Đọc hiểu Ông Tây An Nam (Nam Xương) | Luyện đề đọc hiểu Văn 8

(Giới thiệu: Ông Tây An Nam được Nam Xương hoàn thành năm 1930, vở hài kịch kể về chuyện một anh khá giả tên là Cử Lân được cha là Cưu ông lo cho du học sang Pháp, khi đỗ đạt bằng Cử nhân trở về thì Lân làm như không biết tiếng Việt, khinh bỉ giống nòi, quyết nhập làng Tây. Anh không nhận cha mẹ, không về nhà mà ở thuê khách sạn vì ghê sợ sinh hoạt của người An Nam. Anh tuyên bố: “Tổ quốc tôi là Đại Pháp. Tôi người Đại Pháp”. Đoạn trích dưới đây kể lại việc Cử Lân về thăm nhà và mang theo một đ

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

ÔNG TÂY AN NAM

(Trích)

(Giới thiệu: Ông Tây An Nam được Nam Xương hoàn thành năm 1930, vở hài kịch kể về chuyện một anh khá giả tên là Cử Lân được cha là Cưu ông lo cho du học sang Pháp, khi đỗ đạt bằng Cử nhân trở về thì Lân làm như không biết tiếng Việt, khinh bỉ giống nòi, quyết nhập làng Tây. Anh không nhận cha mẹ, không về nhà mà ở thuê khách sạn vì ghê sợ sinh hoạt của người An Nam. Anh tuyên bố: “Tổ quốc tôi là Đại Pháp. Tôi người Đại Pháp”.

Đoạn trích dưới đây kể lại việc Cử Lân về thăm nhà và mang theo một đầy tớ phiên dịch tên là Khiếu.)

Cử Lân: - C’est ici ma maison? (Đây là nhà tao à?)(1)

Cưu ông: - Ấy kìa con, con đã về! Con đã về!

Cử Lân: (Cau mặt) - Qui est ce vieux fou là! (Người già nào mà điên thế này?)

Cưu ông: - Thầy không ra đón con được, thật là bất đắc dĩ. Nhưng mẹ con đâu? Mẹ con ra đón con đó mà?

Cử Lân: - Que signifie? (Hắn nói gì thế?)

Cưu ông: - Vậy con ngồi xuống đây, xuống đây!

Cử Lân: - Veut-il par hasard me manger? (Lão muốn ăn thịt ta hay sao thế?)

Khiếu: - Me sừ, lúy điếc lúy pa pa me sừ. (Lão bảo lão là cha quan lớn)

Cử Lân: - Mon père? Oh ho ho. (Cha tao ư? Chao ơi!)

Khiếu: - Có thật cụ là bố quan cử tôi đó không?

Cưu ông: - Chao ôi! Con quên thầy rồi hay sao? Hồi con đi Tây, thầy đưa con xuống tận Hải Phòng đây mà! Tháng tháng thầy vẫn gửi tiền cho con ăn học đây mà! Ông Tham Tứ xem báo thấy tin con đỗ, bảo thầy, thầy lập tức đánh manda dây thép sang cho con để con để con về với thầy me đấy mà.

Cử Lân: (Trong khi Cưu ông nói thì ra ý nhìn, rồi nói) - Possible (ôm lấy Cưu ông mà hôn). Excuse, pa pa, je ne t’avais pas reconnu.

Khiếu: - Quan tôi xin lỗi cụ vì trước không nhận ra!

Cưu ông: (Cũng bá chặt lấy cổ Cử Lân, rồi ấn xuống ghế, bảo ngồi) - Con đi lâu về thường quên thật. Thôi thầy chả bắt lỗi con đâu? Ngồi xuống đây!

Cử Lân: (Sẽ đẩy Cưu ông ra) - Oh pouf! Il m’étouffe avec son odeur indigène! Dis – lui de ne plus recommencer, je te’prie! (Cầm mùi xoa phe phẩy trước mũi)

Khiếu: - Cụ ạ, cụ làm quan tôi suýt chết ngạt về cái mùi bản xứ của cụ. Bận sau chớ thế nữa nhé!

Cưu ông: (Ngạc nhiên) - Con nói thế ấy ư con? (Ngoảnh lại Khiếu) Hay là mày nói láo?

