content-pc content-tablet content-mobile

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Bữa cơm quê (Đoàn Văn Cừ)

I. Mở bài - Giới thiệu tác giả Đoàn Văn Cừ (nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi tiếng với hồn thơ đậm chất dân dã, quê hương).

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Đoàn Văn Cừ (nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi tiếng với hồn thơ đậm chất dân dã, quê hương).

- Dẫn dắt và giới thiệu bài thơ Bữa cơm quê cùng đoạn thơ cần phân tích.

- Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ: Bức tranh bữa cơm nghèo khó nhưng đầm ấm, yên bình và tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ.

II. Thân bài

1. Khái quát chung

- Hoàn cảnh hoặc cảm hứng sáng tác: Bài thơ khắc họa không gian sống và sinh hoạt mộc mạc, bình dị của người nông dân Việt Nam thời xưa.

- Đánh giá chung về đoạn thơ: Sử dụng thể thơ thất ngôn, hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ đậm chất dân gian để tái hiện bức tranh đời sống chân thực.

2. Phân tích bức tranh bữa cơm quê nghèo khó mà đậm đà tình nghĩa (Khổ 1)

- Không gian dọn cơm: “Cơm ngày hai bữa dọn bên hè” — không gian mở thoáng đãng, gần gũi với thiên nhiên, đậm chất làng quê mộc mạc.

- Đồ dùng trong bữa ăn: “Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre” — toàn những vật dụng thô sơ, quen thuộc, gắn bó bao đời với người nhà quê.

- Món ăn đạm bạc, nghèo khó:

+ “Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn” — những sản vật cây nhà lá vườn, cọng cà muối mặn, chén vừng giã đơn sơ nhưng thấm đượm mồ hôi lao động.

+ “Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” — bát nước chè xanh chát đượm, nồng hậu tình quê.

- Tiểu kết khổ 1: Bữa cơm tuy đạm bạc, thiếu thốn vật chất nhưng lại chan chứa nghĩa tình, thể hiện sự gắn bó bền chặt với ruộng đồng, thôn xóm.

3. Phân tích bức tranh cuộc sống thanh bình và tâm hồn người dân quê (Khổ 2)

- Thực tại đời sống và tinh thần: “Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm” — dẫu đó nghèo, túng thiếu nhưng gia đình vẫn tràn ngập sự hòa thuận, yên ấm.

- Nhịp sống lao động và nghỉ ngơi: “Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên” — ngày vất vả dãi nắng dầm sương, tối về lại được thảnh thơi, bình yên trong giấc ngủ nông dân chân chất.

- Cảnh sắc thiên nhiên thanh tú, nên thơ:

+ “Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng” — ánh trăng vàng chiếu xuống mái rạ nghèo tạo nên vẻ đẹp thanh tao, thơ mộng.

+ “Vòi cau mưa chảy nước bên hiên” — âm thanh và hình ảnh mưa rơi qua vòi cau gợi cảm giácêm đềm, lắng đọng của làng quê.

- Tiểu kết khổ 2: Sự hòa quyện giữa cảnh nghèo và tình đời, giữa thiên nhiên thanh bình và tâm hồn thanh thản, an nhiên của người nông dân.

4. Đánh giá về nghệ thuật

- Thể thơ thất ngôn nhịp nhàng, uyển chuyển.

- Hệ thống từ ngữ giản dị, mộc mạc, đậm chất ca dao, tục ngữ.

- Hình ảnh thơ chân thực, gần gũi, gợi hình và gợi cảm cao.

- Biện pháp nghệ thuật tương phản (dẫu túng - vẫn êm đềm, ngày khó nhọc - tối ngủ yên) làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần của người lao động.

III. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ (ca ngợi vẻ đẹp bình dị của bữa cơm quê và tình yêu quê hương tha thiết của Đoàn Văn Cừ).

- Nêu cảm nhận hoặc bài học rút ra cho bản thân (trân trọng những giá trị truyền thống, tình cảm gia đình và cội nguồn dân tộc).

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Đoàn Văn Cừ là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi bật với hồn thơ đượm màu sắc dân gian, gắn bó máu thịt với làng quê và người nông dân. Nếu bức tranh nông thôn của ông thường rực rỡ hội hè, thì đến với bài thơ Bữa cơm quê, ngòi bút lại trầm lắng, chắt chiu những nét vẽ mộc mạc nhất về đời sống cơ hàn nhưng thấm đượm tình nghĩa. Đoạn thơ khắc họa trọn vẹn bức tranh bữa cơm nghèo và không gian sống thanh bình, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn an nhiên, tình cảm gia đình ấm áp của người lao động.

Khổ thơ đầu tiên mở ra trước mắt người đọc không gian và thực tại của một bữa cơm quê đạm bạc, thiếu thốn. Nhà thơ chọn lọc những chi tiết rất thực, rất đời thường để đưa vào trang thơ:

Cơm ngày hai bữa dọn bên hè Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe

Không gian dọn cơm không phải chốn lầu son gác tía mà là “bên hè”, phóng khoáng, gần gũi với thiên nhiên, trời đất. Toàn bộ vật dụng sinh hoạt hiện lên qua những từ ngữ thô sơ: “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre”. Đó là sản phẩm của làng nghề, của đôi bàn tay người nông dân tự tay tạo dựng. Món ăn trong mâm cũng nghèo khó hết mực với “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn”. Chén vừng mặn mòi, quả cà muối thắm đượm mồ hôi dãi dầu mưa nắng. Khép lại bữa cơm đơn sơ ấy là bát “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” chát đượm tình quê. Đọc câu thơ, ta không thấy sự bi lụy của nghèo đói mà chỉ cảm nhận được sự chất phác, gắn bó bền chặt giữa con người với ruộng đồng, thôn xóm.

Chuyển sang khổ thơ thứ hai, ngòi bút Đoàn Văn Cừ mở rộng biên độ để bao quát cả không gian sống và tâm trạng con người trong sự hòa hợp nên thơ:

Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng Vòi cau mưa chảy nước bên hiên

Nhà thơ trực tiếp đối lập giữa vật chất và tinh thần qua cặp tiểu đối “Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm”, “Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”. Dẫu cuộc sống mưu sinh vất vả, lam lũ, ngày qua ngày đối mặt với đói nghèo, cái tình giữa người với người trong mái nhà tranh ấy chưa bao giờ suy suyển. Sự êm đềm và giấc ngủ yên bình ban tối chính là phần thưởng quý giá cho những nhọc nhằn ban ngày. Khung cảnh ấy càng trở nên thơ mộng hơn khi thiên nhiên hòa quyện vào đời sống con người. Ánh “trăng vàng” chiếu rọi lên “mái rạ” nghèo tạo nên nét đẹp thanh tao, tĩnh lặng. Tiếng mưa rơi qua “vòi cau” bên hiên nhà ngân lên âm thanh trầm lắng, gợi sự ấm cúng, chở che.

Khép lại bài thơ, Đoàn Văn Cừ đã thành công sử dụng thể thơ thất ngôn nhịp nhàng, hệ thống từ ngữ đậm chất ca dao cùng các biện pháp tương phản đặc sắc. Đoạn thơ không chỉ là bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam một thời mà còn là tấm lòng tri ân sâu nặng của nhà thơ với cội nguồn, là lời ca ngợi vẻ đẹp bền bỉ, sức sống mãnh liệt của tình người nơi làng quê nghèo khó.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Nhắc đến Đoàn Văn Cừ, người ta thường nhớ đến một hồn thơ đượm hồn dân tộc, chuyên chở những nét vẽ chân thực và tươi thắm về làng quê Việt Nam. Nếu như ở nhiều tác phẩm khác, ông vẽ nên bức tranh nông thôn rộn rã sắc màu hội hè, thì với Bữa cơm quê, ngòi bút ấy lại chùng xuống, hóa thành tiếng lòng trầm lắng, chắt chiu từng khoảnh khắc cơ hàn nhưng đượm đà tình nghĩa. Tám câu thơ ngắn ngủi là sự thu nhỏ của cả một đời người nông dân lam lũ, ở đó có bữa cơm đạm bạc nghèo khó nhưng đồng thời tỏa rạng vẻ đẹp ấm áp của tình gia đình và sự thanh th bình yên nơi chốn thôn dã.

Mở đầu tác phẩm, nhà thơ đưa người đọc trực tiếp vào không gian sinh hoạt tối giản, nơi bữa cơm đạm bạc được dọn ra bằng tất cả sự mộc mạc của làng quê:

Cơm ngày hai bữa dọn bên hè Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe

Không gian thưởng thức bữa ăn không nằm trong những căn nhà sang trọng mà mở ra “bên hè”, hòa mình hoàn toàn vào bầu không khí khoáng đạt của đất trời. Toàn bộ vật dụng mâm cơm đều là những sản vật thô sơ gắn bó máu thịt với đời sống nhà nông: “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre”. Thực đơn hiện lên đầy nhọc nhằn với “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn”. Đó là những thứ rau dưa cây nhà lá vườn, kết tinh từ mồ hôi nước mắt của người lao động dãi nắng dầm sương. Bát “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” cuối bữa tuy chát đượm nhưng lại mang đậm vị nồng hậu của tình làng nghĩa xóm. Dưới ngòi bút Đoàn Văn Cừ, sự nghèo đói không hề mang màu sắc bi lụy; trái lại, nó ánh lên nét đẹp của sự gắn bó, thủy chung với cội nguồn đất mẹ.

Vượt lên trên những thiếu thốn vật chất, khổ thơ tiếp theo mở rộng không gian để ôm trọn bức tranh đời sống tinh thần và cảnh sắc thiên nhiên vô cùng an nhiên, tĩnh tại:

Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng Vòi cau mưa chảy nước bên hiên

Đoạn thơ sử dụng cấu trúc tương phản rất đắt giá giữa hiện thực phũ phàng và sức sống tinh thần bền bỉ: “dẫu túng vẫn êm đềm”, “ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”. Cái đói cái nghèo có thể bủa vây gót chân người lao động suốt những giờ làm việc vất vả, nhưng khi bóng tối buông xuống, mái nhà tranh ấy lại trở thành tổ ấm trọn vẹn tình thân, nơi xua tan mọi nhọc nhằn dâu bể. Khung cảnh ấy càng trở nên thơ mộng, đượm buồn khi hòa quyện với thiên nhiên ngoại cảnh. Ánh “trăng vàng” vắt vẻo trên “mái rạ” nghèo gợi lên nét thanh tao, cổ kính. Âm thanh giọt mưa rỉ qua “vòi cau” bên hiên nhà ngân lên khúc nhạc thanh bình của làng quê thanh vắng.

Khép lại bài thơ, Đoàn Văn Cừ đã thành công xuất sắc trong việc sử dụng thể thơ thất ngôn kết hợp với hệ thống từ ngữ đậm chất ca dao, tục ngữ. Tác phẩm không chỉ là bức tranh lưu giữ hồn quê một thuở mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về sức sống mãnh liệt của tình người. Giữa dòng chảy hiện đại hối hả, Bữa cơm quê vẫn lặng lẽ neo giữ trong tâm hồn người đọc những giá trị truyền thống bền vững, thanh cao và đẹp đẽ.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Xứ sở làng quê Việt Nam dưới ngòi bút của Đoàn Văn Cừ luôn hiện lên bằng tất cả sự chân thực, hồn hậu và giàu chất họa. Nếu phong vị thơ ông thường rực rỡ sắc màu của những phiên chợ tết hay những mùa hội làng đình đám, thì đến với Bữa cơm quê, không gian nghệ thuật ấy lại thu mình vào một góc nhỏ tĩnh lặng và cơ hàn. Đoạn thơ ngắn ngủi như một thước phim chậm rãi, lưu giữ trọn vẹn cái hồn cốt mộc mạc của đời sống nông dân: nơi vật chất thiếu thốn trăm bề nhưng tình nghĩa và sự bình yên trong tâm hồn chưa bao giờ vơi cạn.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, bức tranh bữa cơm đạm bạc hiện hình qua thứ ngôn ngữ đậm đặc chất liệu đời thường, mộc mạc đến nao lòng:

Cơm ngày hai bữa dọn bên hè Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe

Không gian quây quần không bị giới hạn trong bốn bức tường ngột ngạt mà mở ra khoáng đạt “bên hè”, hòa quyện trọn vẹn với gió trời và hương vị đồng nội. Hàng loạt danh từ mộc mạc được chắt chiu lên trang giấy như “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre” — đó đều là những vật dụng thô sơ, gắn bó máu thịt với đời người nhà quê từ thuở lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay. Món ăn dọn lên mâm cũng nghèo khó đến chạnh lòng: “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn”. Hạt gạo lất đẫm mồ hôi dãi nắng dầm sương, trái cà thâm chát mặn và chén vừng giã vội chính là kết quả của một đời nhọc nhằn bám đất bám bùn. Thế nhưng, đằng sau sự thiếu thốn ấy lại là hương vị nồng hậu của bát “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”. Bằng cái nhìn đầy ân tình, Đoàn Văn Cừ không biến bữa cơm nghèo thành bi kịch; ông nâng niu nó như một biểu tượng của sự gắn kết bền chặt, thủy chung với cội nguồn lam lũ.

Bước sang khổ thơ tiếp theo, nhịp thơ chậm lại để ôm trọn khoảng không gian tĩnh mịch và chiều sâu tâm trạng của con người trước màn đêm buông xuống:

Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng Vòi cau mưa chảy nước bên hiên

Nhà thơ khéo léo đặt vào trung tâm bức tranh một cấu trúc đối lập vô cùng thấm thía: “dẫu túng vẫn êm đềm”, “ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”. Cái đói cái nghèo có thể bủa vây gót chân người nông dân trong suốt những giờ lao động vắt kiệt sức lực, nhưng không tài nào chạm tới được sự ấm áp, thuận hòa bên trong mái nhà tranh. Đêm về, khi những nhọc nhằn dâu bể tạm gác lại, họ tìm thấy sự thảnh thơi hiếm hoi trong giấc ngủ bình yên. Khung cảnh ấy càng trở nên đắt giá hơn khi hòa quyện với thiên nhiên ngoại cảnh. Ánh “trăng vàng” vắt vẻo, lơ lửng trên “mái rạ” nghèo gợi lên nét thanh tao, cổ kính của làng quê Việt Nam truyền thống. Tiếng mưa rỉ qua “vòi cau” bên hiên nhà ngân lên âm thanh trầm lắng, chở che cho cả một không gian ngập tràn tình thân.

Khép lại tác phẩm, sự thành công của Đoàn Văn Cừ nằm ở nghệ thuật dung dị hóa ngôn từ kết hợp với thể thơ thất ngôn nhịp nhàng, uyển chuyển. Bài thơ không chỉ tái hiện một lát cắt chân thực về nông thôn Việt Nam một thời dâu bể, mà trên hết, nó là lời tôn vinh vẻ đẹp kiêu hãnh của con người lao động: những người dẫu gánh chịu nhọc nhằn vẫn giữ trọn sự trong sạch, an nhiên và tình nghĩa thủy chung với đất trời, quê hương.

Bài tham khảo Mẫu 1

Trong hành trình của mỗi con người, quê hương thường không hiện về bằng những điều quá lớn lao. Quê hương có khi chỉ là một con đường đất sau mưa, một mái nhà thấp thoáng dưới hàng cau, một tiếng gọi vọng từ cuối sân, hay đơn giản hơn, là một bữa cơm nghèo được dọn bên hè trong buổi chiều yên ả. Những gì bình dị nhất đôi khi lại là những gì neo giữ tâm hồn sâu nhất. Bởi vậy, thơ viết về quê hương không nhất thiết phải tìm đến những hình ảnh kì vĩ. Chỉ cần một mâm cơm, một mái rạ, một vòi cau và ánh trăng cũng đủ dựng lên cả một miền kí ức. Với “Bữa cơm quê”, Đoàn Văn Cừ đã làm được điều ấy. Từ một bữa ăn đơn sơ, nhà thơ mở ra trước mắt người đọc một thế giới làng quê nghèo khó nhưng thanh bình, thiếu thốn vật chất mà đong đầy tình thân và sự yên ấm.

