(35+ mẫu) Viết bài văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc, đã nghe hay nhất Tiếng Việt - lớp 4Trong số những trang sử vẻ vang của dân tộc, em thích nhất là những câu chuyện kể về các anh hùng nhỏ tuổi. Trong đó, hình ảnh anh Kim Đồng – người đội trưởng đầu tiên của Đội ta – luôn làm em xúc động và khâm phục nhất. Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 4 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Tiếng Việt - Tiếng Anh Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Bài mẫu 1 Trong số những trang sử vẻ vang của dân tộc, em thích nhất là những câu chuyện kể về các anh hùng nhỏ tuổi. Trong đó, hình ảnh anh Kim Đồng – người đội trưởng đầu tiên của Đội ta – luôn làm em xúc động và khâm phục nhất. Anh Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, là một người sáo nhỏ quê ở bản Ngấy, tỉnh Cao Bằng. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia vào Đội Nhi đồng cứu quốc. Hằng ngày, anh cùng các bạn làm nhiệm vụ giao liên, chuyển thư từ bí mật và dẫn đường cho các chú cán bộ vượt qua tai mắt của kẻ thù. Với sự nhanh nhẹn và thông minh, anh đã nhiều lần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Câu chuyện về sự hy sinh của anh là một bài ca anh hùng mà em nhớ mãi. Hôm đó, trong lúc đi liên lạc về, anh Kim Đồng phát hiện quân giặc đang lén lút bao vây nơi các chú cán bộ đang họp. Tình thế vô cùng nguy cấp, nếu không có ai báo tin thì các chú sẽ rơi vào tay giặc. Ngay lập tức, anh Kim Đồng nảy ra một kế hoạch mưu trí. Anh cố tình để lộ mình rồi chạy ngược lên phía sườn núi, vừa chạy vừa hò reo để đánh lạc hướng quân giặc. Thấy bóng người, lũ giặc tưởng là cán bộ nên cuống cuồng đuổi theo và nổ súng liên tiếp. Nhờ những tiếng súng báo động ấy, các chú cán bộ đã kịp thời rút lui vào rừng an toàn. Nhưng thật đau xót, anh Kim Đồng đã bị trúng đạn của quân thù. Anh ngã xuống bên bờ suối Lê-nin khi tuổi đời còn rất trẻ, trên tay vẫn còn nắm chặt chiếc túi đựng thư liên lạc. Anh Kim Đồng chính là một tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm và sự thông minh. Anh không hề run sợ trước họng súng của kẻ thù, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ cách mạng, bảo vệ độc lập cho tổ quốc. Mỗi khi nhắc đến anh, lòng em lại dâng lên niềm tự hào và biết ơn vô hạn. Em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để trở thành con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Em sẽ nỗ lực hết mình để sau này góp phần xây dựng đất nước, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của anh Kim Đồng và các bậc tiền bối đi trước. Bài mẫu 2 Trong những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, có một người thiếu nữ anh hùng đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Đó chính là chị Võ Thị Sáu, người con ưu tú của vùng đất đỏ Bà Rịa. Em biết đến chị qua những bài học lịch sử ở trường và cả qua bài hát thiết tha về loài hoa lê ki ma. Mỗi khi nghe tên chị, lòng em lại dấy lên sự kính trọng và ngưỡng mộ sâu sắc. Chị Võ Thị Sáu sinh ra và lớn lên tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngay từ khi còn là một cô bé, chị đã mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn. Chị sớm tham gia vào hội quân báo tại địa phương để giúp đỡ các chú bộ đội. Dù công việc có nguy hiểm đến đâu, chị vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhờ vào sự thông minh và nhanh nhẹn của mình. Trong một lần thực hiện nhiệm vụ, chị không may rơi vào tay quân giặc. Kẻ thù đã dùng mọi hình phạt tra tấn dã man để ép chị khai ra bí mật của cách mạng, nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết, nhất quyết không hé môi nửa lời. Sự kiên cường của chị đã khiến quân giặc phải khiếp sợ. Giây phút làm em xúc động nhất chính là những ngày cuối cùng của chị tại nhà tù Côn Đảo. Khi