Khiếu: - À! Cái nhà ông cụ này cho tôi là ai?

Cử Lân: - Qu’est – ce? (Cái gì thế?)

Khiếu: - Moa lúy điếc moa anh tê dét me sừ, moa ba bồi lúy! (Con nói rằng con là thông ngôn cho quan lớn, con không là bồi ông ta)

(Với Cưu ông) - Tôi chẳng gì cũng là thầy thông cho quan Cử tân khoa...

Cưu ông: - Thì mày cũng là đầy tớ con tao chứ gì?

Khiếu: - Đầy tớ con cụ chứ đầy tớ cụ à? Sàn vi ơ! (Đồ già bẩn)

Cử Lân: - Qu’y – a – t – il? (Gì thế?)

Khiếu: Me sừ, lúy bac mô ve me sừ. (Bẩm quan, lão nói hỗn với quan)

Cử Lân: (Nhún vai) - Qu’est-ce que cela me fait. (Hỗn thì làm gì?)

Khiếu: - (Bĩu môi) – Đấy! Cụ nghe chưa? Ứ ừ!

Cưu ông: - Con nói gì thế con? Sao không nói ngay tiếng ta cho thầy biết?

Khiếu: - Me sừ, lúy điếc me sừ i-đi-ô, bệt. (Bẩm quan lớn, ông ấy nói quan lớn là thằng ngu, là con súc vật!)

Cử Lân: - Doucement, mon cher! Je suis assez intehigent pour deviner les paroles par le mouvement des lèvres! Interprète comme il faut, fidèlement, textuelleement chaque mot, ou je te mets à la porte. (Mày nói bậy vừa chứ! Tao cũng khá thông minh mà trông mép có thể đoán được lời. Vậy phải thông ngôn cho đúng từng chữ, nếu không tao tống ra ngoài cửa.)

Khiếu: - Uẩy me sừ, moa anh tê dét phi đen me sừ. Nào cụ nói gì nữa đi. (Thưa quan lớn vâng, con là thông ngôn rất trung thành của quan lớn.)

Cưu ông: - Chả nhẽ con không biết tiếng ta hay sao? Con làm thầy bức chết.

Cử Lân: - Chết! Un peu fait cai chét! Qu’ est-ce que cela veut dire?

Khiếu: - Chết! Hơi một tý cũng chết! Thế là cái gì?

Cưu ông: - Thầy nuôi con ăn học để đỗ đạt về cho thầy nên danh nên giá, nếu con không thèm nói với thầy thế này thì thiên hạ còn coi thầy ra chi nữa, coi con ra chi nữa!

(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam, Tập 24, Ông Tây An Nam, Nam Xương, NXB Khoa học xã hội, tr.271-273)

Chú thích:

(1) Những dòng in nghiêng do tác giả dịch nghĩa cho bạn đọc.

(2) Nghĩa câu này Khiếu đã dịch ở câu sau. Từ đoạn này trở đi câu chữ Tây nào Khiếu đã dịch nghĩa thì tác giả không dịch nữa.

Câu 1

Xác định những nhân vật tham gia vào xung đột kịch.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc đoạn trích, xác định các nhân vật xuất hiện và tìm những nhân vật có mâu thuẫn, đối đầu trực tiếp với nhau.

Lời giải chi tiết

Nhân vật tham gia xung đột kịch: Cử Lân, Cưu ông, Khiếu.

Giải thích:

- Xung đột kịch được tạo nên từ mâu thuẫn giữa Cử Lân với Cưu ông (cha của mình). Sau khi du học trở về, Cử Lân chối bỏ nguồn gốc, không nhận cha và khinh miệt người thân.

- Khiếu là người phiên dịch, tham gia vào diễn biến xung đột bằng cách truyền đạt lời nói giữa hai nhân vật, đồng thời góp phần làm tình huống kịch thêm hài hước, châm biếm.

Câu 2

Xác định tình huống kịch trong đoạn trích trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định sự việc trung tâm làm nảy sinh mâu thuẫn và thúc đẩy diễn biến của đoạn trích.

Lời giải chi tiết

Tình huống kịch trong đoạn trích trên: Cử Lân đi du học Pháp về không nhân ra cha mình.