Bốn câu thơ đầu tiên đưa người đọc trở về với một bữa cơm dân dã:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè
Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre
Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Câu thơ mở đầu không cầu kì, không trau chuốt theo kiểu hoa mĩ mà mang dáng dấp của một lời kể tự nhiên: “Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”. Thế nhưng chính sự tự nhiên ấy lại khiến không gian quê hiện lên chân thật đến nao lòng. “Hai bữa” gợi nhịp sống đều đặn, bình dị; “bên hè” gợi một căn nhà nông thôn, nơi con người sống gần thiên nhiên và gần nhau hơn. Bữa cơm không được đặt trong một gian phòng sang trọng mà được dọn bên hiên, bên hè – nơi có gió, có ánh sáng và có hơi thở của cuộc sống bên ngoài. Không gian ăn uống cũng chính là không gian sinh hoạt gia đình.

Sau câu thơ đầu tiên, nhà thơ không nói về những con người cụ thể mà để đồ vật tự kể chuyện:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Ba hình ảnh nối tiếp nhau tạo thành một nét phác họa hoàn chỉnh về đời sống vật chất của người dân quê. “Gỗ”, “dừa”, “tre” đều là những chất liệu gần gũi với thiên nhiên, gắn bó với làng quê Việt Nam. Cách liệt kê ngắn gọn khiến câu thơ như một thước phim quay chậm, lần lượt đưa mắt người đọc qua từng vật dụng. Chúng cũ mộc, đơn sơ nhưng thân thuộc. Trong những vật vô tri ấy dường như có dấu vết của bàn tay con người, có mồ hôi của người lao động và có cả những năm tháng đã sống cùng gia đình.

Bữa cơm tiếp tục hiện lên qua những món ăn không thể giản dị hơn:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Nếu những mâm cơm giàu sang thường được nhớ bằng sự phong phú của món ăn thì bữa cơm quê trong thơ Đoàn Văn Cừ lại được nhớ bằng chính sự ít ỏi. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “vừng giã mặn”, “chè tươi” – tất cả đều dân dã, rẻ tiền, gần như có thể bắt gặp trong bất cứ căn bếp quê nghèo nào. Nhưng cái tài của nhà thơ là không biến sự nghèo khó thành một gam màu ảm đạm. Trái lại, ông nhìn chúng bằng đôi mắt yêu thương, khiến những thức ăn đơn sơ ấy trở nên có vẻ đẹp riêng.

Các từ ngữ chỉ màu sắc như “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” khiến bữa cơm hiện lên như một bức tranh. Đặc biệt, “nước vàng hoe” của chè tươi tạo nên một sắc màu ấm áp. Màu vàng ấy dường như lan ra khỏi bát chè, phủ lên cả không gian quê một ánh sáng dịu dàng. Đằng sau cái nhìn tỉ mỉ về món ăn là một tình cảm sâu nặng đối với cuộc sống bình thường. Nhà thơ không tìm vẻ đẹp ở nơi xa xôi mà phát hiện vẻ đẹp ngay trong những gì thân thuộc nhất.

Nếu bốn câu đầu nghiêng về việc tái hiện đời sống thì bốn câu cuối lại đi sâu vào vẻ đẹp tinh thần:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai chữ “dẫu túng” không che giấu cái nghèo. Người quê phải sống trong thiếu thốn, phải trải qua những ngày “khó nhọc”. Nhưng điều đáng quý là sau tất cả, căn nhà vẫn “êm đềm”, con người vẫn có thể “ngủ yên”. Hai trạng thái đối lập “túng – êm đềm”, “khó nhọc – ngủ yên” tạo nên chiều sâu tư tưởng cho bài thơ.

Hóa ra, hạnh phúc không nhất thiết phải được đo bằng sự dư dả. Một mái nhà nghèo vẫn có thể là nơi bình yên nhất nếu ở đó có tình thương. Một bữa cơm đạm bạc vẫn có thể trở thành bữa cơm ngon nhất nếu những người thân yêu cùng ngồi bên nhau. Một ngày lao động vất vả vẫn có thể kết thúc trong thanh thản nếu con người không phải mang theo những bất an vào giấc ngủ.

Hai câu cuối đưa bức tranh từ đời sống con người sang cảnh sắc thiên nhiên:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Đây có lẽ là hai câu thơ đẹp nhất về phương diện tạo hình. “Mái rạ” – biểu tượng của một căn nhà nghèo – dưới ánh “trăng vàng” bỗng trở nên thơ mộng. Ánh trăng không chỉ chiếu lên mái nhà mà còn như phủ lên cuộc sống một lớp ánh sáng dịu dàng. Cảnh vật không chuyển động mạnh mà chỉ “lơ lửng”, khiến không gian mang vẻ tĩnh tại, mơ hồ.

Và rồi “vòi cau mưa chảy nước bên hiên” xuất hiện. Một chi tiết rất nhỏ nhưng gợi ra cả không gian sau mưa: hàng cau, mái hiên, giọt nước, sự tĩnh lặng của đêm quê. Không cần một tiếng động lớn, chỉ một dòng nước chảy từ vòi cau cũng đủ làm cảnh vật có hồn. Thiên nhiên dường như đang hòa cùng nhịp sống con người: lặng lẽ, bình dị và an nhiên.

Về nghệ thuật, bài thơ hấp dẫn trước hết bởi ngôn ngữ đời thường mà giàu sức gợi. Những hình ảnh “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa tre”, “gạo đỏ”, “cà thâm”, “chè tươi”, “mái rạ”, “vòi cau” đều là những chất liệu bình dân nhưng khi đi vào thơ lại trở thành những mảnh ghép của kí ức. Nghệ thuật liệt kê giúp bức tranh được mở rộng theo từng chi tiết; màu sắc và hình ảnh tạo nên chất hội họa; sự đan xen giữa tả thực và trữ tình giúp bài thơ vừa chân thật vừa giàu cảm xúc. Đặc biệt, sự đối lập giữa nghèo khó và bình yên đã làm bật lên giá trị nhân văn của tác phẩm.

“Bữa cơm quê” vì thế không đơn thuần là bài thơ kể về một bữa ăn. Đó là bài thơ về mái ấm, về quê hương và về một thứ hạnh phúc không thể cân đong bằng vật chất. Đọc những câu thơ của Đoàn Văn Cừ, ta hiểu rằng có những điều càng giản dị càng khó quên. Một bữa cơm nghèo, một mái rạ, một hàng cau, một đêm trăng… tất cả tưởng như nhỏ bé nhưng lại có sức níu giữ cả một tuổi thơ, một miền quê, một đời người. Và có lẽ, quê hương chính là nơi như thế: nơi dù cuộc sống có thiếu thốn đến đâu, con người vẫn có thể tìm thấy một khoảng bình yên để trở về.

Bài tham khảo Mẫu 2

Có một nghịch lí rất đẹp trong kí ức con người: những điều từng rất đỗi bình thường khi hiện hữu lại thường trở nên quý giá nhất khi đã lùi xa. Một bữa cơm đạm bạc ngày nào có thể chẳng khiến ta bận tâm, nhưng nhiều năm sau, chỉ một mùi chè xanh, một màu mái rạ hay tiếng mưa bên hiên cũng đủ khiến cả miền quê cũ sống dậy. Có lẽ bởi trong những điều bình thường ấy không chỉ có vật chất, mà còn có tình thân, có tuổi thơ, có sự bình yên của một thời chưa bị cuộc sống cuốn đi. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ là một bài thơ như thế. Từ một bữa cơm nghèo, tác giả đã chạm tới một vấn đề lớn hơn: con người có thể nghèo về vật chất nhưng vẫn giàu có trong đời sống tinh thần nếu biết gìn giữ mái ấm và sự bình yên.

Mở đầu bài thơ là một câu thơ giản dị:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Không có sự cầu kì của ngôn từ, câu thơ gần như một lời kể. Nhưng đằng sau sự bình thản ấy là cả một nếp sống. “Ngày hai bữa” cho thấy nhịp sống đều đặn của một gia đình bình dân. “Dọn bên hè” lại mở ra một không gian rất Việt Nam: căn nhà nhỏ, khoảng sân, mái hiên, con người sống gần với thiên nhiên. Cái hay của câu thơ nằm ở chỗ tác giả không cố tình làm đẹp hiện thực. Ông để cuộc sống hiện ra đúng như nó vốn có. Chính sự chân thật ấy làm nên sức gợi.

Tiếp đó, nhà thơ đưa người đọc đến gần hơn với mâm cơm:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Đây là một câu thơ giàu tính tạo hình. Hàng loạt danh từ được đặt cạnh nhau, gần như không có sự tô điểm: mâm, muôi, đũa; gỗ, dừa, tre. Những vật dụng ấy nói lên điều kiện sống còn thiếu thốn, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự gắn bó của con người với thiên nhiên. Tre, dừa, gỗ đều là những chất liệu từ chính quê nhà. Vì thế, bữa cơm không chỉ là một hoạt động sinh hoạt mà còn là một phần của văn hóa làng quê.

Điều đáng chú ý là nhà thơ không dùng những từ ngữ trực tiếp để nói “gia đình nghèo”. Ông để cái nghèo tự hiện ra qua những vật dụng và món ăn. Đó là cách biểu đạt tinh tế: không cần gọi tên cái nghèo, người đọc vẫn cảm nhận được cái nghèo.

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Bốn món ăn hiện lên với màu sắc và hương vị rất riêng. Gạo đỏ, cà thâm, vừng mặn, chè tươi – những thứ bình thường đến mức gần như không đáng kể trong đời sống hôm nay. Nhưng chính sự bình thường ấy lại tạo nên giá trị của bài thơ. Nhà thơ dường như đang nhắc người đọc rằng những điều làm nên kí ức không phải lúc nào cũng là những gì đắt giá. Một món ăn dân dã có thể lưu giữ cả một thời thơ ấu; một bát nước chè có thể mang theo hương vị của quê nhà qua nhiều năm tháng.

Đặc biệt, cách sử dụng màu sắc “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” đã khiến bữa cơm trở thành một bức tranh. Đó không phải những gam màu rực rỡ mà là những sắc màu mộc mạc, có phần trầm lắng. Nhưng chính chúng mới phù hợp với không gian làng quê. Trong cái giản dị ấy có vẻ đẹp của sự chân thành.

Nếu bốn câu đầu cho ta thấy cái nghèo, thì hai câu tiếp theo cho ta hiểu vì sao cái nghèo ấy không trở thành bi kịch:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Từ “dẫu” và “nhưng” tạo nên một cấu trúc đối lập đầy ý nghĩa. “Túng” mà vẫn “êm đềm”; “khó nhọc” mà vẫn “ngủ yên”. Cuộc sống không được lí tưởng hóa. Người dân quê vẫn phải lao động, vẫn phải chịu những nhọc nhằn của đời sống. Nhưng nghịch cảnh không thể lấy đi sự bình yên trong tâm hồn.

Hai câu thơ vì thế mang dáng dấp của một triết lí sống. Con người không nhất thiết phải có thật nhiều mới cảm thấy hạnh phúc. Đôi khi, hạnh phúc chỉ là sau một ngày làm việc vất vả, ta có một căn nhà để trở về; có một bữa cơm dù đơn sơ nhưng có người thân bên cạnh; có một giấc ngủ không bị những lo toan giày vò. “Ngủ yên” ở đây không chỉ là trạng thái thể chất mà còn là biểu tượng của sự an nhiên.

Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào những cuộc đua về tiền bạc, danh vọng và tiện nghi, hai câu thơ của Đoàn Văn Cừ càng trở nên đáng suy ngẫm. Phải chăng đôi khi chúng ta có nhiều hơn nhưng lại bình yên ít hơn? Phải chăng giá trị của một mái nhà không nằm ở độ rộng của nó mà nằm ở cảm giác an toàn mà nó mang lại?

Khép lại bài thơ là một bức tranh thiên nhiên:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Đây không còn là bữa cơm nữa, mà là cảnh quê sau một ngày sống. “Mái rạ” gợi sự nghèo khó; “trăng vàng” lại đem đến vẻ đẹp thơ mộng. Hai hình ảnh đặt cạnh nhau khiến cái nghèo không còn khô cứng mà được bao phủ bởi vẻ đẹp của thiên nhiên và tình cảm. Dưới ánh trăng, căn nhà nhỏ trở thành một không gian thân thương.

Hình ảnh “vòi cau mưa chảy nước bên hiên” lại có một vẻ đẹp rất riêng. Nhà thơ không lựa chọn cảnh vật lớn lao mà chỉ ghi lại một chuyển động nhỏ: nước mưa chảy từ tàu cau xuống bên hiên. Nhưng chính cái nhỏ bé ấy làm nên linh hồn của bức tranh. Người đọc có thể hình dung ra tiếng nước, hơi mưa, mái hiên và sự yên tĩnh của đêm quê. Cảnh không chỉ được nhìn bằng mắt mà gần như được cảm nhận bằng tất cả các giác quan.

Bài thơ thành công bởi một nghệ thuật rất khó: biến cái bình thường thành cái đẹp. Đoàn Văn Cừ không sử dụng những hình ảnh xa lạ, không tìm kiếm những biểu tượng lớn lao. Ông lấy chính đời sống hàng ngày làm chất liệu. Ngôn ngữ giản dị, phép liệt kê, những hình ảnh giàu màu sắc và sự đối lập giữa nghèo khó – bình yên đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm.

“Bữa cơm quê” vì vậy có sức lay động không phải bởi nó kể một câu chuyện đặc biệt, mà bởi nó đánh thức trong mỗi người một miền kí ức rất riêng. Có thể đó là bữa cơm bên mẹ, tiếng đũa chạm vào bát, là bát canh giản dị, là ánh trăng ngoài sân hay tiếng mưa rơi dưới mái hiên. Những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại chính là phần trong trẻo nhất của đời người.

Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một quê hương nghèo mà thấy một quê hương giàu tình người. Ta không chỉ thấy một bữa cơm đơn sơ mà thấy một mái ấm. Và trên hết, ta nhận ra một chân lí giản dị: con người có thể đi rất xa để tìm kiếm hạnh phúc, nhưng đôi khi hạnh phúc đã từng ngồi bên mình trong một bữa cơm quê, dưới mái nhà nghèo, giữa một đêm trăng yên tĩnh.

Bài tham khảo Mẫu 3

Nếu kí ức có một mùi hương, có lẽ đó là mùi khói bếp vương trên mái nhà; nếu kí ức có một âm thanh, có lẽ đó là tiếng mưa rơi bên hiên; và nếu kí ức có một hình dáng, có lẽ đó là mâm cơm nhỏ đặt giữa một mái nhà quê. Quê hương trong tâm tưởng mỗi người thường không ồn ào. Nó đến rất khẽ, đôi khi chỉ từ một món ăn quen, một màu sắc cũ, một vật dụng tưởng như vô tri. Nhưng chính sự giản dị ấy lại khiến quê hương có sức sống lâu bền trong tâm hồn. Với “Bữa cơm quê”, Đoàn Văn Cừ đã không dựng lên một bức tranh quê bằng những đường nét lớn lao, mà bằng những chi tiết nhỏ bé của đời sống. Qua đó, nhà thơ đã làm hiện lên một thế giới vừa nghèo khó vừa thơ mộng, nơi bữa cơm là điểm hội tụ của tình thân, nơi mái nhà là chốn bình yên của con người sau những nhọc nhằn.

Bài thơ mở ra bằng hình ảnh:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Câu thơ có vẻ như chỉ kể một sự việc quen thuộc. Nhưng càng đọc, ta càng nhận ra phía sau câu chữ là một nhịp sống. “Hai bữa” – một ngày được chia thành những khoảng thời gian đều đặn; “bên hè” – một không gian mở ra giữa ngôi nhà và thiên nhiên. Không gian ấy khiến bữa cơm trở thành một phần của cảnh quê. Con người ăn giữa gió trời, giữa khoảng sân, giữa những gì thân thuộc nhất. Bởi vậy, ngay từ câu thơ đầu, bữa cơm đã mang hơi thở của quê hương.

