Đọc hiểu Truyện núi Tản Viên (Trần Thế Pháp) | Luyện đề đọc hiểu Văn 6

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành nước Nam Việt(1). Núi cao ngất, tròn như cái tán cho nên có tên ấy(2). Xưa, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Long Quân đem 50 người xuống biển, còn lại 50 người con trai theo mẹ Âu Cơ chia trị các xứ, hiệu là Hùng Vương. Thần núi Tản Viên là một trong 50 người con trai theo cha xuống biển.

Quảng cáo
Câu hỏi

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

TRUYỆN NÚI TẢN VIÊN

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành nước Nam Việt(1). Núi cao ngất, tròn như cái tán cho nên có tên ấy(2). Xưa, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Long Quân đem 50 người xuống biển, còn lại 50 người con trai theo mẹ Âu Cơ chia trị các xứ, hiệu là Hùng Vương. Thần núi Tản Viên là một trong 50 người con trai theo cha xuống biển. Thần từ thủy quốc về đất liền theo đường cửa bể Thần Phù, tìm chỗ sinh sống ở nơi cao ráo, thanh tịnh, dân chúng chất phác, phong thổ hiền hòa. Thần ven theo sông lớn tới đất Long Đỗ thành Long Biên. Thần muốn định cư ở đó, song lại không vừa ý.

Sau thần đi ngược lên sông Lô đến bờ đất Phiên (Phiên Tân) bên bờ sông Phúc Lộc, ngưỡng trông thấy núi Tản Viên, cao lớn đẹp đẽ, các núi khác lớn nhỏ trùng điệp vây quanh, phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Dưới núi thì dân chúng chất phác hiền lành. Cho nên thần mới cho mở một con đường từ đất Phiên cho tới phía nam của núi Tản Viên, ngang qua động Vệ (Vệ Động), tới nguồn sông đất Nham Tuyền, qua bờ đá, lên đỉnh núi Vân Mộng mà làm nhà sống ở đó. Thần thường ngao du xem đánh cá ở đất Tích Giang, đi qua đấu thần đều xây nhà cửa để nghỉ ngơi. Người đời sau, nhờ các vết tích ấy mà lập miếu thờ cúng. Gặp lúc hạn hán hay gặp lúc lụt lội đến khấn cầu đều rất là linh nghiệm. Những lúc trời quang mây tạnh, thấy như có bóng cờ xí thấp thoáng dưới chân núi, dân chúng sống trong vùng đều cho là sơn thần hiển hiện.

Đời Đường Cao Biền ở An Nam muốn yểm linh mạch, bèn mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi, nhồi cỏ hôi vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngại đem tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm chém đầu, phàm muốn đánh lừa các thần đều dùng thuật này. Cao Biền đem thuật đó để yểm thần núi Tản Viên, thì thấy thần cưỡi ngựa trắng ở trên mây, nhổ nước bọt xuống rồi bỏ đi. Biền than rằng: “Linh khí ở phương Nam không thể lường được, vượng khí đời nào hết được!”. Sự linh ứng của thần đã hiển hiện ra như vậy đó.

Tương truyền rằng thần và Thuỷ Tinh cùng cầu hôn với Mỵ Nương, con gái của vua Hùng. Lễ vật của thần đến trước, vua Hùng bèn gả Mỵ Nương cho, thần rước Mỵ Nương về núi Tản Viên. Thủy tinh đến sau, không kịp, cả giận liền đem loài thủy tộc đến đánh để cướp lại. Thần lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Còn Thủy Tinh thì mở một nhánh sông từ sông Lị Nhân chảy ra sông Hát, đổ vào sông Đà để đánh thần núi Tản Viên. Lại mở ngách sông Tiểu Tích Giang hướng về trước núi Tản Viên, qua các động Cam Giá, Đông Lâu, Cổ Ngạc, Ma Sá, Dục Giang, đều đánh sụt thành các vũng nước lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc. Thuỷ Tinh thường làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên để đánh thần. Dân ở chân núi thấy thế bèn làm hàng rào thưa bằng tre để đón đỡ, đánh trống, gõ cối, hò reo để cứu viện. Mỗi khi thấy rơm rác trôi bên ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành thấy ba ba thuồng luồng trôi ngập cả khúc sông. Thuỷ Tinh chưa nguôi giận, vẫn thường hay đến quấy rối. Hàng năm vào khoảng tháng tám tháng chín thường có lụt lội, dân trong vùng vẫn phải chịu thiệt hại mùa màng. Cho đến nay cũng vẫn như thế! Người đời tương truyền rằng đó là vì Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau lấy Mỵ Nương mà sinh chuyện vậy.

(Trần Thế Pháp, Trích Lĩnh Nam chích quái, NXB Kim Đồng, 2019)

Chú thích:

(1) Có bản chép: Núi Tản Viên là kinh đô nước Việt Thường, ở phía tây thành Thăng Long đời Lý.

(2) Núi Tản Viên: Chữ Hán Tán, còn có âm Nôm đọc là Tản, Viên: có nghĩa là Tròn. Tản Viên: tròn như cái tán, như cái dù.

Câu 1

Các sự việc trong câu chuyện trên được sắp xếp theo trình tự nào?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc văn bản, xác định các sự việc chính và sắp xếp theo trình tự kể chuyện.

Lời giải chi tiết

Các sự việc được kể theo trình tự thời gian.