Giải thích:

Việc Cử Lân trở về nhưng cố tình phủ nhận cha, chối bỏ tiếng Việt và coi thường người thân đã tạo nên tình huống kịch đầy mâu thuẫn. Tình huống ấy vừa gây tiếng cười châm biếm, vừa làm nổi bật sự tha hóa, vong bản của nhân vật.

Câu 3

Nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của nhân vật Cử Lân trong đoạn trích trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Quan sát lời thoại của nhân vật, nhận xét đặc điểm ngôn ngữ và chỉ ra ý nghĩa của cách sử dụng ngôn ngữ đó.

Lời giải chi tiết

- Cách sử dụng ngôn ngữ của nhân vật Cửu Lân: Cử Lân sử dụng ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Pháp và tiếng Việt. Tuy nhiên, tiếng Pháp chiếm ưu thế và thường được dùng trong những lời khinh miệt hoặc tỏ ra tự cao.

- Nhận xét: Thể hiện sự tha hóa của nhân vật, không chỉ ở thái độ mà còn ở việc xa lạ với ngôn ngữ mẹ đẻ. Điều này biểu hiện sự tách biệt của Cử Lân với nguồn cội và văn hóa dân tộc.

Giải thích:

Cử Lân liên tục nói tiếng Pháp dù đang ở nhà và giao tiếp với cha cho thấy nhân vật cố tình phủ nhận nguồn cội, xem thường tiếng Việt và văn hóa dân tộc. Cách sử dụng ngôn ngữ ấy góp phần khắc họa rõ bản chất sính ngoại, vô ơn của nhân vật.

Câu 4

Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nghịch ngữ ở nhan đề “Ông Tây An Nam”.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định biện pháp tu từ trong nhan đề, sau đó phân tích tác dụng về nội dung và nghệ thuật.

Lời giải chi tiết

- “Ông Tây An Nam” là cách nói mỉa mai. Một người “An Nam” nhưng tự cho mình là “Tây” thể hiện sự tự mãn, vong bản.

- Nhan đề: gợi sự trào phúng, phê phán những người coi thường nguồn gốc, muốn chối bỏ dân tộc để chạy theo sự hào nhoáng của văn minh nước ngoài. Qua đó, nhấn mạnh giá trị của bản sắc dân tộc.

Giải thích:

Hai từ "Tây" và "An Nam" vốn đối lập nhưng lại được đặt cạnh nhau, tạo nên nghịch ngữ giàu ý nghĩa châm biếm. Qua đó, tác giả làm nổi bật hình ảnh một con người đánh mất bản sắc dân tộc, từ đó bộc lộ thái độ phê phán đối với lối sống sính ngoại.

Câu 5

Theo anh/chị, thông điệp mà đoạn trích gợi ra có tác động như thế nào đối với sự tiến bộ xã hội ngày nay?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định thông điệp của văn bản, sau đó liên hệ với thực tiễn để làm rõ tác động của thông điệp đối với xã hội hiện nay.

Lời giải chi tiết

Gợi ý:

- Đoạn trích cảnh báo về hiện tượng chạy theo văn hóa ngoại lai mà quên đi giá trị truyền thống. Sự hội nhập không nên đồng nghĩa với việc đánh mất bản sắc dân tộc.

- Tác động:

+ Nhắc nhở thế hệ trẻ trân trọng tiếng mẹ đẻ, văn hóa và truyền thống dân tộc.

+ Khuyến khích một cách tiếp cận văn minh hơn đối với hội nhập: học hỏi những điều tốt đẹp từ các nền văn hóa khác mà vẫn giữ gìn giá trị cốt lõi của dân tộc mình.

+ Đoạn trích cũng nhấn mạnh vai trò của gia đình và giáo dục trong việc định hình nhân cách và giá trị văn hóa của một cá nhân.

Giải thích:

Câu hỏi yêu cầu nêu tác động của thông điệp đối với sự tiến bộ xã hội ngày nay, vì vậy cần chỉ ra thông điệp của đoạn trích (không sính ngoại đến mức đánh mất bản sắc dân tộc) và giải thích tác động của thông điệp ấy trong thực tế: giúp chúng ta biết trân trọng tiếng Việt, giữ gìn truyền thống, coi trọng gia đình và hội nhập có chọn lọc.

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 8 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close