Đến câu thơ thứ hai, những vật dụng bình dị lần lượt xuất hiện:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Nhịp thơ ngắn, cách liệt kê liên tiếp khiến câu thơ giống như một cái nhìn chậm rãi đi qua mâm cơm. Không có bát đĩa quý giá, không có những vật dụng sang trọng. Chỉ có gỗ, dừa và tre – những thứ sinh ra từ đất quê. Cái mộc của vật dụng cũng chính là cái mộc của đời sống. Nhưng ở đây, sự mộc mạc không đồng nghĩa với đơn điệu. Trái lại, những vật dụng ấy mang theo dấu ấn của thời gian và bàn tay con người. Một chiếc mâm gỗ, một chiếc muôi dừa, một đôi đũa tre có thể chẳng đáng bao nhiêu về vật chất, nhưng lại có khả năng lưu giữ cả một miền kí ức.

Nếu những câu thơ trên tạo nên “khung” của bữa cơm thì hai câu tiếp theo chính là “màu” và “vị”:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Nhà thơ dường như không chỉ nhìn bữa cơm bằng đôi mắt mà còn cảm nhận nó bằng vị giác và khứu giác. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “vừng giã mặn” gợi vị mộc, vị quê; còn “chè tươi” gợi một thứ hương vị thanh đạm mà thân thuộc. Những món ăn ấy không có sự cầu kì nhưng lại chứa đựng cả một nền văn hóa ẩm thực dân gian.

Đáng chú ý nhất là cách tác giả gọi tên màu sắc. “Đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” – những màu sắc không quá rực rỡ, nhưng khi đặt cạnh nhau lại tạo thành một bức tranh có chiều sâu. Màu đỏ của gạo, màu thâm của cà, màu vàng của nước chè như những mảng màu cổ kính trên bức tranh quê. Đó là màu của một cuộc sống không son phấn, không hào nhoáng, nhưng chân thực và có sức gợi lạ thường.

Tuy nhiên, giá trị của bài thơ không chỉ nằm ở việc tái hiện một bữa cơm. Đằng sau bữa cơm là một cách nhìn về hạnh phúc:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Có lẽ đây là điểm lắng sâu nhất của tác phẩm. Nhà thơ thừa nhận cái nghèo bằng một chữ “túng”. Nhưng ngay sau đó, ông đặt bên cạnh nó chữ “êm đềm”. Hai trạng thái tưởng như đối lập lại cùng tồn tại. Gia đình có thể thiếu thốn nhưng không lạnh lẽo; cuộc sống có thể vất vả nhưng tâm hồn vẫn thanh thản.

Cụm từ “ngày khó nhọc” gợi cả một đời sống lao động. Đó là những ngày con người phải đổ mồ hôi, phải chống chọi với nắng mưa, với sự thiếu thốn của cuộc đời. Nhưng rồi “tối ngủ yên”. Hai chữ “ngủ yên” vang lên thật nhẹ mà sâu. Nó giống như một sự khẳng định: sau tất cả những nhọc nhằn, con người vẫn có một nơi để trở về, một mái nhà đủ ấm để tâm hồn được nghỉ ngơi.

Và rồi, khi đêm xuống, thiên nhiên xuất hiện như một người bạn lặng thầm:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

“Mái rạ” vốn là biểu tượng của cái nghèo. Nhưng dưới ánh “trăng vàng”, mái rạ ấy lại trở nên đẹp đến nao lòng. Ánh trăng khiến căn nhà không còn đơn sơ nữa mà mang vẻ đẹp cổ tích. “Lơ lửng bóng” tạo nên một cảm giác bồng bềnh, nửa thực nửa mơ. Không gian quê như được đặt trong một khoảnh khắc ngưng đọng, nơi thời gian trôi chậm lại.

Câu thơ cuối đặc biệt gợi cảm:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Chỉ một hình ảnh “vòi cau” thôi đã gợi cả một làng quê. Cây cau vốn đứng thẳng, thanh mảnh, quen thuộc trong sân vườn Việt Nam. Sau mưa, nước đọng trên tàu cau rồi chảy xuống. Nhà thơ bắt lấy khoảnh khắc ấy và đưa vào thơ. Không có tiếng gọi, không có bước chân, không có sự náo động. Chỉ có nước mưa lặng lẽ chảy bên hiên. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại tạo nên cảm giác bình yên sâu xa.

Bức tranh quê vì vậy không chỉ được tạo nên bằng những gì nhìn thấy mà còn bằng những gì nghe thấy trong tưởng tượng: tiếng nước rơi, hơi mưa còn đọng lại, ánh trăng trên mái rạ, sự tĩnh lặng của đêm. Cảnh vật dường như hòa vào tâm trạng. Ngoại cảnh trở thành nội tâm.

Về phương diện nghệ thuật, bài thơ có vẻ đẹp của sự giản dị. Đoàn Văn Cừ sử dụng ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng có sức gợi hình mạnh. Những phép liệt kê liên tiếp khiến đời sống hiện ra cụ thể; các màu sắc “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe”, “trăng vàng” tạo chất hội họa; những hình ảnh “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa tre”, “mái rạ”, “vòi cau” tạo nên một không gian đậm hồn quê. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập giữa “túng” và “êm đềm”, “khó nhọc” và “ngủ yên” đã làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần của con người.

Có thể nói, “Bữa cơm quê” là bài thơ của những điều nhỏ bé. Nhưng chính từ những điều nhỏ bé ấy, nhà thơ đã nói được những điều lớn lao: quê hương, gia đình, hạnh phúc và sự bình yên. Bài thơ khiến ta hiểu rằng có những bữa cơm không cần nhiều món vẫn có thể trở thành bữa cơm đáng nhớ nhất; có những căn nhà không rộng vẫn đủ chỗ cho cả một đời thương nhớ; có những miền quê nghèo vật chất nhưng lại giàu đến vô cùng trong kí ức con người.

Khép lại bài thơ, hình ảnh còn đọng lại không chỉ là “mái rạ trăng vàng” hay “vòi cau mưa chảy nước”, mà là cảm giác bình yên lan ra từ một mái nhà nhỏ. Có lẽ đó chính là vẻ đẹp sâu xa nhất của “Bữa cơm quê”: nhà thơ không chỉ cho ta nhìn thấy một bữa cơm, mà cho ta nhận ra giá trị của một nơi để trở về. Trong dòng đời ngày càng vội vã, những câu thơ của Đoàn Văn Cừ giống như một khoảng lặng dịu dàng, nhắc mỗi người biết trân trọng những gì bình thường nhất – bởi đôi khi, chính những điều tưởng nhỏ bé ấy lại là nơi cất giữ hạnh phúc lớn nhất của một đời người.

Bài tham khảo Mẫu 4

Có những miền quê không cần bước chân trở lại, chỉ cần một hương chè xanh thoảng qua, một tiếng mưa rơi bên hiên hay một ánh trăng chạm lên mái nhà cũng đủ khiến cả một vùng kí ức bừng tỉnh. Quê hương đôi khi không nằm trong những điều lớn lao mà trú ngụ trong những gì nhỏ bé nhất: một mâm cơm, đôi đũa tre, quả cà muối, bát nước chè xanh và bóng cau nghiêng bên mái rạ. Bởi thế, khi đọc “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ, ta không chỉ bắt gặp một bữa ăn dân dã mà như bước vào một miền kí ức đã được phủ lên màu thời gian. Ở đó, cái nghèo không hiện ra khắc nghiệt mà trở nên hiền lành dưới ánh trăng; những nhọc nhằn của ngày tháng được xoa dịu bởi sự êm đềm của mái ấm. Bài thơ vì thế giống như một khúc nhạc nhỏ về quê hương, ngân lên từ những điều bình dị mà sâu xa.

Ngay câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã mở cánh cửa bước vào thế giới ấy:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Câu thơ tưởng như một lời kể nhưng lại có sức gợi thật lạ. “Hai bữa” là nhịp tuần hoàn của đời sống, còn “bên hè” là một khoảng không gian thân thuộc của làng quê. Bữa cơm không được đặt giữa sự sang trọng của phòng ăn mà mở ra dưới trời đất, bên mái nhà, nơi gió và ánh sáng có thể chạm vào từng người. Cái “bên hè” ấy khiến bữa cơm trở thành một phần tự nhiên của đời sống, gần gũi như hơi thở.

Đằng sau câu thơ giản dị ấy là một thế giới vật chất rất đỗi mộc mạc:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Những danh từ nối tiếp nhau như những nét chấm phá của một họa sĩ. Không cần nhiều lời, nhà thơ đã làm hiện ra cả một gia đình quê. Gỗ, dừa, tre – những chất liệu của thiên nhiên, của vườn quê, của bàn tay lao động. “Mộc” vừa tả chất liệu vừa gợi một vẻ đẹp không son phấn. Những vật dụng ấy không hào nhoáng nhưng lại thân thương đến mức dường như đã thấm vào kí ức của bao thế hệ.

Nếu câu thơ trên là đường nét thì hai câu tiếp theo chính là màu sắc và hương vị:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Bức tranh bữa cơm quê bỗng trở nên có màu, có vị. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “vừng giã mặn”, “chè tươi” – những thức ăn không thể bình dân hơn. Nhưng chính sự bình dân ấy lại làm nên vẻ đẹp riêng. Nhà thơ không tìm cái đẹp ở sự phong phú mà tìm nó trong sự chân thành của đời sống.

Đặc biệt, những từ chỉ màu sắc khiến câu thơ như được phủ một lớp ánh sáng hoài niệm. “Đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” là những màu không rực rỡ, nhưng lại gợi một vẻ đẹp cũ kĩ, thân thuộc. “Nước vàng hoe” của chè tươi dường như mang theo cả màu nắng của sân nhà, màu đất của quê hương và màu thời gian của kí ức.

Đọc đến đây, người đọc tưởng như đang ngồi trước mâm cơm ấy, nghe tiếng đũa chạm khẽ vào bát, cảm nhận vị mặn của vừng, vị chát nhẹ của chè, nhìn những vật dụng mộc mạc dưới ánh chiều. Bữa cơm không còn đơn thuần là một bữa ăn. Nó đã trở thành một không gian kí ức.

Nhưng chiều sâu của bài thơ chỉ thực sự mở ra ở hai câu:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Nếu bốn câu đầu thiên về tả thực thì hai câu này giống như một nốt trầm của cảm xúc. Tác giả gọi đúng tên cái nghèo: “túng”. Nhưng chữ “túng” không được đặt cạnh bi kịch mà đặt cạnh “êm đềm”. Người dân quê có thể thiếu thốn nhưng tâm hồn không nghèo nàn. Họ trải qua “ngày khó nhọc” nhưng vẫn có thể “tối ngủ yên”.

“Ngủ yên” là một hình ảnh giản dị mà ám ảnh. Nó không chỉ nói về giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc mà còn gợi trạng thái bình an của tâm hồn. Khi con người còn có một mái nhà để trở về, một bữa cơm để sum họp, một nơi để đặt xuống những nhọc nhằn, thì cuộc sống dẫu nghèo vẫn có thể trở nên giàu có theo một nghĩa khác.

Hai câu thơ vì vậy giống như một lời thủ thỉ về hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi không nằm ở những gì ta sở hữu mà ở cảm giác được thuộc về. Một người có thể không có nhiều của cải nhưng nếu có một mái nhà bình yên, một bữa cơm ấm áp, một giấc ngủ không âu lo thì người ấy vẫn có một kho báu mà tiền bạc không thể mua được.

Từ con người, bài thơ khẽ chuyển sang cảnh vật:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Đây là khoảnh khắc bài thơ đạt đến vẻ đẹp mộng mơ nhất. “Mái rạ” – hình ảnh của cái nghèo – dưới ánh “trăng vàng” lại trở thành một nét vẽ thơ. Trăng phủ lên mái nhà một lớp ánh sáng dịu dàng, biến căn nhà đơn sơ thành một không gian nửa thực nửa mơ. Từ “lơ lửng” khiến bóng trăng như không thuộc hẳn về trời hay đất, mà treo giữa hai thế giới: hiện thực và kí ức.

Câu thơ cuối lại đẹp bởi một chuyển động rất khẽ:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Không phải dòng sông, không phải thác nước, chỉ là những giọt nước còn đọng trên tàu cau rồi chảy xuống bên hiên. Nhưng chính cái nhỏ bé ấy mới tạo nên linh hồn cho cảnh vật. Ta như nghe thấy tiếng nước rơi trong đêm, nhìn thấy hàng cau đứng lặng sau mưa, cảm nhận hơi ẩm còn vương trong không khí. Thiên nhiên không còn là phông nền mà trở thành một phần của cảm xúc.

Bằng thể thơ bảy chữ, nhịp điệu nhẹ nhàng, ngôn ngữ giản dị, nghệ thuật liệt kê và hệ thống hình ảnh giàu màu sắc, Đoàn Văn Cừ đã tạo nên một bức tranh quê vừa chân thực vừa mộng mơ. Điều đặc biệt là nhà thơ không phủ nhận cái nghèo mà làm cho cái nghèo trở nên đẹp bằng tình yêu. Chính tình yêu ấy khiến mâm cơm đạm bạc trở nên ấm áp, mái rạ đơn sơ trở nên thơ mộng, tiếng nước bên hiên trở nên trong trẻo.

“Bữa cơm quê” khép lại nhưng dư âm không khép. Ta vẫn thấy ánh trăng trên mái rạ, vẫn nghe tiếng nước mưa bên hiên, vẫn tưởng như đâu đó có một mâm cơm nhỏ đang chờ người trở về. Và ta hiểu rằng quê hương không phải lúc nào cũng là một miền đất rộng lớn. Quê hương có thể chỉ là một bữa cơm nghèo mà khi đi xa, người ta nhớ đến suốt đời. Bởi nơi ấy có những điều giản dị nhất nhưng cũng thiêng liêng nhất: một mái nhà, một bữa cơm và một sự bình yên để thương nhớ.

Bài tham khảo Mẫu 5

Nếu có một nơi mà thời gian dường như trôi chậm lại, nơi ánh trăng đủ dịu để phủ vàng lên mái rạ, nơi tiếng mưa chỉ cần rơi bên hiên cũng có thể làm lòng người lắng xuống, thì đó có lẽ là quê nhà. Quê hương trong thơ Đoàn Văn Cừ không hiện lên bằng những đường nét hùng vĩ. Nhà thơ không tìm kiếm những cánh đồng bát ngát hay những chân trời rộng lớn. Ông cúi xuống trước một mâm cơm nhỏ, nhìn thật lâu vào những thứ tưởng như bình thường nhất, rồi từ đó đánh thức cả một thế giới. “Bữa cơm quê” vì thế giống như một trang kí ức được viết bằng mùi vị, màu sắc và ánh sáng; càng đọc, ta càng nhận ra phía sau cái đạm bạc của vật chất là sự đầy đặn của tình người.

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Một câu thơ nhẹ như hơi thở. Nhưng chữ “bên hè” khiến không gian lập tức mở ra. Ta thấy một căn nhà quê, một khoảng sân, một mái hiên, có lẽ là một buổi chiều đang xuống. Bữa cơm được dọn ra không chỉ để con người ăn mà như để con người ngồi lại bên nhau. “Hai bữa” còn gợi sự lặp lại của đời sống. Ngày nào cũng vậy, những con người ấy sống, làm việc, trở về và quây quần. Chính sự lặp lại bình dị ấy tạo nên nền tảng của một mái ấm.

Rồi nhà thơ đưa mắt xuống những vật dụng:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Câu thơ như một chuỗi âm thanh mộc mạc. “Gỗ”, “dừa”, “tre” đều là những thứ thuộc về thiên nhiên. Những vật dụng trong bữa cơm dường như chưa bao giờ tách khỏi quê hương. Chúng được làm từ những gì quê nhà ban tặng, bởi bàn tay của chính những con người sống trên mảnh đất ấy. Vì thế, nhìn vào mâm cơm cũng là nhìn vào cả một nền văn hóa làng quê.