bị đưa ra pháp trường, trước họng súng của kẻ thù, chị Sáu không hề run sợ. Chị từ chối bịt mắt vì muốn được nhìn thấy mảnh đất quê hương lần cuối. Với vẻ mặt ung dung, chị thong thả cài bông hoa lê ki ma lên mái tóc và cất cao tiếng hát ca ngợi quê hương, gọi tên Bác Hồ kính yêu. Tiếng hát của chị vang vọng khắp núi rừng Côn Đảo, khẳng định ý chí bất khuất của một người con yêu nước. Sự hy sinh của chị Võ Thị Sáu là biểu tượng cao đẹp cho tinh thần dũng cảm của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh chị hiên ngang giữa pháp trường mãi mãi in sâu vào lòng nhân dân, giống như loài hoa lê ki ma bất tử giữa ngàn gió. Đối với em, chị Võ Thị Sáu là một tấm gương sáng ngời để em noi theo. Em tự hứa với bản thân sẽ học tập thật chăm chỉ, rèn luyện đạo đức thật tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Em sẽ nỗ lực không ngừng để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của chị và các anh hùng dân tộc đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc hôm nay. Bài mẫu 3 Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, có một người anh hùng nhỏ tuổi đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc trong lòng em. Đó chính là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Qua tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng và những bài học lịch sử trên lớp, hình ảnh người thiếu niên dũng cảm ấy luôn là biểu tượng cho tinh thần yêu nước không đợi tuổi. Câu chuyện diễn ra vào thời nhà Trần, khi đất nước ta đang đứng trước họa xâm lăng của giặc Nguyên hung ác. Lúc bấy giờ, vua Trần mở hội nghị Bình Than trên một chiếc thuyền rồng lớn để cùng các quan đại thần bàn kế đánh giặc. Vì Trần Quốc Toản còn quá nhỏ tuổi nên không được mời dự cuộc họp. Anh đứng trên bờ, nhìn xuống thuyền rồng mà lòng đầy lo lắng và khao khát được góp sức mình bảo vệ non sông. Trong lúc đứng chờ, vì quá căm phẫn quân giặc ngang ngược và vừa buồn vì không được cùng vua bàn việc nước, Trần Quốc Toản đã vô tình bóp nát quả cam quý mà vua ban cho lúc nào không hay. Chỉ đến khi mở bàn tay ra, anh mới bàng hoàng thấy quả cam đã nát vụn. Hành động ấy chính là minh chứng cho ý chí quyết tâm đánh giặc đang rực cháy trong lòng người thiếu niên trẻ tuổi. Không nản chí vì tuổi nhỏ, Trần Quốc Toản trở về nhà huy động hàng trăm gia nô và thân thuộc. Anh tự mình sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền và huấn luyện quân sĩ. Đặc biệt, anh đã thêu lên lá cờ đỏ sáu chữ vàng chói lọi: Phá cường địch, báo hoàng ân. Với lòng dũng cảm phi thường, đội quân của anh đi đến đâu quân giặc cũng phải khiếp sợ. Anh trực tiếp xông pha giữa trận mạc, cùng quân dân nhà Trần lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần đánh đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi. Trần Quốc Toản chính là tấm gương sáng về sự mưu trí, dũng cảm và lòng yêu nước nồng nàn. Anh đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng tuổi nhỏ cũng có thể làm nên những việc lớn lao, vĩ đại cho tổ quốc. Mỗi khi nghĩ về hình ảnh người thiếu niên cưỡi ngựa, tay cầm thanh gươm, phía sau là lá cờ sáu chữ vàng bay phấp phới, lòng em lại dâng lên niềm tự hào vô hạn. Anh là niềm tự hào của thiếu nhi Việt Nam qua bao thế hệ. Em tự hứa sẽ luôn rèn luyện ý chí, quyết tâm chăm chỉ học tập để sau này góp sức mình xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp và vững bền. Bài mẫu 4 Trong lịch sử hào hùng của thời nhà Trần, bên cạnh những vị vua anh minh, em còn rất ấn tượng với những vị tướng giỏi xuất thân từ nhân dân. Một trong số đó là danh tướng Phạm Ngũ Lão. Qua những câu chuyện kể về danh nhân lịch sử, hình ảnh ông ngồi đan sọt bên đường đã trở thành một tấm gương sáng về tinh thần ham học và lòng yêu nước sâu sắc mà em luôn kính trọng. Phạm Ngũ Lão quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Dù xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, nhưng ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh và có ý chí khác thường. Thay vì chỉ lo việc đồng áng, ông luôn trăn trở, suy nghĩ về việc nước, việc dân. Câu chuyện làm em nhớ nhất chính là lần gặp gỡ định mệnh giữa ông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Hôm ấy, Phạm Ngũ Lão đang ngồi bên vệ đường để đan sọt. Tâm trí ông mải mê theo đuổi những kế sách đánh giặc cứu nước đến mức không hay biết gì xung quanh. Đúng lúc đó, đoàn quân của Trần Hưng Đạo đi ngang qua rất náo nhiệt với tiếng loa thét, tiếng chân ngựa dậm dồn dập. Quân lính dẹp đường thấy một người nông dân cứ ngồi thản nhiên nên đã dùng giáo đâm vào đùi ông để bắt tránh ra. Thế nhưng, lạ thay, Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi yên, máu chảy xuống chân mà ông vẫn không hề hay biết vì đang quá tập trung suy nghĩ. Thấy sự việc lạ lùng, Trần Hưng Đạo cho dừng kiệu lại và hỏi chuyện. Khi nghe ông trả lời trôi chảy, thông minh về các đạo lý trong binh thư, vị tướng tài ba đã nhận ra ngay đây là một bậc kỳ tài. Trần Hưng Đạo đã đưa ông về kinh thành để bồi dưỡng và rèn luyện. Kể từ đó, Phạm Ngũ Lão đã đem hết tài năng của mình để cống hiến cho tổ quốc. Ông trở thành một vị tướng toàn tài, văn võ song toàn, trực tiếp chỉ huy quân đội nhà Trần lập nên nhiều chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ông không chỉ đánh giặc giỏi mà còn viết nên những bài thơ hào hùng truyền lại cho đời sau. Phạm Ngũ Lão chính là biểu tượng cho ý chí sắt đá và lòng quyết tâm cao độ. Ông sống một cuộc đời giản dị, đức độ, hết lòng vì dân vì nước nên được nhân dân vô cùng yêu mến và kính trọng. Câu chuyện về ông đã dạy cho em một bài học quý giá về sự tập trung và tinh thần ham học hỏi. Em tự hứa sẽ noi gương ông, luôn nỗ lực rèn luyện và chăm chỉ học hành để sau này có thể trở thành một người có ích, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Bài mẫu 5 Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu, có biết bao người chiến sĩ đã ngã xuống để đổi lấy độc lập cho tổ quốc. Trong số những tấm gương sáng ngời ấy, người anh hùng khiến em vô cùng khâm phục và xúc động chính là anh Phan Đình Giót. Qua những bài học lịch sử trên lớp, hình ảnh anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai đã trở thành một biểu tượng bất tử về lòng dũng cảm trong tâm trí em. Anh Phan Đình Giót sinh ra trong một gia đình nghèo tại tỉnh Hà Tĩnh giàu truyền thống cách mạng. Ngay từ khi gia nhập quân đội, anh đã luôn là một chiến sĩ gương mẫu, dũng cảm và sẵn sàng nhận những nhiệm vụ khó khăn nhất mà không một chút nề hà. Câu chuyện về sự hy sinh của anh diễn ra trong trận đánh mở màn vào cứ điểm Him Lam. Đây là một vị trí vô cùng quan trọng, được quân giặc xây dựng hệ thống công sự rất kiên cố. Khi trận đánh diễn ra ác liệt, quân giặc từ trong các lỗ châu mai bắn hỏa lực ra như mưa khiến bộ đội ta không thể tiến lên được. Nhiều đồng đội của anh đã bị thương và hy sinh dưới làn đạn của kẻ thù. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc ấy, dù trên mình đã mang nhiều vết thương đau đớn, anh Phan Đình Giót vẫn kiên cường bò lên phía trước. Khi áp sát được lô cốt địch, anh dùng hết sức bình sinh còn lại, lao mình vào lấp kín lỗ châu mai. Hành động dũng cảm ấy đã khiến hỏa lực của địch bị chặn đứng hoàn toàn. Chớp thời cơ đó, đồng đội của anh đã đồng loạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Him Lam và giành lấy thắng lợi vang dội. Sự hy sinh của anh Phan Đình Giót khi tuổi đời còn rất trẻ đã tiếp thêm sức mạnh to lớn cho toàn quân ta tiến tới chiến thắng cuối cùng. Anh chính là minh chứng hào hùng nhất cho tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Anh đã sẵn sàng đánh đổi cả mạng