cất lên từ tấm lòng của một bậc túc nho dành cho người bạn tri âm. Bài thơ mở ra bằng một âm hưởng đầm ấm, dịu ngọt như tiếng lòng đang thổn thức sau chuỗi ngày dài mong ngóng: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Khoảng thời gian "đã bấy lâu nay" chứa đựng biết bao nỗi niềm hoài niệm và sự chờ đợi mòn mỏi. Tiếng "bác" vang lên không chỉ là cách xưng hô thân mật của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà còn gói gọn cả một bầu trời thương quý, gắn bó keo sơn. Thế nhưng, vừa dứt tiếng reo vui chào đón, nhà thơ lại mỉm cười đặt ra một loạt những "cớ sự" oái oăm: người giúp việc đi vắng, chợ búa lại ở chốn xa xôi, như để thử thách duyên hội ngộ. Và rồi, bức tranh gia cảnh túng thiếu, đạm bạc của nhà thơ hiện lên qua một không gian đậm chất hội họa làng quê: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Dưới ngòi bút lãng mạn của Nguyễn Khuyến, sự thiếu thốn vật chất lại được phác họa bằng một thứ ánh sáng thơ mộng lạ thường. Ao sâu nước lớn không thể chài cá; vườn rộng rào thưa chẳng thể đuổi gà. Đã thế, vạn vật trong vườn từ luống cải, khóm cà cho đến giàn bầu, giàn mướp đều đang độ đơm hoa, nảy lộc, chớm nụ chứ chưa thể thu hái. Không có lấy một sản vật sang trọng để dọn mâm cỗ đãi bạn. Sự nghèo túng ấy chạm đến đỉnh điểm khi ngay cả miếng trầu – thứ lễ nghĩa tối thiểu để mở đầu câu chuyện của người Việt – cũng vắng bóng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Thế nhưng, chính trong cái nền nghèo túng, trống trải ấy, tiếng cười tự trào của nhà thơ lại vang lên thật hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Ông không hề chạnh lòng hay ngượng ngùng, trái lại, ông tự bóc mẽ cái nghèo của mình như một trò đùa đáng yêu giữa những người tri kỷ. Để rồi, mọi sự chuẩn bị nghèo nàn, mọi khoảng cách về vật chất ấy bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một thứ ánh sáng rực rỡ tỏa ra từ câu thơ kết: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Cụm từ "ta với ta" là một nhãn tự tuyệt mĩ, gói gọn toàn bộ triết lý và vẻ đẹp của bài thơ. Chủ và khách lúc này không còn là hai thực thể cách biệt, mà đã hòa quyện làm một thể thống nhất, nguyên sơ và tuyệt đối. Bạn đến chơi nhà đâu phải vì mâm cao cỗ đầy hay những thức quà xa hoa, mà đến vì sự đồng điệu của hai tâm hồn thanh cao, vì tấm lòng chân thành hướng về nhau. Khép lại bài thơ, Nguyễn Khuyến để lại cho đời một bức tranh tuyệt đẹp về tình bạn trong sáng, vượt lên trên mọi bộn bề, toan tính của nhân gian. Bài tham khảo Mẫu 11 Đọc “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, ta có cảm giác như được bước vào một không gian tĩnh lặng, nơi những vồn vã của cuộc đời ngoài kia bị chặn lại ở lũy tre làng. Ở đó, chỉ có hương thơm của lá cải, sắc vàng của hoa mướp và trên hết là tình bạn tri âm, tri kỷ trong trẻo, thơ mộng đến nao lòng. Bài thơ bắt đầu bằng một tiếng reo vui, một nhịp đập thổn thức của trái tim người chủ nhà khi đón vị khách quý ghé thăm sau bao ngày xa cách: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Cụm từ "đã bấy lâu nay" như một thước phim quay chậm, đánh thức những nhớ mong, hoài niệm. Cách gọi "bác" mang theo sự trân trọng, trìu mến đến vô cùng. Nhưng ngay sau tiếng chào mừng ấy là một loạt những lời "kể khổ" vô cùng đáng yêu: người đi vắng, chợ ở xa, tạo nên một tình huống trớ trêu nhưng cũng đầy thi vị. Bức tranh thiên nhiên và đời sống quanh nhà được Nguyễn Khuyến phác họa bằng những nét vẽ mộc mạc, đậm chất thơ: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Cả một thiên nhiên đang vào độ sinh sôi, nảy nở nhưng lại... chưa thể dùng được để đãi khách! Ao sâu nước lớn không