Những món ăn xuất hiện sau đó:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Không có thịt cá dư dả, không có cao lương mĩ vị. Chỉ có gạo, cà, vừng và chè. Nhưng những món ăn ấy lại được gọi tên với sự nâng niu. Nhà thơ nhìn thấy màu sắc trong cái nghèo. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “nước vàng hoe” – những gam màu bình dị kết hợp với nhau thành một bảng màu cổ kính của làng quê.

Đặc biệt, từ “vàng hoe” đem đến cho câu thơ một sắc thái rất riêng. Đó không phải màu vàng chói của ánh nắng mà là màu vàng dịu, hơi đục, mang vẻ thân thuộc của nước chè đặc. Nó khiến ta liên tưởng đến buổi trưa nắng, đến chiếc chén nhỏ đặt cạnh mâm cơm, đến câu chuyện gia đình kéo dài trong một buổi chiều quê. Hương vị của món ăn từ đó trở thành hương vị của kí ức.

Nhưng nhà thơ không dừng lại ở việc miêu tả. Ông bất ngờ đưa người đọc từ cái ăn sang cái sống:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ có cấu trúc đối lập nhưng cảm xúc lại thống nhất. “Túng” mà “êm đềm”; “khó nhọc” mà “ngủ yên”. Cái nghèo hiện diện nhưng không thống trị đời sống tinh thần. Nó chỉ là hoàn cảnh, không phải bản chất của hạnh phúc.

Có lẽ “ngủ yên” chính là một trong những hình ảnh giàu ý nghĩa nhất của bài thơ. Con người sau một ngày lao động có thể mỏi mệt, nhưng khi trở về nhà, tâm hồn được thả lỏng. Không cần quá nhiều vật chất, chỉ cần cảm giác bình an. Câu thơ vì vậy vượt khỏi hoàn cảnh của một gia đình cụ thể để chạm tới một khát vọng rất người: được sống một đời bình dị và được bình yên trong chính ngôi nhà của mình.

Và khi màn đêm buông xuống, quê hương bỗng khoác lên mình một vẻ đẹp khác:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng”

“Mái rạ” vốn gợi sự nghèo khó. Nhưng “trăng vàng” đã làm thay đổi tất cả. Ánh trăng khiến mái rạ trở nên mềm mại, khiến cái cũ kĩ trở nên thơ mộng. Nhà thơ không cần nói “đẹp”, bởi hình ảnh tự nó đã đẹp.

Cụm từ “lơ lửng bóng” tạo nên cảm giác mơ hồ. Bóng trăng như trôi giữa không gian, phủ xuống mái nhà, vườn cây, hiên nhỏ. Đây là khoảnh khắc hiện thực được nâng lên thành chất thơ. Cái đẹp không đến từ sự giàu sang mà đến từ ánh nhìn yêu thương của con người đối với nơi mình thuộc về.

Câu cuối càng làm không gian trở nên tĩnh:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Hình ảnh ấy có sức gợi mạnh bởi sự chuyển động rất nhỏ. Nước mưa từ tàu cau chảy xuống bên hiên. Một khoảnh khắc tưởng như không đáng kể nhưng lại khiến cả cảnh vật có linh hồn. Ta có thể nghe được tiếng nước, hình dung được tàu cau ướt, cảm nhận được hơi mưa và cái lạnh dịu của đêm quê.

Cảnh vật lúc này dường như không còn được nhìn từ bên ngoài. Nó đã thấm vào tâm hồn. Mái rạ, trăng vàng, vòi cau, nước mưa – tất cả kết thành một miền kí ức. Và có lẽ, đó cũng là lúc bài thơ đi xa nhất khỏi một “bữa cơm” cụ thể để trở thành bài thơ về quê hương.

Về nghệ thuật, sức hấp dẫn của tác phẩm trước hết nằm ở khả năng lựa chọn chi tiết. Đoàn Văn Cừ không sử dụng những hình ảnh lớn mà chọn những vật nhỏ: mâm, muôi, đũa, gạo, cà, vừng, chè, mái rạ, vòi cau. Nhưng chính những chi tiết ấy tạo nên độ chân thực của bức tranh. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, màu sắc được sử dụng tinh tế, hình ảnh vừa có giá trị tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Đặc biệt, sự đối lập giữa “túng” và “êm đềm”, “khó nhọc” và “ngủ yên” khiến bài thơ có chiều sâu tư tưởng.

“Bữa cơm quê” vì thế không phải một bài thơ chỉ để đọc bằng lí trí. Nó cần được đọc bằng kí ức. Bởi mỗi người đều có thể bắt gặp trong đó một phần tuổi thơ của mình: một mâm cơm đơn sơ, một mái hiên, một bát chè xanh, một đêm mưa, một bóng người thân ngồi bên cạnh.

Và khi bài thơ khép lại, điều còn ở lại không phải là sự nghèo khó mà là vẻ đẹp của bình yên. Có những bữa cơm chỉ có vài món ăn nhưng lại nuôi dưỡng một đời người. Có những mái nhà không rộng nhưng đủ che chở cả một tuổi thơ. Có những đêm quê rất lặng nhưng lại ngân vang trong kí ức suốt cả cuộc đời. Đó chính là sức sống của “Bữa cơm quê”: từ một mâm cơm nhỏ, Đoàn Văn Cừ đã làm hiện lên cả một quê hương lớn trong tâm hồn con người.

Bài tham khảo Mẫu 6

Thơ ca có lẽ là nơi những điều bình thường nhất tìm được một đời sống khác. Một nhành cây trong đời thực chỉ là một nhành cây, nhưng bước vào thơ có thể trở thành biểu tượng của quê hương. Một tiếng mưa bên hiên vốn chỉ là âm thanh của thiên nhiên, nhưng trong kí ức lại có thể trở thành tiếng gọi của tuổi thơ. Và một bữa cơm đạm bạc, nếu được nhìn bằng tình yêu, cũng có thể trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa trở về với quê nhà. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ là một bài thơ như thế. Không ồn ào, không lên giọng, tác giả chỉ nhẹ nhàng đặt trước mắt người đọc một mâm cơm nghèo rồi để từ đó lan ra cả một thế giới: thế giới của mái rạ, hàng cau, ánh trăng, mưa nước và sự bình yên. Đọc bài thơ, ta có cảm giác như đang chạm tay vào một miền quê đã xa, nơi cái nghèo không làm con người khô cằn mà trái lại, càng làm nổi bật vẻ đẹp của tình thân.

Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ tưởng như rất đỗi đời thường:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Không có một tính từ cầu kì, không có một hình ảnh hoa lệ. Chỉ là “cơm”, “hai bữa”, “bên hè”. Nhưng chính sự mộc mạc ấy tạo nên chất chân quê. “Hai bữa” gợi một nhịp sống lặp đi lặp lại, giản dị và đều đặn. “Bên hè” lại mở ra không gian thân thuộc của một ngôi nhà nông thôn. Ta có thể hình dung một khoảng sân nhỏ, mái hiên thấp, ánh nắng cuối ngày và những con người chuẩn bị ngồi xuống bên nhau.

Từ không gian ấy, nhà thơ lần lượt gọi tên những vật dụng:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Ba hình ảnh như ba nét vẽ, không cầu kì mà chính xác. Chất liệu “gỗ”, “dừa”, “tre” khiến người đọc cảm nhận rõ sự gần gũi của đời sống quê. Không phải những đồ dùng sang trọng, chỉ là những thứ được tạo nên từ những gì sẵn có. Nhưng có lẽ vì thế mà chúng mang một vẻ đẹp không thể thay thế: vẻ đẹp của sự thân thuộc.

Những món ăn tiếp tục xuất hiện:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Bữa cơm được nhìn từ những gì nhỏ nhất. Nhà thơ không nói “nghèo”, mà để cái nghèo tự cất tiếng qua từng món ăn. Không có sự phong phú, chỉ có những thức ăn dân dã. Thế nhưng lạ thay, khi đi vào thơ, chúng không hề gợi cảm giác thiếu thốn một cách lạnh lẽo. Ngược lại, chúng gợi một cảm giác ấm áp, gần gũi, như thể mỗi món ăn đều mang theo bàn tay của mẹ, của bà, của những người đã âm thầm giữ lửa cho mái nhà.

Đặc biệt, nhà thơ cảm nhận bữa cơm bằng màu sắc. “Đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” là những gam màu đậm chất quê. Không rực rỡ, không lấp lánh, nhưng sâu và bền. Câu thơ “Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” dường như còn có cả ánh sáng. Ta nhìn thấy màu chè, tưởng như ngửi thấy hương lá tươi, cảm nhận vị chát thanh nơi đầu lưỡi. Bằng một câu thơ, nhà thơ đã đánh thức nhiều giác quan của người đọc.

Nhưng bữa cơm chỉ là cánh cửa. Đi qua cánh cửa ấy, ta bắt gặp điều quan trọng hơn:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ như một khoảng lặng. Cái nghèo được nói ra rất thẳng: “túng”. Cuộc sống cũng không được che giấu: “khó nhọc”. Nhưng bên cạnh đó là “êm đềm”, là “ngủ yên”. Hai chữ “ngủ yên” khiến cả bài thơ như dịu xuống.

Có lẽ, con người ta đi qua bao nhiêu năm tháng cuối cùng cũng chỉ mong tìm được một nơi có thể ngủ yên. “Ngủ yên” không chỉ là nhắm mắt sau một ngày lao động. Đó còn là sự bình an của tâm hồn, là cảm giác không bị cuộc đời xô đẩy khỏi nơi mình thuộc về. Căn nhà có thể nghèo, bữa cơm có thể đạm bạc, nhưng nếu nơi ấy có sự yêu thương thì con người vẫn có thể sống một đời ấm áp.

Và khi ngày khép lại, quê hương bước vào miền của trăng:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng”

Một hình ảnh đẹp như tranh. Mái rạ vốn thô mộc, đơn sơ. Nhưng ánh trăng đã phủ lên nó một vẻ đẹp dịu dàng. “Trăng vàng” không chỉ là ánh sáng của thiên nhiên mà còn giống như ánh sáng của kí ức. Nó khiến căn nhà nghèo trở nên huyền ảo, khiến cái cũ kĩ trở nên thơ mộng.

Từ “lơ lửng” đặc biệt gợi cảm. Bóng trăng dường như không đứng yên, cũng không chuyển động rõ ràng, mà trôi nhẹ giữa không gian. Nhịp thơ theo đó cũng trở nên chậm hơn. Người đọc như được mời đứng lại, nhìn thật lâu vào mái nhà và để lòng mình trôi theo ánh trăng.

Nếu ánh trăng tạo nên chất mơ thì dòng nước tạo nên âm thanh cho bức tranh:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Một hình ảnh rất nhỏ nhưng giàu sức gợi. Sau mưa, nước đọng trên tàu cau rồi chảy xuống. Ta có thể nghe thấy tiếng nước nhỏ, nhìn thấy mái hiên ướt, hàng cau rung nhẹ và căn nhà nằm yên trong đêm. Cảnh vật không náo động. Chính sự tĩnh lặng ấy làm nên vẻ đẹp.

Ở đây, thiên nhiên dường như đã hòa vào đời sống. Mái rạ là mái nhà. Vòi cau là dấu hiệu của khu vườn. Hiên nhà là nơi con người trú ngụ. Trăng và mưa là những người bạn âm thầm chứng kiến cuộc sống. Tất cả kết thành một không gian vừa thực vừa mộng, nơi con người được bao bọc bởi quê hương.

Nếu nhìn từ phương diện nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ nghệ thuật chọn lọc chi tiết và tạo dựng không gian. Tác giả không cần nhiều hình ảnh mà chỉ sử dụng vài nét đặc trưng đã đủ gợi cả một miền quê. Phép liệt kê làm hiện lên bữa cơm cụ thể; những màu sắc dân dã tạo nên chất hội họa; các hình ảnh mái rạ, hàng cau, mưa, trăng đem đến chất thơ mộng. Đặc biệt, ngôn ngữ giản dị nhưng không đơn giản: phía sau những câu thơ tưởng như lời kể là một cái nhìn nhân hậu đối với cuộc sống.

Điều đáng quý nhất của “Bữa cơm quê” là nhà thơ không biến cái nghèo thành một nỗi bi thương. Ông nhìn nó từ phía con người. Bởi vậy, trong cái nghèo vẫn có ánh trăng, trong nhọc nhằn vẫn có giấc ngủ yên, trong bữa cơm đạm bạc vẫn có hơi ấm của mái nhà. Đây chính là chiều sâu nhân văn của bài thơ.

Có lẽ rồi một ngày, những mâm cơm cũ sẽ không còn, những mái rạ sẽ thay bằng những ngôi nhà mới, những vật dụng tre gỗ sẽ dần lui vào kí ức. Nhưng thơ ca đã kịp giữ lại một khoảnh khắc. Đoàn Văn Cừ đã giữ lại màu “vàng hoe” của bát chè, sắc trăng trên mái rạ và dòng nước chảy bên hiên. Và hơn hết, ông giữ lại cảm giác bình yên của một mái nhà nghèo.

Bởi vậy, “Bữa cơm quê” không chỉ là bài thơ viết về một bữa cơm. Đó là bài thơ viết về cội nguồn của hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi chẳng ở đâu xa: nó ngồi bên mâm cơm, nằm dưới mái rạ, nép bên hiên nhà và lặng lẽ đi vào giấc ngủ của con người. Để rồi khi ta đi xa, chỉ cần một ánh trăng, một tiếng mưa hay một hương chè xanh cũng đủ khiến trái tim bất chợt quay về. Quay về với quê hương – nơi những điều nhỏ bé nhất lại có sức thương nhớ lớn lao nhất.

Bài tham khảo Mẫu 7

Mỗi một góc nhỏ của làng quê Việt Nam dưới lăng kính của Đoàn Văn Cừ đều hiện lên tựa một bức tranh thẫm đẫm tình quê, vừa chân phương, vừa dạt dào cảm xúc. Nếu như ở nhiều tác phẩm khác, ngòi bút của ông thường reo vui cùng nhịp sống rực rỡ của hội hè, chợ Tết, thì đến với Bữa cơm quê, không gian nghệ thuật ấy lại chùng xuống, lắng lại trong một khoảng lặng cơ hàn nhưng vô cùng ấm áp. Đoạn thơ không chỉ đơn thuần là sự ghi lại một lát cắt sinh hoạt đời thường của người nông dân, mà sâu thẳm hơn, đó là khúc ca ngợi vẻ đẹp bền bỉ của tình thân, sự an nhiên trong tâm hồn con người giữa một cuộc đời còn lắm nhọc nhằn, dâu bể.

Mở đầu tác phẩm, nhà thơ đưa người đọc bước thẳng vào không gian sinh hoạt tối giản, nơi bữa cơm đạm bạc hiện hình qua thứ ngôn ngữ mộc mạc, đậm đặc chất liệu dân gian:

Cơm ngày hai bữa dọn bên hè Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe

Không gian thưởng thức bữa ăn không nằm trong những căn phòng kín cổng cao tường mà mở ra khoáng đạt “bên hè”, hòa quyện trọn vẹn với gió trời, cỏ cây và hương vị đồng nội. Toàn bộ hệ thống đồ dùng xuất hiện qua những danh từ thô sơ: “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre”. Đó là những sản vật được tạo ra từ chính đôi bàn tay chai sần, từ làng nghề và sự khéo léo của người nhà quê. Thực đơn dọn lên mâm cũng nghèo khó, đạm bạc đến chạnh lòng: “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn”. Hạt gạo lất đẫm mồ hôi dãi nắng dầm sương, quả cà muối thâm chát mặn cùng chén vừng giã vội chính là kết quả của một đời nhọc nhằn bám đất bám bùn. Thế nhưng, điều kỳ diệu là đằng sau sự thiếu thốn vật chất ấy lại tỏa ra hương vị nồng hậu của bát “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”. Bằng cái nhìn đầy ân tình và sự đồng cảm sâu sắc, Đoàn Văn Cừ không hề biến bữa cơm nghèo thành một bản bi ca; trái lại, ông nâng niu nó như một biểu tượng thiêng liêng của sự gắn kết bền chặt, thủy chung với cội nguồn lam lũ, nơi con người tìm thấy sự trọn vẹn trong chính những điều thiếu thốn nhất.