sống của mình để mở đường cho đồng đội, vì sự bình yên của đất nước. Hình ảnh anh hùng Phan Đình Giót mãi mãi được khắc ghi trong trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. Mỗi khi nhắc đến tên anh, lòng em lại dâng lên niềm tự hào và biết ơn vô hạn. Em tự hứa sẽ luôn chăm chỉ học tập, rèn luyện ý chí kiên cường và đạo đức tốt để xứng đáng với những giọt máu đào mà các thế hệ cha anh đã đổ xuống cho chúng em có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc hôm nay. Bài mẫu 6 Trong những trang sử vẻ vang của thời nhà Trần, bên cạnh những vị tướng oai phong trên lưng ngựa, em còn đặc biệt ấn tượng với một người anh hùng có tài bơi lặn phi thường. Đó chính là Yết Kiêu. Qua những câu chuyện lịch sử về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, hình ảnh ông lặn lội dưới lòng sông sâu để đánh giặc luôn làm em vô cùng khâm phục. Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, quê ở tỉnh Hải Dương. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã nổi tiếng khắp vùng vì có sức khỏe hơn người và tài bơi lặn giỏi hiếm có. Người ta kể rằng, ông có thể lặn dưới nước suốt cả ngày trời mà vẫn bình thường như một loài cá lớn. Tài năng đặc biệt ấy đã được ông dùng để cống hiến cho đất nước khi giặc ngoại xâm tràn sang. Vào thời đó, quân Nguyên Mông xâm lược nước ta với những đoàn thuyền chiến lớn và rất mạnh. Để đối phó với kẻ thù, Yết Kiêu đã có một cách đánh vô cùng mưu trí. Không cần đao kiếm cầu kỳ, ông chỉ mang theo một chiếc dùi sắt và một chiếc búa. Đêm đêm, khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ, ông bí mật lặn xuống dòng sông lạnh lẽo, tìm đến những chiếc thuyền lớn của giặc. Ông khéo léo dùng dùi đục thủng đáy thuyền khiến nước tràn vào ồ ạt. Giặc đang ngủ say thì thấy thuyền chìm, chúng vô cùng hoảng sợ và hỗn loạn vì không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có một lần, Yết Kiêu không may bị giặc bắt được. Khi chúng tra hỏi về tài năng của ông, ông đã hiên ngang trả lời khiến quân giặc phải kinh ngạc và nể sợ trước khí tiết của một người dân nước Việt. Sau đó, bằng sự mưu trí và nhanh nhẹn, ông đã tìm cách trốn thoát khỏi tay giặc để trở về tiếp tục cùng quân dân ta chiến đấu. Nhờ tài năng xuất chúng, Yết Kiêu đã phá hủy rất nhiều tàu chiến của địch, góp công lớn vào thắng lợi lẫy lừng của quân dân nhà Trần. Ông cùng với vị tướng Dã Tượng đã trở thành hai người cận vệ trung thành và đắc lực nhất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Yết Kiêu chính là một tấm gương sáng về lòng dũng cảm, sự mưu trí và tình yêu nước nồng nàn. Ông đã dùng chính tài năng riêng biệt của mình để bảo vệ độc lập cho tổ quốc. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử và được nhân dân ta ghi nhớ, thờ phụng mãi mãi. Em cảm thấy rất tự hào về những người anh hùng dân tộc như ông. Em tự hứa sẽ chăm chỉ rèn luyện sức khỏe, học tập thật tốt để sau này có thể dùng tài năng của mình giúp ích cho đất nước Việt Nam thân yêu. Bài mẫu 7 Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, có rất nhiều tấm gương hy sinh anh dũng, nhưng câu chuyện về anh hùng Lê Lai cứu chúa luôn khiến em cảm thấy xúc động và khâm phục nhất. Qua lời kể của thầy cô và câu tục ngữ quen thuộc "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi", hình ảnh vị tướng trung kiên ấy đã in đậm trong tâm trí em như một biểu tượng của lòng trung thành vô hạn. Câu chuyện xảy ra vào thời kỳ quân Minh xâm lược nước ta, chúng gây ra biết bao tội ác khiến nhân dân lầm than. Lúc bấy giờ, ông Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại vùng núi Lam Sơn, Thanh Hóa. Ông Lê Lai là một trong những người đầu tiên tham gia nghĩa quân, luôn sát cánh cùng chủ tướng vượt qua mọi hiểm nguy. Có một lần, nghĩa quân Lam Sơn bị giặc Minh bao vây chặt trên núi Chí