Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Mở bài trực tiếp Mẫu 1
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích gồm mười sáu câu thơ khắc họa tâm trạng cô đơn của Thúy Kiều, lòng thủy chung với Kim Trọng, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ và nỗi buồn sợ trước tương lai giông bão qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du.
Mở bài trực tiếp Mẫu 2
Mười sáu câu thơ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích tập trung thể hiện bi kịch cô độc của Thúy Kiều nơi đất khách, qua đó ngợi ca lòng thủy chung với người yêu, sự hiếu thảo với cha mẹ và lột tả nỗi tuyệt vọng của nàng trước sóng gió cuộc đời.
Mở bài trực tiếp Mẫu 3
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là bức tranh nội tâm của Thúy Kiều khi bị giam lỏng, phản ánh nỗi nhớ người yêu, nỗi xót thương cha mẹ và tâm trạng hoảng sợ, bế tắc của nàng được gửi gắm qua chuỗi hình ảnh buồn trông và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
Mở bài gián tiếp Mẫu 1
Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích là những thước phim quay cận cảnh vào góc tối sâu thẳm trong tâm hồn Thúy Kiều khi bị giam lỏng giữa bốn bề vắng lặng. Lời thơ khơi sâu vào nỗi đau thắt ruột của một tình yêu tan vỡ, tiếng thở dài thương xót đấng sinh thành già nua, để rồi khép lại bằng một chuỗi âm thanh và hình ảnh thiên nhiên cuồng dữ, hiển hiện lên một dự cảm hãi hùng về cơn bão táp sắp sửa nhấn chìm cuộc đời người con gái nhỏ bé.
Mở bài gián tiếp Mẫu 2
Bằng liên hệ văn học:
Nếu ca dao mượn hình ảnh thân em như chẽn lúa đòng đòng để nói về sự bấp bênh của số phận, thì đến đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du đã đẩy nỗi đau ấy thành bi kịch tinh thần sâu sắc. Mười sáu câu thơ mở ra không gian giam lỏng cô độc, nơi Kiều gặm nhấm nỗi đau phụ tình Kim Trọng, niềm xót xa chưa tròn chữ hiếu, trước khi tâm hồn nàng đổ sụp trước tiếng sóng ầm ầm – dự cảm hãi hùng về tương lai giông bão.
Mở bài gián tiếp Mẫu 3
Bằng liên hệ thực tế:
Nhìn từ thực tế, nỗi cô đơn hay sự bất an của con người trước biến cố luôn là tâm lý chung của mọi thời đại, và mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích đã lột tả xuất sắc bi kịch ấy. Nguyễn Du đã thấu suốt những sang chấn của một cô gái trẻ qua nỗi nhớ người yêu son sắt, lòng xót thương cha mẹ già nua, để rồi khép lại bằng chuỗi hình ảnh tả cảnh ngụ tình đầy ám ảnh về một kiếp người trôi dạt vô định trước giông bão cuộc đời.
Mở bài gián tiếp Mẫu 4
Bằng phép đối:
Trái ngược với vẻ bình yên, lặng gió của cảnh vật thiên nhiên bên ngoài, mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích lại mở ra một thế giới nội tâm đầy giông bão và rớm máu của Thúy Kiều. Phép đối lập đỉnh cao giữa không gian lầu Ngưng Bích mênh mông, rợn ngợp với thân phận con người nhỏ bé, bơ vơ đã lột tả trọn vẹn nỗi nhớ người yêu son sắt, lòng hiếu thảo xót thương cha mẹ, để rồi kết lại bằng tiếng sóng dữ dội – dự cảm hãi hùng về tương lai lưu lạc.
Mở bài gián tiếp Mẫu 5
Từ chủ đề:
Xoay quanh chủ đề bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích đã lột tả xuất sắc nỗi đau đớn và bế tắc của thân phận má hồng. Nguyễn Du đã làm ngời sáng chủ đề này qua nỗi nhớ người yêu son sắt, lòng xót thương cha mẹ già nua, để rồi khép lại bằng chuỗi hình ảnh tả cảnh ngụ tình đầy ám ảnh về một kiếp người trôi dạt vô định trước giông bão cuộc đời.
Mở bài gián tiếp Mẫu 6
Bằng câu hỏi tu từ:
Liệu có nỗi đau nào đớn đau hơn khi một người con gái hiếu thảo, thủy chung lại phải nếm trải bi kịch giam lỏng cô độc giữa bốn bề rợn ngợp của lầu Ngưng Bích? Mười sáu câu thơ trong đoạn trích đã lột tả xuất sắc dòng tâm trạng đầy bão dông ấy của Thúy Kiều qua nỗi nhớ người yêu son sắt, lòng xót thương cha mẹ già nua, để rồi khép lại bằng chuỗi hình ảnh tả cảnh ngụ tình đầy ám ảnh về một kiếp người trôi dạt vô định trước giông bão cuộc đời.
Mở bài gián tiếp Mẫu 7
Từ tác giả:
Là một nhà nhân đạo lỗi lạc với trái tim vô cùng mẫn cảm trước nỗi đau của con người, đại thi hào Nguyễn Du đã dồn hết niềm cảm thương sâu sắc vào mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích. Từ sự đồng cảm của người nghệ sĩ, ông đã lột tả xuất sắc dòng tâm trạng đầy bão dông của Thúy Kiều qua nỗi nhớ người yêu son sắt, lòng xót thương cha mẹ già nua, để rồi khép lại bằng chuỗi hình ảnh tả cảnh ngụ tình đầy ám ảnh về một kiếp người trôi dạt vô định trước giông bão cuộc đời.