Giải thích:

Trình tự xuất hiện của các sự việc trong câu chuyện là:

- Thần núi Tản Viên theo cha từ thủy quốc lên đất liền, đi tìm nơi sinh sống và chọn núi Tản Viên làm nơi định cư.

- Thần mở đường, dựng nhà, thường ngao du nhiều nơi, người dân lập miếu thờ và tôn kính thần.

- Cao Biền dùng phép thuật để yểm linh mạch nhưng thất bại trước sự linh thiêng của thần núi Tản Viên.

- Thần núi Tản Viên cầu hôn và cưới Mỵ Nương.

- Thủy Tinh nổi giận, đem quân đánh Sơn Tinh; hai bên giao chiến, từ đó hằng năm xảy ra lũ lụt.

Câu 2

Xác định thể loại của câu chuyện trên.

Xem lời giải
Phương pháp giải

Căn cứ vào đặc điểm nội dung và yếu tố nghệ thuật của văn bản để xác định thể loại.

Lời giải chi tiết

Văn bản thuộc thể loại truyền thuyết.

Giải thích:

Đây là câu chuyện dân gian kể về nhân vật Sơn Tinh gắn với nguồn gốc địa danh, có nhiều yếu tố kì ảo, phản ánh nhận thức của nhân dân về lịch sử và hiện tượng thiên nhiên.

Câu 3

Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Sau thần đi ngược lên sông Lô đến bờ đất Phiên (Phiên Tân) bên bờ sông Phúc Lộc, ngưỡng trông thấy núi Tản Viên, cao lớn đẹp đẽ, các núi khác lớn nhỏ trùng điệp vây quanh, phong cảnh đẹp như tranh vẽ.”

Xem lời giải
Phương pháp giải

Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn và phân tích tác dụng của biện pháp đó.

Lời giải chi tiết

- Biện pháp tu từ: So sánh qua hình ảnh "phong cảnh đẹp như tranh vẽ".

- Tác dụng: Biện pháp so sánh làm nổi bật vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của núi Tản Viên; giúp cảnh vật trở nên sinh động, giàu sức gợi; đồng thời tăng sức biểu cảm và thể hiện sự ngợi ca của tác giả đối với vẻ đẹp của núi Tản Viên.

Giải thích:

Tác giả so sánh phong cảnh núi Tản Viên với "tranh vẽ" để nhấn mạnh vẻ đẹp hài hòa, tráng lệ của thiên nhiên. Qua đó, người đọc cảm nhận được đây là vùng đất vừa hùng vĩ vừa nên thơ, xứng đáng là nơi thần núi lựa chọn sinh sống.

Câu 4

Khung cảnh núi Tản được miêu tả như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Đọc kĩ đoạn văn miêu tả núi Tản Viên, chỉ ra những đặc điểm nổi bật và phân tích ý nghĩa của cách miêu tả.

Lời giải chi tiết

- Núi Tản Viên được miêu tả là một khung cảnh vô cùng đặc sắc và ấn tượng.

+ Đoạn văn mô tả nó là một ngọn núi ở phía tây kinh thành nước Nam Việt, có hình dáng cao ngất và tròn như cái tán, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo. Các đỉnh núi lớn nhỏ xếp trùng nhau, vây quanh như tranh vẽ, tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời.

+ Ngoài ra, sự linh thiêng của núi còn được nhấn mạnh qua cách miêu tả về động Vệ, núi Vân Mộng và những con đường mà thần Tản Viên đã chọn để đi qua. Những nơi này không chỉ là địa điểm đẹp mắt mà còn là những khu vực linh thiêng, nơi thần thường xuyên nghỉ ngơi và tạo ra những hiện tượng đặc biệt.

- Ý nghĩa của cách miêu tả này

+ Làm nổi bật vị thế quan trọng và đặc biệt của núi Tản Viên trong tâm trí người viết và trong văn hóa dân gian. Hình ảnh đẹp đẽ của núi Tản Viên không chỉ tạo ra một cảm giác hùng vĩ và trân quý mà còn thể hiện sự kính trọng và sự thán phục của người dân đối với núi này.

+ Thể hiện niềm tự hào về sự hùng vĩ của đất nước, tôn vinh truyền thuyết và văn hóa dân gian.

Giải thích:

Việc miêu tả thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa tươi đẹp không chỉ góp phần khắc họa bối cảnh của truyền thuyết mà còn tôn vinh vẻ đẹp của núi Tản Viên và khẳng định vị trí đặc biệt của ngọn núi trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt.

Câu 5

Theo em, việc chăm sóc các đền thờ, miếu mạo có cần thiết không? Các công trình ấy có vị trí như thế nào trong đời sống văn hóa của con người?

Xem lời giải
Phương pháp giải

Nêu quan điểm của bản thân, sau đó lí giải dựa trên giá trị văn hóa và thực tiễn.

Lời giải chi tiết

Gợi ý: Theo em, việc chăm sóc các đền thờ, miếu mạo là rất cần thiết vì đây là những công trình lưu giữ các giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc; góp phần bảo tồn di sản và giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân. Đồng thời, các công trình ấy giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của con người vì là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tưởng nhớ những người có công với đất nước, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, gắn kết cộng đồng và góp phần phát triển du lịch văn hóa.

Giải thích:

Đền thờ, miếu mạo là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và tinh thần của dân tộc. Việc chăm sóc, bảo tồn các công trình này giúp gìn giữ di sản, giáo dục truyền thống biết ơn cội nguồn và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân. Vì vậy, chúng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và kết nối các thế hệ.

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close