Linh. Tình thế vô cùng nguy cấp khi lương thực đã cạn kiệt, quân giặc lại quyết tâm bắt sống bằng được chủ tướng Lê Lợi để dập tắt cuộc khởi nghĩa. Trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", ông Lê Lai đã có một quyết định vô cùng cao thượng. Ông tình nguyện đóng giả làm Lê Lợi để đánh lạc hướng quân thù, mở đường sống cho chủ tướng và nghĩa quân. Ông mặc áo bào của nhà vua, cưỡi voi và dẫn một toán quân xông thẳng vào trận địa quân Minh. Thấy người mặc áo bào rực rỡ, quân giặc tưởng đó chính là Lê Lợi nên dồn hết sức mạnh tập trung vào để bắt ông. Ông Lê Lai đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, một mình chống chọi với vòng vây quân giặc cho đến hơi thở cuối cùng. Nhờ sự hy sinh anh dũng của ông, chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân đã có thời gian bí mật rút lui, bảo toàn lực lượng để sau này đánh thắng quân Minh, giành lại độc lập cho nước nhà. Hành động của ông Lê Lai là biểu tượng cao đẹp nhất của lòng trung thành và tinh thần hy sinh quên mình vì nghĩa lớn. Để ghi nhớ công ơn to lớn ấy, sau khi lên ngôi vua, Lê Lợi đã phong ông là công thần hạng nhất. Cho đến tận ngày nay, nhân dân vẫn lập đền thờ và tổ chức giỗ ông trước ngày giỗ vua một ngày để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc. Mỗi khi nhớ về sự hy sinh của ông Lê Lai, em lại cảm thấy vô cùng tự hào về truyền thống anh hùng của cha ông. Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để sau này trở thành người có ích, xứng đáng với những gì các vị anh hùng đã hy sinh để mang lại cuộc sống hòa bình cho chúng em hôm nay. Bài mẫu 8 Trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng đất phương Nam đã sinh ra biết bao người con ưu tú. Một trong những người anh hùng mà em kính trọng nhất chính là ông Nguyễn Trung Trực. Qua những bài học lịch sử, hình ảnh vị thủ lĩnh dũng cảm với câu nói bất hủ trước pháp trường luôn làm em xúc động và tự hào vô cùng. Ông Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh ra trong một gia đình làm nghề chài lưới ở vùng đất Long An. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người giỏi võ nghệ, có tính cách cương trực và mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông đã đứng lên lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu bảo vệ xóm làng. Chiến công lừng lẫy nhất của ông chính là trận đốt cháy tàu Hy Vọng của Pháp trên dòng sông Nhật Tảo. Với mưu trí tuyệt vời, ông đã chỉ huy nghĩa quân áp sát và tiêu diệt tàu địch, khiến quân giặc vô cùng hoảng sợ. Không dừng lại ở đó, ông còn lãnh đạo quân ta đánh chiếm đồn giặc ở Rạch Giá, làm lung lay ý chí xâm lược của kẻ thù. Điều khiến em cảm phục nhất chính là khí tiết của ông khi rơi vào tay giặc. Dù bị thực dân Pháp dùng đủ mọi cách dụ dỗ, thậm chí dùng tính mạng của gia đình để đe dọa, ông vẫn giữ vững lòng trung thành với tổ quốc. Trước lúc bị đưa đi hành hình, ông đã hiên ngang tuyên bố một câu nói đi vào lịch sử: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây". Câu nói ấy như một lời khẳng định sắt đá rằng nhân dân ta sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Nguyễn Trung Trực không chỉ là một vị tướng dũng cảm mà còn là một tấm gương sáng về lòng hiếu thảo với cha mẹ và tình yêu sâu nặng với quê hương. Ông chính là biểu tượng của tinh thần bất khuất, thà hy sinh tính mạng chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ. Hình ảnh người anh hùng Nguyễn Trung Trực mãi mãi sống trong lòng nhân dân miền Nam và cả nước. Em cảm thấy vô cùng tự hào khi đất nước mình có những người con kiên cường như ông. Em tự hứa sẽ học tập thật chăm chỉ, rèn luyện đạo đức thật tốt để sau này có thể góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Bài mẫu 9 Trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam, hình ảnh Bác