Vượt lên trên những cay đắng của thực tại, bước sang khổ thơ tiếp theo, nhịp thơ chậm lại để ôm trọn khoảng không gian tĩnh mịch và chiều sâu tâm trạng của con người trước màn đêm buông xuống:

Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng Vòi cau mưa chảy nước bên hiên

Nhà thơ khéo léo đặt vào trung tâm bức tranh một cấu trúc đối lập vô cùng thấm thía: “dẫu túng vẫn êm đềm”, “ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”. Cái đói cái nghèo có thể bủa vây gót chân người nông dân trong suốt những giờ lao động vắt kiệt sức lực dưới ruộng sâu bùn lầy, nhưng hoàn toàn bất lực trước sự ấm áp, thuận hòa bên trong mái nhà tranh. Đêm về, khi những nhọc nhằn mưu sinh tạm gác lại sau lũy tre làng, họ tìm thấy sự thảnh thơi hiếm hoi trong giấc ngủ bình yên, sâu lắng. Khung cảnh ấy càng trở nên đắt giá và thơ mộng hơn khi hòa quyện với thiên nhiên ngoại cảnh. Ánh “trăng vàng” vắt vẻo, lơ lửng trên “mái rạ” nghèo gợi lên nét thanh tao, cổ kính của làng quê truyền thống. Tiếng mưa rỉ qua “vòi cau” bên hiên nhà ngân lên như một khúc nhạc trầm buồn, chở che và ôm ấp cho cả một không gian ngập tràn tình thân ái.

Khép lại tác phẩm, giá trị trường tồn của đoạn thơ nằm ở sự kết hợp hoàn hảo giữa thể thơ thất ngôn nhịp nhàng, uyển chuyển với hệ thống từ ngữ đậm chất ca dao, tục ngữ. Đoàn Văn Cừ đã dựng lên một bức tượng đài bằng ngôn từ tôn vinh vẻ đẹp kiêu hãnh của con người lao động: những con người dẫu gánh chịu muôn vàn gian khổ vẫn giữ trọn sự trong sạch, an nhiên và tình nghĩa thủy chung son sắt với đất trời, quê hương.

Bài tham khảo Mẫu 8

Có những giá trị chỉ khi đứng từ xa con người mới nhận ra mình đã từng may mắn đến nhường nào. Một mái nhà bình thường, một bữa cơm đạm bạc, một đêm ngủ yên – lúc hiện hữu, chúng giản dị đến mức người ta có thể vô tình xem đó là điều hiển nhiên. Nhưng khi năm tháng trôi qua, khi con người bước ra khỏi khoảng sân nhỏ của tuổi thơ để đi vào những miền đời rộng lớn, chính những điều tưởng như bình thường ấy lại trở thành nơi kí ức tìm về. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ là một bài thơ được tạo nên từ những gì nhỏ bé như thế. Không kể một câu chuyện đặc biệt, không dựng lên một biến cố lớn lao, nhà thơ chỉ miêu tả một bữa cơm quê. Thế nhưng từ mâm cơm ấy, cả một quan niệm về quê hương, gia đình và hạnh phúc đã âm thầm hiện ra.

Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bởi cách tác giả nhìn thẳng vào đời sống mà không hề tô son điểm phấn:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè
Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Hai câu thơ gần như không có khoảng cách giữa thơ và lời kể. Những hình ảnh được gọi tên trực tiếp: “cơm”, “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa tre”. Chính sự bình dị ấy làm nên sức thuyết phục. Đó không phải một quê hương được tưởng tượng từ những vẻ đẹp xa xôi mà là một quê hương có thật, hiện hữu trong từng vật dụng của đời sống.

Đáng chú ý, nhà thơ lựa chọn những đồ vật có nguồn gốc từ thiên nhiên. Gỗ, dừa, tre đều mang dấu ấn của làng quê. Chúng vừa là vật dụng, vừa là những tín hiệu văn hóa. Chỉ qua một câu thơ, người đọc đã nhận ra một nếp sống mộc mạc, nơi con người sử dụng những gì gần gũi nhất quanh mình. Có thể nói, cái “quê” trong “Bữa cơm quê” không nằm ở một địa danh cụ thể mà nằm trong chính chất liệu của đời sống.

Rồi mâm cơm hiện lên rõ hơn qua những món ăn:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Cái nghèo được nói bằng hình ảnh chứ không bằng lời than. Không có món ăn sang trọng, chỉ có gạo, cà, vừng và chè. Nhưng điều đặc biệt là giọng thơ không hề bi lụy. Nhà thơ không nhìn những món ăn ấy như dấu hiệu của sự thiếu thốn đáng thương mà nhìn chúng như một phần đáng nhớ của quê hương.

Đó chính là điểm tinh tế trong cảm quan của Đoàn Văn Cừ. Ông không phủ nhận cái nghèo, nhưng cũng không để cái nghèo che khuất vẻ đẹp của đời sống. Những món ăn dân dã được cảm nhận bằng màu sắc: “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe”. Cái nhìn của nhà thơ đã biến một mâm cơm đơn sơ thành một bức tranh. Trong bức tranh ấy, mỗi món ăn đều mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả cùng tạo nên một gam màu chung: gam màu của quê nhà.

Đặc biệt, câu thơ “Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” đem lại một cảm giác rất gần gũi. Màu nước chè không chỉ được nhìn thấy mà dường như còn được nếm bằng vị giác, ngửi bằng khứu giác. Câu thơ vì thế có sức đánh thức kí ức. Nó khiến người đọc không chỉ “thấy” bữa cơm mà còn như “nếm” được quê hương.

Nhưng bức tranh ấy chỉ thực sự có chiều sâu khi nhà thơ chuyển từ việc tả bữa cơm sang suy ngẫm về cuộc sống:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai chữ “túng” và “khó nhọc” cho thấy cuộc sống không hề dễ dàng. Con người phải đối diện với những thiếu thốn vật chất và những nhọc nhằn của lao động. Nhưng đáng quý thay, bên cạnh “túng” là “êm đềm”, bên cạnh “khó nhọc” là “ngủ yên”.

Đây chính là nghịch lí đẹp nhất của bài thơ.

Một gia đình nghèo vẫn có thể bình yên. Một cuộc đời vất vả vẫn có thể thanh thản. Bởi hạnh phúc không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với giàu có. Có những thứ thuộc về đời sống tinh thần mà vật chất không thể thay thế. Đó là sự gắn bó, là cảm giác được trở về, là niềm tin rằng sau một ngày mệt mỏi vẫn có một mái nhà đón mình.

“Ngủ yên” vì thế mang ý nghĩa vượt xa một trạng thái nghỉ ngơi. Đó là biểu tượng của sự bình an. Một người có thể sống thiếu thốn nhưng vẫn ngủ yên nếu lòng họ không bị xé nát bởi cô đơn và bất an. Chính điều ấy khiến bữa cơm quê trở thành trung tâm của một mái ấm: nó không nuôi sống con người bằng thức ăn mà còn nuôi dưỡng họ bằng cảm giác thuộc về.

Sau cái nhìn về con người, nhà thơ khép lại bằng thiên nhiên:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Nếu những câu thơ trước nghiêng về hiện thực thì hai câu cuối lại phủ lên bài thơ một lớp ánh sáng mơ hồ. “Mái rạ” là hình ảnh của sự nghèo khó, nhưng dưới ánh “trăng vàng”, nó trở nên mềm mại và thơ mộng. Ánh trăng dường như không chỉ chiếu sáng cảnh vật mà còn làm dịu đi mọi nhọc nhằn của cuộc sống.

“Lơ lửng bóng” khiến cảnh vật mang vẻ huyền ảo. Bóng trăng không đứng yên mà như trôi nhẹ trong không gian. Còn “vòi cau mưa chảy nước bên hiên” lại đem đến một chuyển động nhỏ bé. Nước mưa chảy từ tàu cau xuống bên hiên, tạo thành một âm thanh tưởng tượng rất khẽ. Cảnh vật gần như không có con người nhưng lại đầy hơi ấm của con người, bởi ta biết phía sau mái hiên ấy là một mái nhà đang chìm trong giấc ngủ.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật ở khả năng lấy cái nhỏ để gợi cái lớn. Nhà thơ chỉ viết về mâm cơm nhưng gợi được quê hương; chỉ nói về mái rạ nhưng gợi được mái ấm; chỉ nhắc đến giấc ngủ nhưng gợi được bình yên. Ngôn ngữ thơ giản dị, hình ảnh chân thực, phép liệt kê tạo độ cụ thể, màu sắc tạo chất hội họa và sự đối lập tạo chiều sâu tư tưởng.

Có thể nói, “Bữa cơm quê” là một bài thơ nhỏ về một điều nhỏ nhưng chứa đựng một tình cảm lớn. Nó khiến ta nhận ra rằng điều quý giá nhất của quê hương đôi khi không phải là cảnh đẹp hay những điều phi thường, mà chính là cảm giác được sống trong một mái nhà nơi con người có thể cùng nhau ăn một bữa cơm và cuối ngày được ngủ yên.

Bởi thế, khi đọc bài thơ, ta không chỉ nhìn thấy một miền quê của Đoàn Văn Cừ. Ta còn bắt gặp quê hương của chính mình – một nơi có thể đã xa, có thể đã đổi thay, nhưng vẫn nằm nguyên trong kí ức qua một mâm cơm giản dị, một mái rạ dưới trăng và tiếng nước mưa âm thầm bên hiên.

Bài tham khảo Mẫu 9

Trong thế giới của thơ ca, có những hình tượng càng nhỏ bé càng có khả năng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa. Một chiếc lá có thể gợi mùa thu, một dòng sông có thể gợi quê hương, và một bữa cơm có thể gợi cả một đời người. Bởi bữa cơm không chỉ có thức ăn; nó có bàn tay người nấu, có những người ngồi quanh mâm, có những câu chuyện được kể, có những tháng ngày được sống cùng nhau. Với Đoàn Văn Cừ, bữa cơm quê trở thành một điểm hội tụ như thế. Từ những chi tiết hết sức đời thường, bài thơ mở ra trước người đọc một thế giới nông thôn Việt Nam vừa chân thực vừa giàu chất thơ, nơi nghèo khó không làm mất đi sự ấm áp và nơi bình yên trở thành vẻ đẹp lớn nhất.

Hình tượng trung tâm của bài thơ trước hết được tạo nên từ những đường nét rất thực:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè
Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Ở đây, nhà thơ không miêu tả con người trực tiếp. Ông để con người hiện diện qua những gì họ sử dụng. Một mâm gỗ, một chiếc muôi dừa, những đôi đũa tre đã đủ nói lên điều kiện sống. Nhưng đồng thời, những vật dụng ấy cũng gợi một nền văn hóa. Chúng mang chất liệu của quê hương, giản dị và tự nhiên như chính đời sống nơi đây.

Cách liệt kê khiến câu thơ giống như một cái nhìn chậm. Mắt người đọc lần lượt dừng lại ở từng vật: mâm, muôi, đũa. Không có gì dư thừa. Mỗi chi tiết đều có nhiệm vụ dựng lên không gian. Bởi vậy, chỉ hai câu thơ, người đọc đã có thể hình dung một bữa cơm được đặt trong một căn nhà quê bình dị.

Nhưng nếu vật dụng là “hình hài” thì món ăn chính là “hồn vía” của bữa cơm:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Nhà thơ gọi tên những món ăn bằng một giọng bình thản. Chính sự bình thản ấy đáng chú ý. Ông không than nghèo, cũng không cố làm cho bữa ăn trở nên đẹp một cách giả tạo. Cái đẹp được tìm thấy ngay trong cái bình thường.

“Gạo đỏ” gợi một loại lương thực dân dã; “cà thâm” gợi vị quê; “vừng giã mặn” gợi sự giản đơn; “chè tươi” gợi hương vị thanh mát của làng quê. Tất cả hòa vào nhau thành một bữa cơm không phong phú về món ăn nhưng giàu về cảm giác.

Đặc biệt, hệ thống màu sắc trong hai câu thơ tạo nên chất hội họa rõ nét. “Đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” là những màu sắc có phần trầm, không chói sáng. Chúng phù hợp với thế giới nông thôn mà nhà thơ đang tái hiện: một thế giới không hào nhoáng, nhưng có chiều sâu của thời gian.

Nếu nhìn kĩ, ta sẽ thấy nhà thơ không đơn thuần miêu tả thức ăn. Ông đang lưu giữ một nền kí ức. Bởi con người có thể quên một ngày tháng cụ thể, nhưng rất khó quên một hương vị. Một bát chè xanh có thể đưa người ta trở lại sân nhà cũ. Một món cà dân dã có thể khiến người xa quê nhớ đến bữa cơm của mẹ. Bởi thế, bữa cơm trong thơ mang sức mạnh của kí ức.

Từ hình tượng bữa cơm, nhà thơ mở rộng thành hình tượng mái ấm:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Nếu ở bốn câu đầu, cái nghèo hiện lên qua vật dụng và món ăn, thì ở đây nó được gọi tên trực tiếp. Nhưng điều đặc biệt nằm ở quan hệ giữa các từ ngữ. “Túng” đối lập với “êm đềm”; “khó nhọc” đối lập với “ngủ yên”. Hai câu thơ giống như một phép cân bằng: đời sống vật chất có thể thiếu thốn nhưng đời sống tinh thần vẫn đủ đầy.

Đó là một quan niệm rất đẹp về hạnh phúc.

Con người không sống chỉ bằng cơm áo. Sau những nhọc nhằn, họ cần một nơi để trở về. Và mái nhà quê ấy chính là nơi làm được điều đó. Bởi vậy, “ngủ yên” trở thành một hình tượng có sức nặng. Nó là sự kết thúc của một ngày lao động, nhưng cũng là sự khẳng định về một cuộc sống có nền tảng yêu thương.

Nếu bữa cơm là điểm tụ của con người thì cảnh vật là chiếc nền bao quanh mái ấm:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Hai câu cuối khiến hình tượng quê hương chuyển từ cái thực sang cái mộng. “Mái rạ” vốn chỉ là một chi tiết vật chất nhưng dưới ánh “trăng vàng” lại mang vẻ đẹp gần như cổ tích. Cái nghèo được ánh trăng làm mềm đi. Căn nhà nhỏ trở nên lung linh không phải vì nó giàu mà vì nó được nhìn bằng tình yêu.

Còn “vòi cau” là một chi tiết đậm dấu ấn làng quê. Cây cau đứng bên nhà, nước mưa chảy xuống, rồi rơi “bên hiên”. Chỉ một dòng nước nhỏ mà khiến cảnh vật như có âm thanh. Ta tưởng như đang đứng trong một đêm quê yên tĩnh, nghe tiếng nước rơi và cảm nhận sự sống đang chậm lại.

Bức tranh kết thúc không bằng một lời khẳng định mà bằng một hình ảnh. Đó là cách kết thúc rất có sức gợi. Nhà thơ không nói “quê hương thật đẹp”, nhưng người đọc vẫn cảm thấy đẹp. Không nói “gia đình thật hạnh phúc”, nhưng “ngủ yên” đã nói thay tất cả.

Có thể xem toàn bài thơ như một hành trình của cái nhìn: từ mâm cơm đến mái nhà, từ mái nhà đến cảnh vật, từ cảnh vật đến chiều sâu tâm hồn. Càng đi sâu, ta càng nhận ra đối tượng mà nhà thơ thực sự muốn nâng niu không phải là bữa cơm, mà là một đời sống bình dị có tình người.