chài được cá, vườn rộng rào thưa không đuổi được gà. Những luống rau cải chưa kịp lớn, khóm cà vừa chớm nụ hoa, giàn bầu mới rụng rốn và giàn mướp thì đương độ nở hoa vàng rực rỡ. Nhà thơ liệt kê một danh sách dài những cái "không", biến cái nghèo thành một bức tranh thiên nhiên làng quê đầy sức sống. Đỉnh điểm của sự thiếu thốn ấy chính là việc: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Ngay cả miếng trầu cau – thứ mở đầu câu chuyện truyền thống – cũng trống vắng. Đọc đến đây, ta không thấy sự bi lụy, nghèo khổ nặng nề, mà chỉ thấy một nụ cười hóm hỉnh, một sự an nhiên tự tại của một bậc đại trí ẩn dật. Và rồi, vượt lên trên tất cả những thiếu thốn vật chất ấy, câu thơ cuối cùng cất lên như một lời khẳng định đầy kiêu hãnh và ngọt ngào: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Chữ "ta" gắn kết chủ và khách thành một khối thống nhất, xóa nhòa mọi ranh giới. Gặp nhau ở đây không vì mâm cỗ linh đình, không vì vụ lợi, danh vọng, mà gặp nhau vì tâm hồn đã chạm đến sự thấu cảm tuyệt đối. “Bạn đến chơi nhà” giống như một bức tranh thủy mặc đượm tình người. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, giữa thế gian rộng lớn này, tìm được một người bạn "ta với ta" như thế chính là món quà vô giá nhất của cuộc đời. Bài tham khảo Mẫu 12 Trong kho tàng thơ ca trung đại Việt Nam, viết về tình bạn có rất nhiều bài thơ hay, nhưng để lại dư vị ngọt ngào, lãng mạn và sâu lắng như “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến thì thực sự hiếm hoi. Tác phẩm không chỉ là một bức tranh làng quê thanh bình, mà còn là bản ca ngợi vẻ đẹp của một tình bạn trong sáng, vượt thoát khỏi mọi khuôn sáo và vật chất tầm thường. Ngay từ những câu thơ mở đầu, không gian của cuộc hội ngộ đã ngập tràn cảm xúc hân hoan, đằm thắm: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Khoảng thời gian "đã bấy lâu nay" gợi nhắc sự mong mỏi, khắc khoải của tình tri kỷ. Cách xưng hô "bác" mộc mạc, chân tình thấm đượm tình làng nghĩa xóm. Thế nhưng, thay vì bày biện yến tiệc linh đình để đón bạn, nhà thơ lại khéo léo "trần tình" về một gia cảnh neo đơn, thiếu thốn đủ bề. Bức tranh đời sống được phóng bút qua những hình ảnh bình dị nhưng vô cùng nên thơ của chốn thôn dã: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.” Bằng nghệ thuật liệt kê nhịp nhàng, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một khung cảnh thiên nhiên tươi mới nhưng lại rơi vào thế "lực bất tòng tâm" khi đãi khách. Ao sâu nước lớn không chài được cá, vườn rộng rào thưa khó bắt được gà. Mọi sản vật từ rau cải, quả cà đến giàn bầu, giàn mướp đều đang ở độ non tơ, tiềm năng, chưa thể thu hoạch. Sự thiếu thốn ấy thậm chí còn chạm đến cái "không" cuối cùng: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Đến cả miếng trầu cũng không có để mở đầu câu chuyện. Thế nhưng, qua ngòi bút lãng mạn và hóm hỉnh của nhà thơ Yên Đổ, sự khốn khó ấy không hề bi thương mà trở nên vô cùng đáng yêu, biến thành một tiếng cười tự trào thanh tao, trí tuệ. Và rồi, tất cả những cái "không" ấy bỗng chốc hóa thành "có tất cả" khi đối diện với câu thơ kết trọn vẹn: “Bác đến chơi đây ta với ta.” Câu thơ khép lại bài thơ như một tiếng thở phào nhẹ nhõm, một sự thăng hoa của cảm xúc. Cụm từ "ta với ta" hòa quyện chủ và khách làm một, xóa nhòa mọi khoảng cách của vật chất, địa vị hay tuổi tác. Bạn đến chơi nhà vì tình cảm chân thành, vì sự tri âm tri kỷ hiếm có giữa đời thường. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú uyển chuyển, ngôn ngữ đậm đà hồn dân tộc kết hợp với giọng điệu lãng mạn, hóm hỉnh, “Bạn đến chơi nhà” mãi là một góc bình yên trong tâm hồn mỗi người đọc, tôn vinh giá trị vĩnh cửu của tình bạn chân chính. Bài tham khảo Mẫu 13 Trong đời sống tinh thần của con người, có những cuộc gặp gỡ chỉ được tính bằng vài giờ đồng hồ nhưng lại có sức sống lâu hơn cả năm tháng. Một người bạn bước qua cánh cổng, ngồi xuống bên ta, cùng cười về một chuyện rất nhỏ, rồi ra về; vậy mà khoảnh khắc ấy có thể trở thành một vùng ký ức không bao giờ phai. Có lẽ bởi điều làm nên giá trị của một cuộc gặp không nằm ở những gì được bày ra trên bàn, mà ở những gì được đánh thức trong tâm hồn. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một bài thơ như vậy. Đằng sau câu chuyện tưởng chừng chỉ xoay quanh việc “có gì để đãi bạn” là một quan niệm đẹp về tình bạn: càng chân thành, càng không cần đến những hình thức của vật chất. Nguyễn Khuyến bước vào bài thơ không phải bằng những suy tưởng cao xa mà bằng một lời nói rất đỗi tự nhiên: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Có một sự giản dị gần như tuyệt đối trong câu thơ này. Nhưng chính sự giản dị ấy lại khiến cảm xúc trở nên chân thực. “Đã bấy lâu nay” là một khoảng thời gian không được đo bằng con số. Nó là khoảng cách của những ngày xa cách, của những mùa đã đi qua mà người bạn chưa ghé lại. Bởi thế, “bác tới nhà” không đơn thuần là một thông tin; đó là sự trở về của một người thân thuộc sau một quãng thời gian dài. Đáng chú ý là Nguyễn Khuyến không dùng những từ ngữ trang trọng để diễn tả niềm vui. Ông gọi bạn là “bác”, một cách xưng hô dân dã nhưng hàm chứa sự quý trọng. Trong hai tiếng ấy có cả sự thân mật của người quen lâu năm và sự trân trọng dành cho một người bạn đáng quý. Câu thơ vì vậy giống một lời nói bật ra từ niềm vui hơn là một câu thơ được sắp đặt. Chính chất đời thường ấy đã tạo nên nền tảng cảm xúc cho toàn bài. Nhưng cuộc gặp gỡ càng vui, tình thế của chủ nhà lại càng trở nên “khó xử” theo một cách rất đáng yêu: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Người bạn đến, chủ nhà tất nhiên muốn tiếp đón. Thế nhưng hết trở ngại này đến trở ngại khác xuất hiện. Trẻ đi vắng nên không có người sai đi chợ; chợ lại xa. Cá ở ngay trong ao nhưng ao sâu, nước lớn, không dễ bắt. Gà có sẵn trong vườn nhưng vườn rộng, rào thưa, muốn đuổi cũng chẳng xong. Nếu nhìn bằng con mắt thực tế, đây là một hoàn cảnh khá nghèo nàn. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt của thơ ca, đó lại là một tình huống vô cùng duyên dáng. Nguyễn Khuyến không than thở, càng không tìm cách che giấu. Ông đem chính cái khó ấy ra kể với bạn bằng giọng hóm hỉnh. Người đọc có cảm giác nhà thơ vừa muốn đãi bạn thật chu đáo, vừa bất lực trước những “trở ngại” hết sức đời thường. Điều đáng quý nằm ở thái độ của tác giả. Ông không để sự thiếu thốn biến thành mặc cảm. Một người có thể nghèo vật chất nhưng không nhất thiết nghèo trong tâm thế. Nguyễn Khuyến hiện lên là một con người ung dung, tự nhiên, biết cười trước hoàn cảnh. Tiếng cười ấy không phải tiếng cười để quên đi cái nghèo, mà là tiếng cười của một người không coi cái nghèo là thước đo giá trị của mình. Từ ao cá, vườn gà, cái nhìn của nhà thơ lại hướng vào những gì gần gũi nhất quanh mình: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Nếu ba câu thơ trước gây cười bởi những điều “có mà không thể dùng”, thì hai câu này lại đem đến một sắc thái mềm mại hơn. Cả khu vườn như đang ở giữa mùa sinh trưởng. Cải còn non, cà vừa nụ, bầu mới kết trái, mướp đang trổ hoa. Không có món ăn nào đủ độ để đem ra tiếp bạn, nhưng khu vườn lại tràn đầy sức sống. Nguyễn Khuyến đã rất tinh tế khi lựa chọn những hình ảnh nhỏ bé như vậy. Ông không cần một thiên nhiên hùng vĩ. Chỉ cần một luống