Hồ luôn hiện lên thật ấm áp và gần gũi. Bác là vị lãnh đạo kính yêu, là người cha già vĩ đại đã dành cả cuộc đời mình để đem lại độc lập, tự do cho tổ quốc. Qua những bài học trên lớp và những câu chuyện kể về nếp sống giản dị của Người, em càng thêm kính trọng và tự hào về Bác – một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Bác Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tên lúc nhỏ của Bác là Nguyễn Sinh Cung. Sau này, trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã lấy tên là Nguyễn Tất Thành và nhiều tên gọi khác nhau. Dù ở đâu hay mang tên gọi nào, trong lòng Bác vẫn luôn đau đáu nỗi niềm vì dân, vì nước. Khi chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân Pháp dày xéo, nhân dân lầm than, Bác đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, với hai bàn tay trắng và ý chí sắt đá, Bác bắt đầu cuộc hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển. Sau nhiều năm gian khổ, Bác đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và trở về trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta vùng lên chiến đấu. Giây phút thiêng liêng nhất chính là ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Điều khiến em vô cùng cảm động chính là lối sống giản dị của Người. Dù giữ cương vị là Chủ tịch nước, nhưng Bác vẫn sống trong ngôi nhà sàn gỗ mộc mạc. Bác thường mặc bộ quần áo kaki đã sờn màu, đi đôi dép cao su giản dị và ăn những món ăn đạm bạc của quê hương như dưa muối, cá kho. Bác dành tình yêu thương bao la cho tất cả mọi người, nhất là đối với các cháu thiếu niên và nhi đồng. Bác luôn dành thời gian quan tâm, gửi thư thăm hỏi và nhắc nhở chúng em phải cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành người có ích. Bác Hồ chính là biểu tượng của sự thông minh, lòng nhân hậu và tinh thần hy sinh quên mình. Bác luôn đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết, không một chút riêng tư cho bản thân mình. Dù Bác đã đi xa, nhưng hình ảnh của Người vẫn mãi mãi sống trong lòng người dân Việt Nam như một vị thánh hiền. Để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ, em tự hứa sẽ luôn học tập thật chăm chỉ, thực hiện tốt năm điều Bác dạy. Em sẽ nỗ lực rèn luyện mỗi ngày để sau này góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như tâm nguyện của Bác. Bài mẫu 10 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có biết bao người anh hùng đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong đó, hình ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang trên pháp trường luôn để lại trong em nỗi xúc động và sự kính trọng vô biên. Qua những thước phim tư liệu và bài học lịch sử, em thấy anh chính là tấm gương sáng ngời về lòng quả cảm, thà hy sinh chứ nhất quyết không chịu khuất phục trước kẻ thù. Anh Nguyễn Văn Trỗi sinh ra tại vùng đất Quảng Nam kiên cường, sau đó anh vào Sài Gòn làm thợ điện để mưu sinh và bí mật hoạt động cách mạng. Dù vẻ ngoài là một thanh niên hiền lành, giản dị, nhưng bên trong anh lại mang một lòng căm thù giặc sâu sắc và một tình yêu tổ quốc cháy bỏng. Sự kiện làm nên tên tuổi bất tử của anh chính là trận đánh trên cầu Công Lý năm 1964. Khi biết tin một phái đoàn cao cấp của Mỹ sẽ đi qua đây, anh Trỗi đã dũng cảm tình nguyện nhận nhiệm vụ đặt mìn để tiêu diệt chúng. Tuy nhiên, kế hoạch không may bị lộ, anh bị giặc bắt ngay tại hiện trường. Trong những ngày tháng bị giam cầm, quân giặc đã dùng mọi hình thức tra tấn dã man nhất, nhưng chúng đã thất bại trước ý chí sắt đá của người thợ điện trẻ tuổi. Anh không một lời khai báo, luôn giữ vững bí mật để bảo vệ tổ chức và đồng đội của mình. Những phút giây cuối cùng của anh trên pháp trường là hình ảnh rực rỡ nhất mà lịch sử mãi ghi truyền. Trước họng súng của kẻ thù, anh Nguyễn Văn Trỗi không một chút run sợ. Anh dõng dạc từ chối