Nghệ thuật của bài thơ cũng nằm chính ở sự tiết chế. Câu chữ không cầu kì, hình ảnh không xa lạ, nhưng cách sắp xếp chi tiết rất có chủ ý. Những phép liệt kê tạo nhịp điệu đời thường; màu sắc tạo nên bức tranh; hình ảnh thiên nhiên làm mềm hiện thực; sự đối lập làm bật lên tư tưởng. Tất cả kết hợp để tạo nên một giọng thơ vừa chân thực vừa tha thiết.

“Bữa cơm quê” vì vậy giống như một bức ảnh cũ. Càng nhìn, ta càng thấy nhiều điều. Trong mâm cơm có cái nghèo, nhưng cũng có sự sống. Trong mái rạ có sự đơn sơ, nhưng cũng có ánh trăng. Trong một ngày “khó nhọc” vẫn có một đêm “ngủ yên”. Và trong những điều nhỏ bé ấy, quê hương hiện lên không phải như một khái niệm trừu tượng mà như một nơi chốn có thể chạm vào, có thể nhớ thương.

Đọc bài thơ, ta chợt hiểu: quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi những điều bình thường nhất từng khiến ta hạnh phúc. Có lẽ vì vậy mà một bữa cơm quê có thể theo con người đi suốt cả cuộc đời, dù năm tháng có đưa họ đến bao nhiêu miền đất khác.

Bài tham khảo Mẫu 10

Người ta thường nhớ quê hương bằng những gì đã từng ở rất gần mình. Một tiếng gọi thân quen, một hàng cây trước ngõ, một mùi khói bếp trong chiều, một món ăn giản dị của mẹ… Những điều ấy không ồn ào bước vào kí ức, nhưng lại âm thầm ở lại lâu hơn tất cả. Bởi quê hương không chỉ là một miền đất trên bản đồ; quê hương là tổng hòa của những gì đã nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở bé. Trong “Bữa cơm quê”, Đoàn Văn Cừ đã lựa chọn một hình ảnh tưởng như rất nhỏ bé để nói về quê hương: một bữa cơm gia đình. Từ mâm gỗ, đôi đũa tre, quả cà, chút vừng đến mái rạ, hàng cau và ánh trăng, nhà thơ đã dựng nên một thế giới quê nghèo mà đẹp, nơi con người tìm thấy niềm hạnh phúc trong sự giản dị và bình yên.

Trước hết, bữa cơm được tái hiện bằng những nét vẽ rất chân thực:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè
Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Câu thơ đầu tiên giống như một lời kể về sinh hoạt thường ngày. Nhưng chính sự bình thường ấy lại khiến hình ảnh trở nên gần gũi. “Hai bữa” gợi một nhịp sống đều đặn, không có gì thay đổi. “Bên hè” lại là không gian đặc trưng của những ngôi nhà quê. Bữa cơm vì vậy không tách khỏi đời sống mà hòa vào đời sống.

Câu thơ thứ hai đặc biệt giàu sức gợi bởi cách liệt kê: “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre”. Những vật dụng ấy đều mang vẻ đẹp nguyên sơ. Chúng không được chế tác cầu kì mà gần như giữ nguyên dấu vết của chất liệu tự nhiên. Qua đó, người đọc nhận ra một cuộc sống thanh đạm, gắn bó với thiên nhiên và lao động.

Nhưng cái làm nên hương vị của bữa cơm không chỉ là vật dụng mà còn là những thức ăn dân dã:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Cách gọi tên món ăn rất ngắn gọn, gần như không có sự tô điểm. Nhưng đằng sau những chữ “gạo”, “cà”, “vừng”, “chè” là cả một thế giới đời sống. Đây là bữa cơm của những người lao động, nơi sự no đủ chưa phải điều dễ dàng. Nhà thơ không né tránh hiện thực ấy.

Tuy nhiên, điều đáng quý là Đoàn Văn Cừ không nhìn cái nghèo bằng sự thương hại. Ông nhìn nó bằng tình yêu. Những món ăn đạm bạc hiện lên không hề khô khan mà có màu sắc, có hương vị. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “nước vàng hoe” tạo nên một bảng màu rất riêng. Đó là những màu sắc của quê, của bếp, của những ngày tháng đã cũ. Chúng khiến bữa cơm hiện lên như một kỉ niệm đã được thời gian nhuộm màu.

Trong đó, hình ảnh “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” đặc biệt gợi cảm. Bát chè xanh dường như chứa cả buổi chiều quê trong đó. Màu vàng của nước chè, vị chát thanh, hương lá tươi – tất cả khiến người đọc liên tưởng đến những buổi trò chuyện bên hiên, đến không khí gia đình sau một ngày lao động. Bữa cơm vì vậy không còn chỉ là nhu cầu ăn uống mà đã trở thành một nghi thức gắn kết con người.

Sau khi dựng lại bữa cơm, nhà thơ đi sâu hơn vào đời sống của những con người phía sau mâm cơm:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ chứa đựng một sự đối lập đầy ý nghĩa. “Túng” nhưng “êm đềm”; “khó nhọc” nhưng “ngủ yên”. Nếu chỉ nhìn vào vật chất, đây rõ ràng là một gia đình nghèo. Nhưng nếu nhìn vào đời sống tinh thần, ta lại bắt gặp một sự giàu có khác.

Đó là sự giàu có của tình thân.

Có lẽ nhà thơ muốn nói rằng một mái nhà không trở nên ấm áp vì nó có bao nhiêu đồ đạc, mà vì ở đó con người cảm thấy mình được chở che. Một bữa cơm không trở nên ngon bởi có nhiều món, mà bởi có những người thân cùng ngồi bên nhau. Một ngày không trở nên có ý nghĩa bởi nó dễ dàng, mà bởi sau những khó nhọc, con người vẫn có thể trở về và “ngủ yên”.

Hai chữ “ngủ yên” khiến câu thơ trở nên sâu sắc. Đó là giấc ngủ của thân thể sau lao động nhưng cũng là giấc ngủ của một tâm hồn không bị bất an. Trong cuộc sống, có lẽ chẳng có điều gì quý hơn cảm giác bình yên. Và nhà thơ đã đặt sự bình yên ấy trong một căn nhà nghèo, qua đó khẳng định vẻ đẹp của hạnh phúc giản đơn.

Bức tranh tiếp tục chuyển sang buổi tối:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Ở đây, chất hiện thực được hòa quyện với chất mộng. “Mái rạ” gợi cái nghèo nhưng “trăng vàng” lại đem đến vẻ đẹp dịu dàng. Ánh trăng dường như đã làm cho căn nhà nhỏ trở nên rộng hơn trong tâm tưởng. Nó không còn là một mái nhà đơn sơ mà trở thành nơi chứa đựng kí ức và tình yêu.

Từ “lơ lửng” khiến hình ảnh trở nên có chiều sâu. Bóng trăng như trôi giữa không trung, phủ lên mái nhà một vẻ đẹp mơ hồ. Nhịp thơ vì thế cũng chậm lại, nhẹ xuống, như đưa người đọc vào một đêm quê thanh tĩnh.

Câu cuối khép lại bằng hình ảnh “vòi cau”. Đây là một chi tiết rất đặc trưng của làng quê Việt Nam. Mưa đã ngớt nhưng nước vẫn còn chảy từ tàu cau xuống bên hiên. Một chuyển động nhỏ bé nhưng khiến không gian có âm thanh. Ta như nghe thấy tiếng nước rơi trong đêm, nhìn thấy mái hiên còn ướt và hàng cau đứng lặng trong ánh trăng.

Cảnh vật lúc này không chỉ được nhìn mà còn được nghe và cảm. Thiên nhiên trở thành một phần của kí ức. Chính sự tĩnh lặng của cảnh vật càng làm nổi bật sự bình yên của mái nhà.

Xét về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ cách sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi. Phép liệt kê giúp nhà thơ tái hiện cụ thể từng vật dụng và món ăn. Hệ thống màu sắc tạo nên chất hội họa. Những hình ảnh như mái rạ, hàng cau, mưa, trăng đem đến vẻ đẹp giàu chất thơ. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập giữa nghèo khó và bình yên đã giúp bài thơ vượt khỏi ý nghĩa tả thực để trở thành một lời suy ngẫm về giá trị của hạnh phúc.

Điều khiến “Bữa cơm quê” đáng nhớ nhất có lẽ không nằm ở sự đặc biệt của hình ảnh mà ở tình cảm đằng sau hình ảnh. Nhà thơ nhìn một bữa cơm bằng ánh mắt của người hiểu rằng những gì bình thường nhất đôi khi lại là những gì đáng nâng niu nhất. Ông không làm cho quê hương trở nên vĩ đại bằng những lời ngợi ca lớn lao; ông chỉ đặt trước mắt người đọc một mâm cơm nhỏ, rồi để chính sự giản dị của nó lên tiếng.

Bởi vậy, đọc “Bữa cơm quê”, ta không chỉ thấy một căn nhà nghèo của ngày xưa. Ta thấy cả một cách sống: sống trong thiếu thốn mà không thiếu tình yêu, lao động vất vả mà không đánh mất sự thanh thản, không có nhiều của cải nhưng có một nơi để trở về. Và khi ánh trăng rơi xuống mái rạ, khi nước mưa còn chảy bên hiên, bữa cơm ấy dường như vượt khỏi giới hạn của một khoảnh khắc để trở thành biểu tượng của quê hương.

Có những điều trong đời càng giản dị càng khiến người ta day dứt khi nhớ về. Một mâm cơm, một mái nhà, một đêm trăng – chỉ thế thôi mà đủ để gọi tên quê hương. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ vì thế giống như một nốt nhạc trầm trong bản nhạc của kí ức: không rực rỡ, không ồn ào, nhưng ngân rất lâu. Và sau cùng, điều bài thơ giữ lại trong lòng người đọc chính là một niềm tin đẹp đẽ: hạnh phúc đôi khi không nằm ở nơi cuộc sống đủ đầy nhất, mà nằm ở nơi con người được yêu thương và có thể bình yên gọi hai tiếng “nhà mình”.

Bài tham khảo Mẫu 11

Giữa dòng chảy cuộn trào của phong trào Thơ mới, nơi nhiều nhà thơ mải miết đuổi theo những biểu tượng tân kỳ hay nỗi buồn lãng mạn vẩn vơ, Đoàn Văn Cừ vẫn lặng lẽ neo giữ tâm hồn mình ở những bến bờ quê hương mộc mạc, bình dị. Đọc thơ ông, ta như được trở về với khoảng trời ký ức thanh êm của làng quê Việt Nam truyền thống. Tiêu biểu cho hồn thơ đậm đà tình nghĩa ấy là đoạn thơ trích từ tác phẩm Bữa cơm quê. Bằng cái nhìn đầy ân tình và ngòi bút giàu chất họa, tác giả đã tái hiện trọn vẹn bức tranh sinh hoạt cơ hàn nhưng ấm áp nghĩa tình, qua đó ngợi ca vẻ đẹp an nhiên, kiên cường của người nông dân một nắng hai sương.

Mở đầu tác phẩm, nhà thơ phác họa bức tranh bữa cơm nghèo khó bằng hệ thống từ ngữ mộc mạc, đậm đặc chất liệu dân gian, gợi lên một không gian sống vô cùng gần gũi:

Cơm ngày hai bữa dọn bên hè Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe

Không gian thưởng thức bữa ăn không bị giam hãm trong những bốn bức tường ngột ngạt mà mở ra khoáng đạt ngay “bên hè”, hòa quyện trọn vẹn với gió trời, cỏ cây và hương vị đồng nội. Toàn bộ đồ dùng sinh hoạt hiện lên qua những danh từ thô sơ: “mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre”. Đó là những sản phẩm thủ công được tạo ra từ chính đôi bàn tay chai sần, kết tinh từ sự khéo léo của người nhà quê. Thực đơn dọn lên mâm cũng đạm bạc đến chạnh lòng với “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn”. Hạt gạo lất đẫm mồ hôi dãi nắng dầm sương, quả cà muối thâm chát mặn cùng chén vừng giã vội chính là kết quả của một đời nhọc nhằn bám đất bám bùn. Thế nhưng, điều kỳ diệu là đằng sau sự thiếu thốn vật chất ấy lại tỏa ra hương vị nồng hậu của bát “chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”. Đoàn Văn Cừ không hề biến bữa cơm nghèo thành một bản bi ca; trái lại, ông nâng niu nó như một biểu tượng thiêng liêng của sự gắn kết bền chặt, thủy chung với cội nguồn lam lũ, nơi con người tìm thấy sự trọn vẹn trong chính những điều thiếu thốn nhất.

Vượt lên trên những cay đắng của thực tại, bước sang khổ thơ tiếp theo, nhịp thơ chậm lại để ôm trọn khoảng không gian tĩnh mịch và chiều sâu tâm trạng của con người trước màn đêm buông xuống:

Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng Vòi cau mưa chảy nước bên hiên

Nhà thơ khéo léo đặt vào trung tâm bức tranh một cấu trúc đối lập vô cùng thấm thía: “dẫu túng vẫn êm đềm”, “ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”. Cái đói cái nghèo có thể bủa vây gót chân người nông dân trong suốt những giờ lao động vắt kiệt sức lực dưới ruộng sâu bùn lầy, nhưng hoàn toàn bất lực trước sự ấm áp, thuận hòa bên trong mái nhà tranh. Đêm về, khi những nhọc nhằn mưu sinh tạm gác lại sau lũy tre làng, họ tìm thấy sự thảnh thơi hiếm hoi trong giấc ngủ bình yên, sâu lắng. Khung cảnh ấy càng trở nên đắt giá và thơ mộng hơn khi hòa quyện với thiên nhiên ngoại cảnh. Ánh “trăng vàng” vắt vẻo, lơ lửng trên “mái rạ” nghèo gợi lên nét thanh tao, cổ kính của làng quê truyền thống. Tiếng mưa rỉ qua “vòi cau” bên hiên nhà ngân lên như một khúc nhạc trầm buồn, chở che và ôm ấp cho cả một không gian ngập tràn tình thân ái.

Khép lại tác phẩm, giá trị trường tồn của đoạn thơ nằm ở sự kết hợp hoàn hảo giữa thể thơ thất ngôn nhịp nhàng, uyển chuyển với hệ thống từ ngữ đậm chất ca dao, tục ngữ. Đoàn Văn Cừ đã dựng lên một bức tượng đài bằng ngôn từ tôn vinh vẻ đẹp kiêu hãnh của con người lao động: những con người dẫu gánh chịu muôn vàn gian khổ vẫn giữ trọn sự trong sạch, an nhiên và tình nghĩa thủy chung son sắt với đất trời, quê hương.

Bài tham khảo Mẫu 12

Có những miền quê không cần gọi tên vẫn khiến lòng người chùng xuống. Đó có thể là một khoảng sân im nắng, một mái nhà thấp sau hàng cau, một bát chè xanh đặt bên mâm gỗ, hay tiếng nước mưa còn nhỏ giọt nơi thềm vắng. Những gì bình thường nhất của đời sống đôi khi lại là những gì bền bỉ nhất trong kí ức. Bởi thời gian có thể làm đổi thay cảnh vật, nhưng không dễ gì xóa được hương vị của một bữa cơm đã từng nuôi lớn một đời người. Đọc “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ, ta bắt gặp một thế giới như được lấy ra từ ngăn kí ức cũ: nghèo mà không buồn, đơn sơ mà không lạnh lẽo, lặng lẽ mà chan chứa hơi ấm. Chỉ tám câu thơ, nhà thơ đã khiến một bữa cơm bình thường trở thành nơi hội tụ của quê hương, gia đình và một vẻ đẹp bình yên tưởng như đã ngủ quên trong thời gian.

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Câu thơ mở ra nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ. Không có những hình ảnh lớn lao, chỉ là “cơm ngày hai bữa”. Cụm từ ấy gợi một đời sống đều đặn, giản dị, ngày qua ngày nối tiếp nhau trong nhịp lao động quen thuộc. Đặc biệt, “dọn bên hè” mở ra một không gian rất riêng của làng quê. Bữa cơm không nằm trong một căn phòng khép kín mà được đặt giữa khoảng giao hòa của con người và thiên nhiên. Có thể ở đó có nắng, có gió, có mùi đất, có bóng cây và có những tiếng động rất khẽ của một buổi chiều quê.