cải, một cây cà, một giàn bầu, một giàn mướp cũng đủ dựng lên cả không gian nông thôn Việt Nam. Đó là thế giới của một con người sống gần đất, gần vườn, gần nhịp tuần hoàn của cây trái. Thiên nhiên trong bài thơ vì thế không xa lạ mà thân thuộc như hơi thở. Nhưng khu vườn ấy cũng vô tình nói lên một điều: cuộc sống có những thứ phải chờ đợi. Quả chưa chín, rau chưa đến mùa, hoa chưa thành trái. Con người cũng vậy. Có những mối quan hệ phải đi qua năm tháng mới trở nên sâu sắc. Câu thơ mở đầu “đã bấy lâu nay” vì thế dường như âm thầm vang vọng trong những câu thơ về khu vườn: thời gian không chỉ tạo ra khoảng cách mà còn làm cho những điều quý giá được lắng lại. Đến câu: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” tình huống được đẩy đến tận cùng. Trầu vốn là thứ tối thiểu trong văn hóa giao tiếp xưa. Không có trầu, chủ nhà gần như chẳng còn một lễ vật nào để chứng minh lòng hiếu khách. Nhưng cũng chính ở đây, Nguyễn Khuyến đã chuẩn bị cho sự xuất hiện của điều quan trọng nhất. Đó là câu kết: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Nếu bảy câu thơ trước mở rộng ra thế giới của vật chất – chợ, cá, gà, rau, quả, trầu – thì câu cuối cùng thu tất cả trở về thế giới của con người. “Ta” không phải món ăn. “Ta” là nhà thơ. “Ta” là người bạn. Hai tiếng ấy đặt cạnh nhau tạo nên một không gian tinh thần mà vật chất không thể thay thế. Cái hay của “ta với ta” nằm ở sự bình đẳng tuyệt đối. Chủ không còn phải giữ phép với khách, khách cũng không cần khách sáo với chủ. Họ đến với nhau bằng sự tự nhiên của hai người đã đủ hiểu nhau. Một tình bạn đạt đến độ tri kỉ sẽ không cần những nghi thức để chứng minh. Sự im lặng cũng có thể là câu chuyện; một tiếng cười cũng có thể là lời chào; sự hiện diện của người kia đã là một niềm vui. Câu thơ vì thế không chỉ nói về tình bạn của Nguyễn Khuyến. Nó chạm đến một nhu cầu rất sâu của con người: nhu cầu được sống thật với một người khác. Trong một thế giới đầy những quan hệ có điều kiện, tình bạn không đòi hỏi lợi ích trở thành một giá trị đáng quý. Người bạn đến không vì bữa cơm, nhà thơ không cần có quà để giữ bạn. Họ chỉ cần có nhau. Thành công của tác phẩm còn đến từ nghệ thuật xây dựng một tình huống thơ độc đáo. Nguyễn Khuyến sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú nhưng phá bỏ vẻ trang trọng thường thấy bằng ngôn ngữ đời thường. Những hình ảnh ao, vườn, cá, gà, cải, cà, bầu, mướp, trầu đều được lấy trực tiếp từ đời sống. Phép đối trong các câu thơ giữa vừa tạo sự cân xứng vừa làm nổi bật nét hài hước. Đặc biệt, chuỗi chi tiết được sắp xếp theo hướng càng lúc càng “không có gì” đã tạo nên một cú chuyển đầy bất ngờ ở câu kết. Bởi vậy, “Bạn đến chơi nhà” càng đọc càng thấy không phải bài thơ về sự nghèo khó. Nó là bài thơ về sự giàu có của một tâm hồn biết trân trọng tình nghĩa. Nhà thơ không có những thứ có thể đặt lên mâm, nhưng có một tấm lòng đủ rộng để đón bạn. Ông không có lễ vật, nhưng có sự chân thành. Và người bạn cũng không cần gì hơn thế. Có lẽ vẻ đẹp lâu bền nhất của bài thơ chính là ở chỗ nó khiến chúng ta nhìn lại những mối quan hệ của chính mình. Trong cuộc đời, thật may mắn nếu ta có một người có thể bước vào nhà mình mà không cần báo trước, có thể ngồi xuống bên mình mà không cần câu nệ, có thể ở cạnh ta trong những ngày chẳng có gì đáng kể. Bởi khi ấy, ta hiểu rằng tình bạn không được xây nên bởi những thứ con người sở hữu, mà bởi sự đồng điệu giữa những tâm hồn. Và thế là sau tám câu thơ, căn nhà của Nguyễn Khuyến hiện lên không hề trống trải. Nó có tiếng cười, có sự thân thuộc, có một cuộc hội ngộ sau tháng năm. Cái ao vẫn sâu, khu vườn vẫn rộng, rau quả vẫn chưa đến mùa, miếng trầu vẫn không có. Nhưng giữa tất cả những thiếu thốn ấy, hai tiếng “ta với ta” đã làm nên một sự đủ đầy. Đó là sự đủ đầy mà thời gian không thể lấy đi: được có một người bạn tri kỉ trong đời. Bài tham khảo Mẫu 14 Có những buổi chiều quê đi qua rất khẽ, đến khi ngoảnh lại, người ta mới nhận ra trong ký ức mình còn nguyên một màu nắng. Có những mái nhà chẳng rộng, những khu vườn chẳng sang, những bữa cơm chẳng đủ đầy, nhưng chỉ cần một người thân thuộc ghé thăm, cả không gian bỗng trở nên ấm áp. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một bức tranh như thế. Trên nền một làng quê bình dị, nhà thơ đã vẽ nên một cuộc hội ngộ không có cao lương mỹ vị, không có nghi lễ cầu kỳ, nhưng lại có thứ ánh sáng dịu dàng nhất của đời sống: ánh sáng của tình bạn. Nguyễn Khuyến vốn là người có một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước vẻ đẹp bình dị của quê hương. Thiên nhiên trong thơ ông thường không xa hoa mà mang dáng vẻ thân thuộc của một miền quê Việt Nam. Ở “Bạn đến chơi nhà”, vẻ đẹp ấy không nằm ở cảnh sắc lớn lao mà nằm trong chính những thứ nhỏ bé nhất: một cái ao, một khu vườn, mấy luống rau, giàn bầu, giàn mướp. Và trên tất cả những hình ảnh ấy là bóng dáng của hai người bạn sau những ngày xa cách. “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Câu thơ mở ra như một cánh cửa. Người bạn xuất hiện sau một khoảng thời gian dài. Không biết những ngày xa nhau đã trôi qua thế nào, chỉ biết giờ đây người bạn đã trở về. “Đã bấy lâu nay” nghe như một tiếng thời gian ngân dài, còn “bác tới nhà” lại là một nốt nhạc vui. Câu thơ không kể nhiều nhưng gợi nhiều. Có thể trước đó là những mùa đã qua, những câu chuyện chưa kịp kể, những lần hẹn chưa thành. Vì thế, cuộc gặp này càng có ý nghĩa. Nhưng điều thú vị là nhà thơ không bắt đầu bằng việc mời bạn vào uống trà hay dùng cơm. Ông lập tức kể về những “trở ngại” của căn nhà: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.” Một câu thơ rất đời. Trong căn nhà ấy, người giúp việc nhỏ bé nhất cũng vắng mặt; muốn đi chợ cũng chẳng thuận tiện. Nhưng nhà thơ vẫn còn ao, còn vườn: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Ta có thể hình dung một buổi gặp gỡ giữa không gian làng quê: ao nước nằm im dưới nắng, khu vườn mở rộng phía sau nhà, những con gà chạy đâu đó giữa cỏ cây. Tất cả rất gần gũi, rất Việt Nam. Thế nhưng chủ nhà càng có vẻ “đủ”, ông lại càng chứng minh rằng mình chẳng thể chuẩn bị được gì. Cái duyên của Nguyễn Khuyến nằm ở cách ông kể chuyện. Nếu là một người khác, sự thiếu thốn có thể trở thành lời than. Nhưng với Nguyễn Khuyến, nó trở thành tiếng cười. Cái ao sâu, nước lớn; khu vườn rộng, rào thưa – thiên nhiên dường như cũng “trêu” người chủ nhà. Bạn đã đến rồi, nhưng cá thì không thể bắt, gà thì chẳng thể đuổi. Rồi ánh nhìn của nhà thơ chạm đến khu vườn: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bốn hình ảnh liên tiếp làm khu vườn hiện lên như một bức tranh đang chuyển động. Cải đang lớn. Cà đang nụ. Bầu vừa kết trái. Mướp đang nở hoa. Cả khu vườn dường như đang ở khoảnh khắc đẹp nhất của sự sống: chưa phải lúc thu hoạch nhưng đã tràn đầy hứa hẹn. Có một vẻ đẹp rất thơ trong những chữ “chửa”, “mới”, “vừa”, “đương”. Chúng đều chỉ những trạng thái đang tiếp diễn. Thiên nhiên không đứng yên; nó đang lớn lên trong sự âm thầm của thời gian. Và trong cuộc gặp gỡ này, khu vườn dường như cũng trở thành một người bạn thứ ba, lặng lẽ chứng kiến niềm vui của hai con người. Nhà thơ không có rau quả để đãi bạn, nhưng ông có cả một khu vườn. Ông không có món ăn, nhưng ông có một không gian sống đậm hồn quê. Có lẽ đó cũng là một cách Nguyễn Khuyến giới thiệu về mình: một con người đã tìm thấy niềm vui trong những điều nhỏ bé, bình dị, không cần đến sự phô trương của vật chất. Thế rồi: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Miếng trầu – thứ vốn được xem như khởi đầu của câu chuyện – cũng vắng mặt. Câu thơ giống như một cái nhún vai đầy hóm hỉnh. Đến đây thì chẳng còn gì để bày biện nữa. Nhưng chính lúc tưởng như “trắng tay” nhất, nhà thơ lại có trong tay điều quý giá nhất: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Nếu bảy câu thơ trước là một cuộc dạo quanh thế giới vật chất, thì câu cuối là bước trở về thế giới tâm hồn. Hai chữ “ta” đứng cạnh nhau, đơn giản mà ấm áp. Một “ta” là người chủ nhà, một “ta” là người bạn. Nhưng giữa hai “ta” ấy không tồn tại khoảng cách. Đó là điều đặc biệt của tình tri kỉ. Khi đã hiểu nhau, người ta không cần phải cố gắng làm vừa lòng nhau bằng những thứ bên ngoài. Không có rượu cũng được. Không có trầu cũng được. Không có cá, gà, rau quả cũng chẳng sao. Một cuộc trò chuyện thật lòng đã đủ trở thành một bữa tiệc. Câu thơ còn đẹp bởi chữ “chơi”. Bạn không đến “thăm” theo một nghi thức, cũng không đến vì một mục đích. Bạn “đến chơi”. Một chữ thôi mà làm nhẹ cả cuộc gặp. Bạn đến chỉ để gặp bạn. Đó là sự vô tư đẹp nhất của tình bằng hữu. Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi đưa một cuộc gặp gỡ đời thường vào khuôn khổ thất ngôn bát cú. Thể thơ vốn trang trọng, nhưng ngôn ngữ lại hết sức bình dân. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê khiến bài thơ như một câu chuyện được kể bên hiên nhà. Nghệ thuật đối, liệt kê và tạo tình huống đã làm nên tiếng cười nhẹ nhàng. Đặc biệt, sự tương phản giữa hàng loạt cái “không” và câu kết “ta với ta” tạo nên một hiệu quả nghệ thuật sâu sắc. Nhưng có lẽ điều khiến bài thơ sống lâu nhất không phải chỉ là cái tài của ngôn từ. Đó là bởi Nguyễn Khuyến đã chạm vào một điều rất người. Ai cũng mong trong đời mình có một người bạn mà trước người ấy, ta không cần phải giàu có, không cần phải hoàn hảo, không cần phải chuẩn bị một hình ảnh đẹp đẽ. Ta chỉ cần là chính mình. Đọc “Bạn đến chơi nhà”, ta như nghe thấy tiếng gió đi qua một khu vườn quê, nghe thấy tiếng gà đâu đó, thấy những bông mướp vàng rung rinh trên giàn. Giữa không gian bình dị ấy, hai người bạn ngồi cạnh nhau. Có thể họ nói về những chuyện rất nhỏ. Có thể họ nhắc lại những kỷ niệm xa xưa. Có thể có những lúc họ chỉ im lặng. Nhưng chính sự im lặng ấy cũng đủ ấm áp bởi họ không cần phải cố lấp đầy nó. Bởi vậy, “Bạn đến chơi nhà” không chỉ là bài thơ về một cuộc gặp. Nó là bài thơ về một nơi chốn tinh thần – nơi con người được trở về với sự chân thật nhất của mình. Nguyễn Khuyến đã để cho khu vườn quê, với tất cả vẻ mộc mạc, trở thành sân khấu của tình bạn. Và trong sân khấu ấy, không có món ăn nào quan trọng hơn sự hiện diện của con người. Thời gian đã đi qua rất lâu kể từ khi Nguyễn Khuyến viết bài thơ. Những phong tục cũ có thể đổi thay, những căn nhà xưa có thể không còn, những luống cải và giàn mướp rồi cũng theo mùa mà mất đi. Nhưng “ta với ta” vẫn còn nguyên sức sống. Bởi nó nhắc mỗi người rằng giữa cuộc đời rộng lớn, điều quý nhất đôi khi không phải là có thật nhiều người bên cạnh, mà là có một người có thể ngồi cạnh ta trong một căn nhà chẳng có gì để đãi, mà vẫn cảm thấy một cuộc gặp như thế đã là đủ đầy. Bài tham khảo Mẫu 15 Trong nền thơ ca trung đại Việt Nam, nếu có những vần thơ cất lên từ nỗi niềm trước thế sự, từ tình yêu quê hương đất nước, thì cũng có những câu thơ nhẹ nhàng như một tiếng cười, một lời trò chuyện thân tình giữa những con người tri kỉ. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một bài thơ như thế. Không cầu kì, không tìm kiếm những hình ảnh lớn lao, tác giả chỉ kể về một cuộc gặp gỡ tưởng như rất đỗi bình thường giữa hai người bạn. Thế nhưng đằng sau câu chuyện “không có gì để tiếp bạn” lại là một tình bạn sâu sắc, trong sáng và đáng quý đến mức vật chất dường như trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Ngay từ câu thơ mở đầu, Nguyễn Khuyến đã thể hiện niềm vui chân thành trước sự xuất hiện của người bạn: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà.” Câu thơ vang lên như một lời reo vui mộc mạc. Cách gọi “bác” vừa thân mật, kính trọng, vừa cho thấy mối quan hệ gần gũi giữa hai người. Cụm từ “đã bấy lâu nay” gợi khoảng thời gian xa cách khá lâu, vì thế sự xuất hiện của người bạn càng trở nên đáng trân trọng. Không cần những lời lẽ hoa mỹ, chỉ một câu thơ tự nhiên như lời nói thường ngày cũng đủ cho người đọc cảm nhận được niềm vui của chủ nhân khi bạn cũ ghé thăm. Trong cuộc sống, có những cuộc gặp không cần chuẩn bị, không cần nghi lễ, chỉ cần người tri kỉ xuất hiện cũng đã là một niềm hạnh phúc. Thế nhưng ngay sau lời chào đón ấy, Nguyễn Khuyến lại rơi vào một tình huống hết sức “trớ trêu”: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Bạn đến chơi nhà đáng lẽ phải có cơm ngon, cá béo, gà luộc để thiết đãi. Nhưng tất cả những điều tưởng như có sẵn trong một gia đình nông thôn lại lần lượt trở thành những cái “không thể”. Trẻ nhỏ thì đi vắng, muốn sai người đi chợ cũng không được vì chợ ở xa. Trong nhà có ao nhưng “ao sâu nước cả” nên không thể bắt cá. Vườn có gà nhưng “vườn rộng rào thưa” nên cũng chẳng dễ gì đuổi được gà. Cách trình bày của Nguyễn Khuyến tạo nên một chuỗi tình huống vừa chân thực vừa dí dỏm. Các từ ngữ “đi vắng”, “chợ thời xa”, “khôn chài cá”, “khó đuổi gà” khiến cái thiếu thốn hiện ra một cách tự nhiên mà hài hước. Nhà thơ dường như đang “thanh minh” với bạn rằng mình rất muốn tiếp đãi chu đáo nhưng hoàn cảnh lại không cho phép. Tuy nhiên, đằng sau tiếng cười ấy không phải là sự nghèo túng đáng thương mà là một tâm thế ung dung, tự nhiên của người sống thanh sạch, không đặt nặng chuyện vật chất. Nếu bốn câu thơ trên nói đến những thứ có thể bắt được mà lại không thể bắt, thì đến hai câu tiếp theo, ngay cả những thức ăn bình dị nhất trong vườn cũng chưa thể dùng được: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Hàng loạt hình ảnh dân dã của khu vườn quê Việt Nam xuất hiện: cải, cà, bầu, mướp. Đây đều là những thứ rất quen thuộc trong bữa cơm của người nông dân. Nhưng thật trớ trêu, cải thì “chửa ra cây”, cà mới chỉ “nụ”, bầu vừa “rụng rốn”, còn mướp thì vẫn đang “đương hoa”. Nghĩa là có rất nhiều thứ trong vườn nhưng chẳng thứ gì có thể đem ra làm thức ăn để tiếp bạn. Những cách nói như “chửa ra cây”, “mới nụ”, “vừa rụng rốn”, “đương hoa” khiến khu vườn hiện lên thật sinh động. Đặc biệt, cách dùng những từ ngữ gợi hình, gợi trạng thái sinh trưởng của cây trái đã biến cái thiếu thốn thành một câu chuyện đầy tiếng cười. Người đọc có cảm giác như đang cùng chủ nhà đi một vòng quanh khu vườn, thứ gì cũng có nhưng thứ gì cũng “chưa đến lúc”. Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ cho thấy cuộc sống thanh đạm của mình mà còn đem vào thơ cả hơi thở của đời sống nông thôn với những hình ảnh vô cùng gần gũi. Đỉnh điểm của sự “không có gì” được đẩy lên ở câu thơ: “Đầu trò tiếp khách, trầu không có,” Theo phong tục truyền thống, miếng trầu vốn là thứ tối thiểu để mở đầu một cuộc tiếp khách. Người Việt xưa có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”, bởi vậy đến cả trầu cũng không có thì dường như chủ nhà đã hoàn toàn “bó tay” trước việc thiết đãi bạn. Nhưng chính cái “không có” ấy lại làm nổi bật cái “có” lớn nhất của bài thơ: có một tình bạn chân thành. Nguyễn Khuyến không hề ngượng ngùng hay mặc cảm vì sự thiếu thốn. Ông kể ra tất cả bằng giọng điệu vui vẻ, tự nhiên, thậm chí pha chút hóm hỉnh. Điều đó cho thấy giữa hai người bạn không tồn tại khoảng cách của vật chất hay lễ nghi. Người bạn đến đây không phải để ăn một bữa cơm ngon, uống một chén rượu quý, mà chỉ đơn giản là “đến chơi”. Và khi tình bạn đã đủ sâu sắc, sự hiện diện của người bạn mới là điều quan trọng nhất. Tất cả ý nghĩa của bài thơ được dồn tụ trong câu kết: “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Đây là câu thơ đẹp nhất và cũng là linh hồn của toàn bài. Nếu những câu thơ trước liên tục nói về cái thiếu thì câu thơ cuối cùng khẳng định một cái “có” vô cùng giàu có: có bạn, có tri kỉ, có sự đồng điệu của hai tâm hồn. Cụm từ “ta với ta” đặc biệt giàu ý nghĩa. “Ta” là người bạn, cũng là chính tác giả; hai con người nhưng như hòa vào một. Không còn sự phân biệt chủ - khách, không còn chuyện lễ vật, mâm cao cỗ đầy. Chỉ còn hai người bạn ngồi bên nhau, cùng chia sẻ câu chuyện, niềm vui và sự đồng cảm. Trong “ta với ta” có sự gần gũi, thân thiết đến mức không cần nói nhiều mà vẫn hiểu nhau. Nếu trong “Qua Đèo Ngang”, “ta với ta” của Bà Huyện Thanh Quan gợi cảm giác cô đơn, một cái tôi đối diện với chính mình giữa cảnh trời nước mênh mang, thì “ta với ta” trong thơ Nguyễn Khuyến lại là sự gặp gỡ của hai tâm hồn tri kỉ. Một bên là nỗi cô đơn, một bên là niềm vui đoàn tụ. Chỉ với bốn chữ, Nguyễn Khuyến đã nâng tình bạn từ một cuộc thăm hỏi đời thường thành một giá trị tinh thần sâu sắc. Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật đặc sắc. Nguyễn Khuyến sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng lại đem vào đó ngôn ngữ đời thường, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Những hình ảnh “ao sâu”, “vườn rộng”, “cải”, “cà”, “bầu”, “mướp”, “trầu” đều rất bình dị, mang đậm hồn quê Việt Nam. Nghệ thuật liệt kê kết hợp với cách nói hóm hỉnh đã tạo nên một chuỗi cái “không có”, qua đó làm nổi bật cái “có” quý giá nhất. Giọng thơ vừa vui vẻ, dí dỏm vừa đằm thắm, chân thành khiến bài thơ giống như một cuộc trò chuyện giữa những người bạn lâu ngày gặp lại. “Bạn đến chơi nhà” vì thế không chỉ là câu chuyện về một cuộc gặp gỡ mà còn là lời ngợi ca một tình bạn đẹp. Nguyễn Khuyến đã chứng minh rằng tình bạn chân thành không được đo bằng mâm cơm đầy hay lễ vật sang trọng. Khi con người thực sự coi nhau là tri kỉ, vật chất chỉ là thứ yếu; điều còn lại chính là sự hiện diện, sẻ chia và thấu hiểu. Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ nhà thơ càng kể về cái “không có”, người đọc lại càng cảm nhận sâu sắc cái “có”: một tâm hồn thanh sạch, một tấm lòng chân thành và một tình bạn vượt lên trên mọi giá trị vật chất. Khép lại bài thơ, câu “Bác đến chơi đây, ta với ta” vẫn ngân lên như một lời mời giản dị mà ấm áp. Không cao lương mỹ vị, không rượu ngon, không trầu cau, nhưng có hai tâm hồn tìm thấy nhau sau những ngày xa cách. Chính sự giản dị ấy đã làm nên vẻ đẹp bất tử của bài thơ. Trong cuộc đời mỗi người, có lẽ điều đáng quý nhất không phải là có bao nhiêu người quen biết, mà là có được một người bạn có thể đến với ta khi chẳng cần bất cứ điều kiện nào. Và Nguyễn Khuyến, bằng tám câu thơ ngắn gọn, đã để lại cho văn học một lời nhắn nhủ thật đẹp: tình bạn chân thành, khi đã đạt đến độ tri kỉ, có thể khiến một cuộc gặp không có vật chất trở thành một cuộc gặp đầy ắp yêu thương.
|






Danh sách bình luận