Kết bài không mở rộng Mẫu 1
Tóm lại, mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích đã khắc họa xuất sắc bi kịch cô đơn và bế tắc của Thúy Kiều qua bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy. Đoạn trích không chỉ lột tả nỗi hoảng sợ của nàng trước giông bão cuộc đời mà còn ngợi ca lòng thủy chung, hiếu thảo son sắt, để lại niềm cảm thương sâu sắc trong lòng người đọc.
Kết bài không mở rộng Mẫu 2
Khép lại đoạn trích, người đọc hoàn toàn bị ám ảnh bởi thế giới nội tâm đầy bi kịch nhưng ngời sáng phẩm chất của Thúy Kiều. Bằng điệp ngữ buồn trông độc đáo, Nguyễn Du đã tái hiện thành công nỗi nhớ người yêu, lòng hiếu thảo vị tha cùng dự cảm hãi hùng về số phận lưu lạc, khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
Kết bài không mở rộng Mẫu 3
Như vậy, mười sáu câu thơ đã hoàn thành xuất sắc việc khắc họa những biến động dữ dội trong cõi lòng Thúy Kiều khi bị giam lỏng. Đoạn thơ là sự đan xen giữa nỗi đau tình yêu dang dở, lòng xót xa chưa tròn bổn phận làm con và nỗi sợ hãi trước tương lai mờ mịt, chứng minh thiên tài thấu suốt tâm lý nhân vật của Nguyễn Du.
Kết bài mở rộng Mẫu 1
Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Tóm lại, mười sáu câu thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích là những nốt nhạc trầm buồn, nhỏ lệ cho kiếp hồng nhan bạc mệnh giữa dòng đời bão tố. Đoạn trích không chỉ phơi bày cõi lòng rớm máu, bơ vơ của Thúy Kiều qua nỗi nhớ tình đầu da diết và tiếng thở dài xót thương cha mẹ, mà còn khép lại bằng tiếng sóng gầm vang đầy đe dọa, để lại dư âm nhức nhối về một thân phận vô định trước cạm bẫy cuộc đời.
Kết bài mở rộng Mẫu 2
Bằng liên hệ văn học:
Nếu như ca dao than thân khép lại bằng những câu hỏi lửng lơ về số phận bấp bênh của hạt mưa sa, thì đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích lại kết thúc bằng những âm thanh gầm vang đầy đe dọa của sóng gió dữ dội. Qua bút pháp tả cảnh ngụ tình xuất sắc, Nguyễn Du đã tạc vào văn học trung đại hình tượng một Thúy Kiều ngời sáng tình hiếu nhưng hoàn toàn bất lực, hoảng sợ trước cánh cửa lưu lạc đầy máu và nước mắt đang mở ra.
Kết bài mở rộng Mẫu 3
Bằng liên hệ thực tế:
Từ bi kịch của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, người đọc thời đại nào cũng tìm thấy sự đồng cảm sâu sắc với tâm lý hoảng sợ, bất an của con người trước những biến cố lớn trong thực tế cuộc sống. Mười sáu câu thơ của Nguyễn Du không chỉ là tiếng khóc thương cho người con gái hiếu thảo, thủy chung bị giam lỏng, mà còn là lời nhắc nhở nhức nhối về sức tàn phá của hoàn cảnh đối với những kiếp người nhỏ bé, cô độc giữa giông bão cuộc đời.
Kết bài mở rộng Mẫu 4
Bằng phép đối:
Gập lại trang thơ, người đọc lập tức bị ám ảnh bởi phép đối lập gay gắt giữa ngoại cảnh lầu Ngưng Bích rộng lớn, rợn ngợp với tâm cảnh Thúy Kiều nhỏ bé, bơ vơ. Nguyễn Du đã kết tinh trọn vẹn tài năng tả cảnh ngụ tình để đối xứng giữa một bên là phẩm chất thủy chung, hiếu thảo ngời sáng với một bên là số phận hoa trôi vô định, để lại dư âm nhức nhối về bi kịch của một kiếp hồng nhan bạc mệnh.
Kết bài mở rộng Mẫu 5
Từ chủ đề:
Gập lại trang thơ, đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nổi bật chủ đề bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đỉnh cao, Nguyễn Du không chỉ phơi bày nỗi cô đơn, bế tắc của thân phận hoa trôi man mác mà còn ngợi ca tấm lòng thủy chung, hiếu thảo son sắt, gửi gắm thông điệp nhân đạo sâu sắc đến người đọc.
Kết bài mở rộng Mẫu 6
Bằng câu hỏi tu từ:
Khép lại mười sáu câu thơ, liệu có người đọc nào không khỏi xót xa trước cõi lòng rớm máu và tiếng khóc thầm bất lực của Thúy Kiều nơi lầu Ngưng Bích? Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đỉnh cao, Nguyễn Du không chỉ khắc họa trọn vẹn nỗi cô đơn, bế tắc của thân phận má hồng trước giông bão cuộc đời mà còn ngợi ca tấm lòng thủy chung, hiếu thảo son sắt, để lại dư âm nhức nhối trong lòng độc giả.
Kết bài mở rộng Mẫu 7
Từ tác giả:
Khép lại mười sáu câu thơ, ta càng thêm trân trọng trái tim nhân đạo mênh mông của đại thi hào Nguyễn Du khi ông dồn hết niềm cảm thương cho số phận người phụ nữ. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy, nhà thơ không chỉ lột tả xuất sắc cõi lòng rớm máu, bơ vơ của Thúy Kiều khi bị giam lỏng mà còn ngợi ca lòng thủy chung, hiếu thảo son sắt, biến đoạn trích thành một tiếng khóc đau đớn bất tử cùng thời gian.
Danh sách bình luận