Không gian ấy tiếp tục được làm rõ bằng những vật dụng:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Ba hình ảnh hiện lên như những nét vẽ mộc. Gỗ, dừa, tre đều là những chất liệu thân thuộc với nông thôn Việt Nam. Nhà thơ không chỉ kể tên vật dụng mà còn gọi ra cả một nếp sống. Những vật dụng ấy không sang trọng, nhưng lại có vẻ đẹp của sự nguyên sơ. Chúng dường như đã được bàn tay người quê chạm vào, sử dụng, gìn giữ qua tháng năm. Bởi vậy, phía sau mỗi đồ vật là bóng dáng con người.

Cái nghèo của gia đình cũng dần hiện ra qua những món ăn:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Không có sự phong phú của một mâm cơm đủ đầy. Chỉ có những thức ăn rất đỗi dân dã. Nhưng điều kì lạ là khi đi vào thơ, cái nghèo không hề tạo nên cảm giác xót xa. Ngược lại, nó mang một vẻ đẹp thân thương.

Nhà thơ nhìn bữa cơm bằng cả màu sắc. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “nước vàng hoe” tạo thành một bảng màu mộc mạc. Đó không phải những sắc màu rực rỡ mà là những gam màu có chiều sâu, như đã được thời gian nhuộm qua. Đặc biệt, “nước vàng hoe” khiến người đọc gần như cảm nhận được cả hương vị của chè tươi. Cái “vàng” ấy không chỉ nằm trong chén chè mà dường như lan ra cả không gian, làm cho bữa cơm có thêm hơi ấm.

Bằng cách ấy, Đoàn Văn Cừ đã biến cái ăn thành cái nhớ. Những món ăn không còn chỉ để thỏa mãn nhu cầu vật chất mà trở thành những dấu hiệu của kí ức. Có thể nhiều năm sau, người ta không nhớ chính xác mình đã ăn gì vào một ngày nào đó, nhưng chỉ cần bắt gặp một bát chè xanh, một đĩa cà, một mâm cơm dân dã, cả tuổi thơ có thể bất chợt trở về.

Nếu bốn câu đầu là phần “hình” của bữa cơm thì hai câu tiếp theo là phần “hồn”:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Ở đây, bài thơ đột nhiên lắng xuống. Nhà thơ gọi tên cái nghèo bằng chữ “túng”, gọi tên cuộc đời bằng chữ “khó nhọc”. Nhưng hai từ ấy không phải điểm kết thúc. Bên cạnh “túng” là “êm đềm”; sau “khó nhọc” là “ngủ yên”.

Đó là một cách nhìn rất nhân hậu về hạnh phúc.

Cuộc đời của những con người trong bài thơ không dễ dàng. Họ phải lao động, phải đối diện với thiếu thốn. Nhưng họ vẫn có một thứ mà tiền bạc không dễ mua được: sự bình yên. “Ngủ yên” vì thế trở thành một hình ảnh có ý nghĩa sâu sắc. Đó là giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc, nhưng đồng thời cũng là giấc ngủ của một tâm hồn không bị cô độc và bất an.

Có lẽ, con người cuối cùng cũng chỉ cần một nơi để trở về. Một nơi có thể nghèo nhưng ấm, nhỏ nhưng an toàn. Một nơi mà khi đêm xuống, mọi nhọc nhằn có thể đặt lại ngoài cánh cửa.

Và rồi, khi con người đã chìm vào sự bình yên, thiên nhiên xuất hiện:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

“Mái rạ” vốn là hình ảnh của cái nghèo. Nhưng dưới ánh “trăng vàng”, mái rạ lại trở nên đẹp một cách dịu dàng. Ánh trăng dường như đã làm mềm đi tất cả những dấu vết của thiếu thốn. Cái nghèo không còn sắc cạnh mà được phủ lên một lớp ánh sáng mơ màng.

Từ “lơ lửng” làm cảnh vật trở nên bồng bềnh. Bóng trăng như treo giữa trời và đất, giữa hiện tại và kí ức. Đó chính là khoảnh khắc bài thơ chuyển từ hiện thực sang chất mộng.

Câu cuối lại đưa người đọc trở về với một chuyển động rất nhỏ:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Sau mưa, nước còn đọng trên tàu cau rồi chảy xuống. Chỉ một chi tiết nhỏ nhưng có sức gợi lớn. Ta tưởng như nghe thấy tiếng nước, nhìn thấy hàng cau ướt, mái hiên im lặng và căn nhà đang chìm trong giấc ngủ. Cảnh vật trở nên sống động bằng sự tĩnh lặng.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công bởi sự kết hợp giữa chất hiện thực và chất trữ tình. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, phép liệt kê tạo nên tính chân thực, màu sắc tạo chất hội họa, còn hình ảnh trăng – mưa – mái rạ – hàng cau đem lại một không gian giàu chất thơ. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập giữa “túng” và “êm đềm”, “khó nhọc” và “ngủ yên” đã làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm: hạnh phúc không nhất thiết phải bắt đầu từ sự đủ đầy, mà có thể bắt đầu từ tình yêu và cảm giác bình yên.

“Bữa cơm quê” vì vậy không chỉ là một bài thơ về cái ăn. Đó là bài thơ về cái nhớ. Đọc thơ, ta có cảm giác như đang đứng trước một căn nhà cũ, nhìn mâm cơm đã nguội, nghe tiếng mưa rơi bên hiên và chợt nhận ra rằng những gì mình từng xem là bình thường lại chính là những gì mình nhớ nhất.

Quê hương đôi khi chỉ có thế. Một mâm cơm nghèo. Một mái rạ. Một hàng cau. Một đêm trăng. Nhưng từ những điều bé nhỏ ấy, một đời người được nuôi lớn. Và cũng từ những điều bé nhỏ ấy, khi đi xa, con người nhận ra nơi mình thực sự thuộc về.

Bài tham khảo Mẫu 13

Kí ức của con người thường có cách trở về rất lạ. Nó không gõ cửa bằng những âm thanh lớn mà chỉ khẽ chạm vào một giác quan: một mùi hương, một màu sắc, một vị quen trên đầu lưỡi. Và thế là cả một miền xa xôi bỗng sống dậy. Có khi chỉ từ vị chát của chè xanh, màu vàng của nước chè, tiếng mưa rơi bên hiên, người ta bỗng nhớ về một căn nhà đã cũ và một bữa cơm đã xa. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ chính là một bài thơ được dệt nên từ những sợi kí ức như thế. Bài thơ không có biến cố, không có những cảm xúc dữ dội. Nó lặng lẽ như một buổi chiều quê, nhưng trong sự lặng lẽ ấy lại có cả một thế giới tình cảm: tình yêu quê hương, tình thân gia đình và niềm trân trọng đối với vẻ đẹp của cuộc sống bình dị.

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

Câu thơ mở ra một không gian rất đỗi quen thuộc. “Hai bữa” là nhịp sống đều đặn, còn “bên hè” là khoảng không gian nhỏ nơi con người gặp gỡ thiên nhiên. Bữa cơm được đặt bên hè như thể được đặt vào chính lòng quê. Nó không tách khỏi sân nhà, cây cối, gió trời. Bởi vậy, ngay từ câu đầu tiên, bữa cơm đã mang trong mình hơi thở của một đời sống nông thôn.

Rồi những vật dụng xuất hiện:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Đây không chỉ là những đồ vật. Chúng là những dấu vết của một nền sống. Mâm gỗ, muôi dừa, đũa tre – mỗi thứ đều mộc mạc, thô sơ, nhưng lại gần gũi như bàn tay người thân. Cách liệt kê ngắn gọn khiến câu thơ như một bức ảnh được chụp cận cảnh. Không cần nói gia đình nghèo, nhà thơ chỉ cần cho ta nhìn vào mâm cơm là đủ.

Nhưng trong cái nghèo ấy lại có một vẻ đẹp rất riêng:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Những món ăn hiện ra không nhiều nhưng đầy sức gợi. “Gạo đỏ” mang sắc màu của hạt lúa, “cà thâm” gợi vị quê, “vừng giã mặn” gợi sự dân dã, còn “chè tươi” đem đến một hương vị rất riêng của đời sống nông thôn.

Đặc biệt, câu thơ “Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” khiến bức tranh bữa cơm có thêm một lớp ánh sáng. Màu vàng của nước chè như màu nắng đã lắng xuống trong chiếc bát. Nó gợi cảm giác ấm áp, cũ kĩ và thân thuộc. Trong một bài thơ chỉ có tám câu, nhà thơ đã sử dụng màu sắc như một phương tiện của kí ức.

Nhưng điều đáng quý là tác giả không dừng lại ở việc tái hiện cái ăn. Ông muốn nói đến cái sống, cái hạnh phúc ẩn sau bữa cơm:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ là sự kết tinh tư tưởng của toàn bài. “Túng” và “khó nhọc” cho thấy cái nghèo có thật. Nhưng “êm đềm” và “ngủ yên” lại cho thấy cái nghèo không thể chiến thắng đời sống tinh thần.

Đó là một phát hiện đầy nhân văn.

Hạnh phúc đôi khi không phải là có một mâm cơm nhiều món, mà là có người ngồi bên cạnh. Không phải là một căn nhà rộng lớn, mà là một nơi khiến ta thấy an toàn. Không phải là một cuộc đời không có nhọc nhằn, mà là sau những nhọc nhằn ấy, ta vẫn có thể bình thản khép mắt.

“Ngủ yên” vì thế là một hình ảnh rất đẹp. Nó khiến bài thơ vượt ra khỏi câu chuyện của một gia đình để chạm đến một khát vọng phổ quát của con người: khát vọng được bình yên.

Có lẽ vì thế mà cảnh vật trong hai câu cuối cũng mang vẻ dịu dàng:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Cái đẹp của cảnh không nằm ở sự rực rỡ mà nằm ở sự im ắng. Mái rạ, trăng vàng, hàng cau, nước mưa – tất cả đều rất nhỏ. Nhưng đặt cạnh nhau, chúng tạo nên một không gian thơ mộng.

“Mái rạ” gợi nghèo, nhưng “trăng vàng” gợi thơ. Hai hình ảnh ấy đứng cạnh nhau như một sự hóa giải. Ánh trăng khiến mái rạ trở nên đẹp hơn, đồng thời khiến người đọc nhận ra rằng cái đẹp không nhất thiết phải thuộc về những gì giàu sang.

“Lơ lửng bóng” lại khiến cảnh vật như trôi vào một giấc mơ. Bóng trăng không rõ ranh giới, thời gian cũng như ngừng lại. Cảnh quê lúc này không còn chỉ là cảnh thực mà đã trở thành cảnh trong kí ức.

Câu cuối “Vòi cau mưa chảy nước bên hiên” lại đặc biệt giàu chất điện ảnh. Ta có thể tưởng tượng một tàu cau còn ướt, những giọt nước nối nhau rơi xuống mái hiên. Không gian gần như không có tiếng người. Nhưng chính sự vắng lặng ấy lại khiến người đọc cảm nhận sâu hơn sự ấm áp của căn nhà.

Có một nghịch lí rất đẹp: con người không xuất hiện trong hai câu cuối nhưng sự hiện diện của con người lại trở nên rõ hơn bao giờ hết. Bởi phía sau mái rạ ấy là một gia đình. Phía sau mái hiên ấy là những con người vừa trải qua một ngày “khó nhọc”. Và giờ đây, họ đang “ngủ yên”.

Bài thơ vì thế được xây dựng như một vòng tròn. Bắt đầu từ bữa cơm và kết thúc ở giấc ngủ; bắt đầu từ đời sống con người và kết thúc trong cảnh vật; bắt đầu bằng cái nghèo nhưng khép lại bằng sự bình yên. Cấu trúc ấy khiến cảm xúc bài thơ lan dần từ hiện thực sang trữ tình, từ cái nhìn bên ngoài vào chiều sâu tâm hồn.

Về nghệ thuật, Đoàn Văn Cừ đã sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng tạo nên sức gợi lớn. Các phép liệt kê làm hiện lên một đời sống cụ thể. Hệ thống màu sắc tạo chất họa. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê tạo nên không khí văn hóa rõ nét. Đặc biệt, nghệ thuật tương phản giữa thiếu thốn và ấm êm đã làm nên chiều sâu nhân văn của tác phẩm.

Có thể nói, “Bữa cơm quê” là một bài thơ không cần nói nhiều mà vẫn khiến người đọc nhớ lâu. Nó giống như một mùi hương thoảng qua: rất nhẹ nhưng bám mãi. Sau khi đọc xong, ta có thể không nhớ từng câu chữ, nhưng khó quên hình ảnh mái rạ dưới trăng, hàng cau sau mưa và một bữa cơm nghèo đã làm nên sự bình yên của cả một gia đình.

Bởi vậy, bài thơ không chỉ kể về quê hương của Đoàn Văn Cừ. Nó đánh thức quê hương trong mỗi người. Để ta hiểu rằng đôi khi, điều ta nhớ nhất sau những năm tháng trưởng thành không phải là những gì lớn lao đã từng đạt được, mà là một bữa cơm bình thường bên những người mình thương.

Bài tham khảo Mẫu 14

Nếu quê hương là một miền kí ức, thì kí ức ấy hẳn phải được dệt nên từ những điều rất nhỏ. Không ai lớn lên chỉ bằng những điều phi thường. Con người lớn lên từ bữa cơm mẹ nấu, từ tiếng gọi bên hiên, từ bóng cau đổ xuống sân, từ những buổi tối bình yên dưới mái nhà thân thuộc. Những điều ấy khi đang sống cùng ta thường chẳng được gọi tên. Chỉ đến khi xa rồi, người ta mới hiểu đó chính là phần sâu nhất của quê hương. “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ đã tìm đến đúng nơi ấy – nơi đời sống bình dị gặp gỡ thơ ca. Từ một mâm cơm đơn sơ, nhà thơ không chỉ vẽ lại một lát cắt của nông thôn mà còn gửi gắm một cảm nhận sâu sắc: giữa những nhọc nhằn của cuộc sống, mái ấm và sự bình yên mới là thứ của cải bền lâu nhất.

Ngay từ câu mở đầu:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè”

nhịp sống quê đã hiện ra thật chậm. “Ngày hai bữa” là sự tuần hoàn giản dị của đời sống. Không có biến động, không có sự kiện đặc biệt. Mỗi ngày cứ thế trôi qua với hai bữa cơm, với lao động và nghỉ ngơi. Nhưng chính cái đều đặn ấy lại làm nên cảm giác bình yên.

Cụm từ “dọn bên hè” cũng mang sức gợi đặc biệt. “Bên hè” không chỉ là một địa điểm. Nó gợi ra khoảng giao nhau giữa mái nhà và thiên nhiên, giữa đời sống riêng tư và thế giới bên ngoài. Bữa cơm vì thế như được đặt giữa lòng quê, trong một không gian mở, nơi con người sống gần đất trời.

Sau đó, nhà thơ đưa mắt đến những vật dụng:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Câu thơ có vẻ như chỉ là một phép liệt kê nhưng thực chất là một lát cắt văn hóa. Gỗ, dừa, tre đều là những chất liệu thân thuộc. Chúng cho thấy sự giản dị của vật chất nhưng đồng thời cũng gợi một đời sống tự nhiên, gần gũi với làng quê.

Đáng chú ý là chữ “mộc”. Nó không chỉ miêu tả chiếc đũa chưa được tô vẽ cầu kì mà còn có thể xem như một từ khóa của cả bài thơ. Cái mộc của đũa cũng là cái mộc của bữa cơm, của ngôi nhà và của con người. Nhà thơ không tìm vẻ đẹp trong sự bóng bẩy mà tìm vẻ đẹp trong trạng thái nguyên sơ của đời sống.

Đến hai câu tiếp theo, bức tranh bữa cơm được hoàn chỉnh bằng màu sắc và hương vị:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Những món ăn xuất hiện giản dị đến mức gần như không thể giản dị hơn. Chính ở đây, cái nghèo hiện lên rõ nhất. Nhưng nhà thơ không hề dùng giọng thương cảm. Ông chỉ nhìn, ghi nhận và nâng niu.

Các từ “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” khiến bữa cơm trở thành một bức tranh. Nếu “gạo đỏ” gợi sắc màu của hạt lúa, “cà thâm” gợi một gam màu trầm, thì “nước vàng hoe” lại tạo nên điểm sáng. Ba sắc màu ấy hòa quyện thành một bảng màu dân dã, mang vẻ đẹp của những gì đã quen thuộc qua nhiều thế hệ.

Ở đây, thơ ca đã làm một việc kì diệu: biến sự thiếu thốn thành kí ức đẹp. Những món ăn vốn chỉ có giá trị vật chất khi bước vào thơ lại mang giá trị tinh thần. Chúng trở thành dấu hiệu để nhận diện quê hương.

Đặc biệt, chè tươi không chỉ được nhắc đến bằng tên gọi mà còn được cảm nhận qua màu sắc. “Vàng hoe” khiến người đọc có thể hình dung độ đặc của nước chè, đồng thời gợi một thứ ánh sáng dịu dàng. Câu thơ như có cả hương, vị và màu. Đó là khả năng đánh thức giác quan rất tinh tế của thơ ca.

Nhưng bữa cơm không phải đích đến cuối cùng. Từ mâm cơm, nhà thơ đi vào căn nhà và từ căn nhà đi vào tâm hồn:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ chứa đựng một nghịch lí đầy nhân văn. Cái nghèo tồn tại, nhưng nó không thể phá vỡ sự êm đềm. Cuộc đời khó nhọc, nhưng đêm xuống vẫn có giấc ngủ bình yên.

Đằng sau sự đối lập ấy là một quan niệm sâu sắc về giá trị sống. Nhà thơ dường như muốn khẳng định rằng con người không chỉ cần “đủ ăn” mà còn cần “được yên”. Và sự yên ấy đến từ mái ấm, từ tình thân, từ cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó.

“Ngủ yên” là một hình ảnh tưởng như nhỏ nhưng lại mở ra chiều sâu của cả bài thơ. Nó là phần thưởng sau một ngày lao động, nhưng cũng là biểu tượng của sự thanh thản. Một căn nhà nghèo vẫn có thể là nơi giàu có nhất nếu ở đó con người không phải sợ hãi, cô đơn hay bất an.

Sau đó, bài thơ khép lại bằng cảnh vật:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Không gian đã chuyển sang đêm. Những nhọc nhằn của ban ngày dường như đã lùi xa. Chỉ còn mái rạ, ánh trăng, hàng cau và nước mưa.

“Mái rạ” là hình ảnh hiện thực. Nó nhắc người đọc về một đời sống nghèo khó. Nhưng “trăng vàng” đã phủ lên hiện thực ấy một vẻ đẹp khác. Ánh trăng khiến mái rạ không còn chỉ là biểu tượng của thiếu thốn mà trở thành hình ảnh của một mái nhà thân thương.

“Lơ lửng bóng” tạo nên một chất mộng rất riêng. Bóng trăng như không có điểm dừng, khiến không gian trở nên bảng lảng. Đó là thứ ánh sáng thường xuất hiện trong kí ức – không quá rõ nhưng cũng không bao giờ mất đi.

Câu cuối là một nét chấm phá vô cùng tinh tế:

“Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Chỉ một dòng nước chảy từ tàu cau xuống bên hiên mà cả không gian quê như hiện ra. Cảnh vật có âm thanh nhưng là một âm thanh rất khẽ. Có chuyển động nhưng là chuyển động rất chậm. Tất cả phù hợp với trạng thái “ngủ yên” ở câu trước.

Như vậy, bài thơ có một sự vận động rất tự nhiên: từ bữa cơm → mái nhà → giấc ngủ → cảnh đêm. Càng về cuối, con người càng ít xuất hiện trực tiếp, nhưng cảm giác về con người lại càng rõ. Bởi thiên nhiên đã trở thành tấm gương phản chiếu sự bình yên trong tâm hồn.

Về nghệ thuật, sức hấp dẫn của bài thơ trước hết nằm ở ngôn ngữ giản dị và khả năng chọn chi tiết chính xác. Đoàn Văn Cừ không cần nhiều hình ảnh để tái hiện cả một miền quê. Chỉ vài vật dụng, vài món ăn và vài nét cảnh vật, ông đã tạo ra một không gian có hồn. Phép liệt kê đem đến tính chân thực; màu sắc tạo nên chất họa; hình ảnh trăng và mưa tạo chất mộng; nghệ thuật tương phản làm nổi bật chiều sâu tư tưởng.

Quan trọng hơn, bài thơ cho thấy một cái nhìn đầy yêu thương đối với đời sống bình dân. Nhà thơ không đứng bên ngoài để thương hại cái nghèo. Ông bước vào trong nó, nhìn thấy vẻ đẹp từ chính những gì đơn sơ nhất. Vì vậy, “Bữa cơm quê” không mang âm hưởng của sự than nghèo mà mang âm hưởng của lòng biết ơn đối với một đời sống đã nuôi dưỡng con người.

Có lẽ, đó cũng là lí do bài thơ dễ chạm đến trái tim người đọc. Bởi ai trong chúng ta rồi cũng sẽ có một “bữa cơm quê” của riêng mình – một bữa cơm có thể chẳng nhiều món, nhưng có những người ta thương; một căn nhà có thể chẳng rộng, nhưng đủ cho ta cảm thấy bình yên.

Đọc Đoàn Văn Cừ, ta chợt nhận ra: quê hương không nhất thiết phải được gọi bằng tên một vùng đất. Quê hương có thể được gọi bằng tên một bữa cơm. Một bữa cơm nhỏ, một mái rạ dưới trăng, một dòng nước mưa bên hiên – những điều tưởng như mong manh ấy lại có thể ở lại trong tâm hồn lâu hơn cả những gì lớn lao. Và khi cuộc đời đã đi qua rất nhiều mùa, có lẽ thứ con người mong muốn nhất vẫn là được trở về một nơi như thế: nơi có một bữa cơm chờ sẵn, một mái nhà để trú ngụ và một đêm đủ yên để ngủ.

Bài tham khảo Mẫu 15

Có những miền quê không được nhớ bằng những điều lớn lao, mà chỉ cần một mùi khói bếp, một mái nhà tranh, một bữa cơm đạm bạc cũng đủ đánh thức trong lòng người bao thương nhớ. Quê hương đôi khi hiện diện giản dị đến mức ta dễ dàng đi qua mà không nhận ra vẻ đẹp của nó: một mâm cơm đặt bên hè, bát chè xanh, quả cà, chút vừng giã mặn… Chính từ những điều nhỏ bé ấy, Đoàn Văn Cừ đã dựng nên trong bài thơ “Bữa cơm quê” một bức tranh quê mộc mạc, nghèo khó mà ấm áp tình người. Qua tám câu thơ ngắn gọn, nhà thơ không chỉ tái hiện một bữa cơm dân dã mà còn làm hiện lên một thế giới bình yên, nơi con người dù thiếu thốn vật chất vẫn có thể tìm thấy niềm vui và sự thanh thản trong mái ấm gia đình.

Ngay từ bốn câu thơ đầu, tác giả đã đưa người đọc bước vào không gian của một bữa cơm quê nghèo, nơi mọi thứ đều đơn sơ, bình dị:

“Cơm ngày hai bữa dọn bên hè
Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre
Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Câu thơ mở đầu “Cơm ngày hai bữa dọn bên hè” mang giọng điệu tự nhiên như một lời kể. Không có những món ăn cầu kỳ, không có bàn ăn sang trọng, bữa cơm chỉ được “dọn bên hè” – một không gian vô cùng thân thuộc của những gia đình nông thôn xưa. Chỉ một chữ “hè” đã gợi ra khoảng sân nhỏ, mái nhà đơn sơ, ánh sáng tự nhiên và nhịp sống gần gũi với đất trời. Bữa cơm vì thế không bị bó hẹp trong căn phòng mà hòa vào không gian của quê nhà.

Nếu câu thơ đầu gợi nên không gian thì câu thơ thứ hai lại đặc tả những vật dụng của bữa ăn:

“Mâm gỗ, muôi dừa, đũa mộc tre”

Hàng loạt chất liệu dân dã được gọi tên: “gỗ”, “dừa”, “tre”. Đó đều là những vật liệu quen thuộc của làng quê Việt Nam, gần gũi với cuộc sống người nông dân. Cách liệt kê liên tiếp khiến câu thơ giống như một nét vẽ chân thực, tỉ mỉ. Bữa cơm không chỉ hiện lên bằng cái ăn mà còn bằng cả những vật dụng gắn bó với đời sống lao động. “Mâm gỗ”, “muôi dừa”, “đũa mộc tre” không có vẻ đẹp bóng bẩy của những vật dụng đắt tiền, nhưng lại mang vẻ đẹp riêng của sự mộc mạc. Chúng như lưu giữ trong mình hơi thở của đất, của cây, của bàn tay người lao động.

Đến hai câu thơ tiếp theo, bữa cơm quê hiện lên qua màu sắc và hương vị:

“Gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn
Chè tươi nấu đặc nước vàng hoe”

Chỉ bằng vài hình ảnh, nhà thơ đã tạo nên cả một thế giới ẩm thực dân dã. “Gạo đỏ”, “cà thâm”, “vừng giã mặn”, “chè tươi” đều là những món ăn hết sức bình thường, thậm chí có phần đạm bạc. Nhưng điều đáng quý là nhà thơ không nhìn cái nghèo bằng ánh mắt thương hại. Ngược lại, những thức ăn giản đơn ấy được cảm nhận bằng sự trìu mến và trân trọng. Các từ ngữ chỉ màu sắc như “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe” khiến bữa cơm trở nên sống động, có hình khối, có sắc màu. Đặc biệt, hình ảnh “nước vàng hoe” của chè tươi gợi cảm giác vừa mộc mạc vừa ấm áp. Màu vàng ấy dường như không chỉ là màu của nước chè mà còn là màu của nắng, của mái nhà, của một đời sống bình dị đã được thời gian phủ lên một lớp dịu dàng.

Điều đáng nói, bữa cơm trong thơ Đoàn Văn Cừ tuy nghèo về vật chất nhưng lại giàu có về tình cảm. Nếu bốn câu đầu chủ yếu tái hiện cái ăn, cái uống và không gian bữa cơm thì bốn câu sau đã mở rộng cảm nhận từ bữa cơm đến cả cuộc sống:

“Cảnh nhà dẫu túng vẫn êm đềm
Ngày khó nhọc nhưng tối ngủ yên”

Hai câu thơ chứa đựng một triết lí sống giản dị mà sâu sắc. Tác giả không né tránh chữ “túng”, cũng không tô hồng cuộc sống. Quê nhà hiện lên với những thiếu thốn thực tế. Nhưng đáng quý thay, cái nghèo không thể làm mất đi sự “êm đềm” của mái ấm. Ban ngày con người phải trải qua “khó nhọc”, phải lao động vất vả để mưu sinh; nhưng khi đêm xuống, họ vẫn có thể “ngủ yên”. Đó là một trạng thái bình yên mà không phải giàu có nào cũng mua được.

Sự đối lập giữa “túng” và “êm đềm”, giữa “khó nhọc” và “ngủ yên” làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần của con người quê hương. Hạnh phúc ở đây không được đo bằng của cải mà bằng sự bình an trong tâm hồn. Có thể căn nhà nghèo, bữa cơm đơn sơ, cuộc sống còn nhiều vất vả, nhưng nếu con người biết yêu thương, biết bằng lòng với những gì mình có thì mái nhà vẫn là nơi để trở về. Câu thơ vì thế mang một vẻ đẹp nhân văn sâu sắc: nghèo không đồng nghĩa với bất hạnh; thiếu thốn vật chất không thể xóa nhòa sự giàu có của tình thân và bình yên.

Hai câu thơ cuối đưa người đọc trở về với cảnh vật quê nhà:

“Mái rạ trăng vàng, lơ lửng bóng
Vòi cau mưa chảy nước bên hiên”

Nếu bốn câu đầu là bức tranh bữa cơm thì hai câu cuối giống như một bức tranh quê được nhìn qua ánh sáng của đêm. Hình ảnh “mái rạ trăng vàng” vừa thực vừa thơ. Mái nhà nghèo được phủ bởi ánh trăng, khiến cái nghèo trở nên dịu đi, thậm chí mang một vẻ đẹp nên thơ. “Trăng vàng” không chỉ chiếu sáng cảnh vật mà còn như phủ lên mái rạ một lớp ánh sáng của tình yêu và kỉ niệm. Hình ảnh “lơ lửng bóng” tạo cảm giác chậm rãi, tĩnh tại, khiến không gian đêm quê trở nên mơ màng.

Đặc biệt, câu thơ “Vòi cau mưa chảy nước bên hiên” mang sức gợi rất lớn. Cây cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong không gian làng quê Việt Nam. Sau cơn mưa, nước từ tàu cau chảy xuống bên hiên nhà. Chỉ một chuyển động rất nhỏ của thiên nhiên cũng đủ làm bức tranh trở nên có hồn. Ta như nghe được tiếng nước rơi, cảm nhận được hơi mưa, nhìn thấy mái hiên, hàng cau và căn nhà nhỏ trong đêm. Cảnh vật dường như đang thở trong sự yên tĩnh. Và chính sự tĩnh lặng ấy lại làm nổi bật hơn cảm giác ấm áp của mái ấm gia đình.

Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật biểu đạt hết sức tự nhiên. Đoàn Văn Cừ sử dụng những hình ảnh gần như không hề xa lạ: mâm gỗ, muôi dừa, đũa tre, gạo đỏ, quả cà, vừng, chè xanh, mái rạ, hàng cau, mái hiên… Nhưng dưới cái nhìn của nhà thơ, những thứ bình thường ấy đã trở thành chất liệu của thơ ca. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu sức gợi; phép liệt kê tạo nên cảm giác chân thực; những gam màu “đỏ”, “thâm”, “vàng hoe”, “trăng vàng” khiến bức tranh quê hiện lên vừa cụ thể vừa giàu chất hội họa. Đặc biệt, sự kết hợp giữa tả thực và trữ tình, giữa cảnh vật và cảm xúc đã giúp bài thơ vượt khỏi việc miêu tả một bữa ăn để trở thành lời ngợi ca một lối sống.

“Bữa cơm quê” vì thế không chỉ kể về một bữa cơm nghèo mà còn kể về một kiểu hạnh phúc. Đó là hạnh phúc được tạo nên từ những điều rất nhỏ: có mái nhà để trở về, có bữa cơm để sum họp, có những vật dụng thân quen, có giấc ngủ bình yên sau một ngày lao động nhọc nhằn. Đọc bài thơ, ta nhận ra rằng đôi khi điều làm nên giá trị của một mái ấm không phải là sự đủ đầy, mà chính là tình yêu khiến những gì đơn sơ trở nên đáng quý.

Bằng giọng thơ chân thành, hình ảnh mộc mạc và cách nhìn đầy yêu thương, Đoàn Văn Cừ đã lưu giữ trong “Bữa cơm quê” một lát cắt đẹp của đời sống nông thôn Việt Nam. Bài thơ giống như một chiếc hộp nhỏ đựng đầy hương vị của quê nhà: có vị mặn của vừng, vị chát của cà, vị thanh của chè, có ánh trăng trên mái rạ và tiếng nước mưa bên hiên. Nhưng sâu xa hơn tất cả những hương vị ấy là vị của tình thân, của sự bình yên và của nỗi nhớ quê hương. Khép lại bài thơ, người đọc có thể quên đi những món ăn cụ thể, nhưng khó quên được cảm giác ấm áp mà bữa cơm nghèo đã để lại: giữa cuộc đời nhiều nhọc nhằn, chỉ cần một mái nhà bình yên và những người thương yêu bên cạnh, con người đã có một nơi để gọi là quê nhà.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close