chiếc băng bịt mắt vì muốn được nhìn thấy mảnh đất quê hương thân yêu lần cuối. Anh hiên ngang vạch trần tội ác của kẻ thù và hô vang những lời cuối cùng đầy hào hùng: "Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!". Tiếng hô ấy vang vọng khắp không gian, khẳng định ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam. Sự hy sinh của anh Nguyễn Văn Trỗi đã tiếp thêm sức mạnh to lớn cho hàng triệu người dân Việt Nam quyết tâm chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng. Anh chính là biểu tượng đẹp đẽ nhất của thế hệ trẻ miền Nam thời kỳ chống Mỹ: dũng cảm, trung thành và đầy lý tưởng. Ngày nay, tên của anh đã được đặt cho nhiều ngôi trường và con phố lớn để nhắc nhở chúng em về công ơn của người anh hùng đã ngã xuống. Em cảm thấy vô cùng tự hào và biết ơn sự hy sinh của anh. Em tự hứa sẽ luôn học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để sau này xứng đáng với cuộc sống hòa bình mà anh đã đánh đổi bằng cả tuổi thanh xuân của mình. Bài mẫu 11 Trong lịch sử kháng chiến của dân tộc, hình ảnh những người anh hùng với lòng yêu nước nàn luôn là tấm gương sáng cho chúng em noi theo. Trong đó, em đặc biệt ấn tượng với Anh hùng Núp – người con ưu tú của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Qua tác phẩm "Đất nước đứng lên", em đã hiểu thêm về một vị thủ lĩnh tài ba, dũng cảm và là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của đồng bào các dân tộc. Anh hùng Núp là người dân tộc Ba Na, sinh ra tại làng Stơr, tỉnh Gia Lai. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã phải chứng kiến cảnh thực dân Pháp bắt bớ, áp bức dân làng vô cùng cực khổ. Những tiếng khóc than của bà con và cảnh xóm làng bị tàn phá đã sớm nuôi dưỡng trong lòng ông ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại bình yên cho núi rừng. Một trong những câu chuyện thú vị nhất về ông chính là việc ông đã giúp dân làng vượt qua nỗi sợ hãi quân Pháp. Ngày ấy, vì chưa hiểu biết, dân làng rất sợ quân Pháp vì nghĩ chúng là thần thánh, có phép thuật và không thể bị thương. Để chứng minh điều ngược lại, ông Núp đã dùng nỏ bắn trúng một tên lính Pháp. khi thấy hắn cũng chảy máu và ngã xuống như bao người bình thường, dân làng mới ồ lên kinh ngạc. Từ đó, ông giúp bà con tin rằng giặc Pháp hoàn toàn có thể bị đánh bại nếu chúng ta đoàn kết và dũng cảm. Dưới sự lãnh đạo mưu trí của ông, làng Stơr đã biến thành một làng kháng chiến kiên cường. Ông hướng dẫn mọi người vào rừng chặt tre làm chông, vót cung nỏ và dàn trận hiểm hóc trên các sườn núi. Dù quân giặc nhiều lần bao vây, đốt phá làng và chặn nguồn lương thực khiến bà con phải ăn củ mài, rau rừng để sống qua ngày, nhưng dưới sự dẫn dắt của ông Núp, không một ai nản chí hay đầu hàng. Làng Stơr đã trở thành một pháo đài vững chắc giữa đại ngàn khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Với những đóng góp to lớn đó, ông đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông cũng chính là người dân tộc thiểu số đầu tiên của nước ta nhận được danh hiệu cao quý này. Anh hùng Núp không chỉ thông minh, mưu trí mà còn là biểu tượng rực rỡ cho sức mạnh đoàn kết của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam. Hình ảnh Anh hùng Núp với chiếc nỏ trên vai và ánh mắt kiên định mãi mãi là niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên và nhân dân cả nước. Em cảm thấy vô cùng khâm phục ý chí và lòng yêu nước của ông. Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện bản thân mỗi ngày để sau này có thể góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Bài mẫu 12 Trong lịch sử hào hùng của dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi dấu biết bao tấm gương hy sinh oanh liệt. Trong số những người anh hùng ấy, em vô cùng xúc động và khâm phục anh Bế Văn Đàn – người chiến sĩ đã lấy thân mình làm giá súng để mở đường cho đồng đội tiến lên. Anh Bế Văn Đàn là người dân tộc Tày, sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống yêu nước tại tỉnh Cao Bằng. Ngay từ khi còn trẻ, anh đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một chiến sĩ liên lạc dũng cảm, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trên các chiến trường ác liệt. Câu chuyện về sự hy sinh cao cả của anh diễn ra trong trận đánh tại Mường Pồn. Lúc bấy giờ, quân ta và quân giặc đang giằng co nhau từng tấc đất. Hỏa lực của địch bắn ra vô cùng mạnh mẽ khiến đơn vị của anh gặp rất nhiều khó khăn. Trong tình huống nguy cấp, khẩu súng máy của đơn vị không thể bắn được vì địa hình hiểm trở, không có chỗ đặt súng thuận lợi. Chứng kiến đồng đội đang gặp nguy hiểm dưới làn đạn giặc, anh Bế Văn Đàn đã không một chút do dự. Anh lao nhanh về phía trước, dùng hai tay cầm lấy chân súng và đặt mạnh lên đôi vai của mình. Anh hô vang đầy quyết tâm: "Bắn đi! Hãy bắn chết quân thù!". Tiếng súng vang lên giòn giã từ trên đôi vai thép của anh, quật ngã hàng loạt quân giặc. Dù đôi vai bị trúng đạn và vô cùng đau đớn, anh vẫn đứng vững như một bức tượng đồng để làm giá súng cho đồng đội tiếp tục nổ súng. Anh đã hy sinh ngay tại chiến trường khi trận đánh vừa kết thúc và quân ta giành được thắng lợi. Hành động của anh đã giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của toàn chiến dịch. Anh Bế Văn Đàn chính là biểu tượng cao đẹp nhất cho tinh thần đồng đội và ý chí "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Anh đã sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để đổi lấy chiến thắng cho đơn vị, độc lập cho đất nước. Sự mưu trí và lòng dũng cảm của anh đã trở thành nguồn động lực to lớn cho các chiến sĩ ta thời bấy giờ. Tên tuổi của anh hùng Bế Văn Đàn sẽ mãi mãi được lưu danh trong sử sách và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Mỗi khi nhắc đến anh, lòng em lại dâng lên niềm biết ơn và tự hào vô hạn. Để xứng đáng với sự hy sinh của anh, em tự hứa sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để sau này góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ hòa bình và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Bài mẫu 13 Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thời nhà Lý đã ghi dấu những trang sử vàng chói lọi. Trong đó, em vô cùng ngưỡng mộ và kính trọng vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Qua những bài học lịch sử về cuộc kháng chiến chống quân Tống và bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" vang vọng núi sông, hình ảnh ông luôn hiện lên như một nhà quân sự thiên tài, một người con ưu tú của tổ quốc. Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, quê ở Thăng Long, chính là thủ đô Hà Nội ngày nay. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người văn võ song toàn, không chỉ tinh thông binh pháp mà còn rất thông minh, chính trực. Với lòng tận trung với vua, với nước, ông đã dành cả cuộc đời mình để cống hiến cho sự bình yên của dân tộc. Chiến công lừng lẫy nhất của ông chính là cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược Tống. Khi biết tin giặc đang ráo riết chuẩn bị binh lực để tràn sang nước ta, Lý Thường Kiệt đã đưa ra một quyết định táo bạo: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc". Ông đã chủ động chỉ huy quân đội đánh thẳng vào các căn cứ của giặc để làm suy yếu âm mưu của chúng. Sau đó, ông quay về chỉ huy quân dân xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt dọc theo dòng sông Cầu. Đây là một chiến lũy vô cùng kiên cố, trở thành bức tường thép ngăn chặn quân thù tràn vào kinh thành. Đặc biệt nhất, trong lúc trận chiến đang diễn ra ác liệt, để khích lệ tinh thần quân sĩ, ông đã sáng tác bài thơ "Nam quốc sơn hà". Tiếng thơ vang lên trong đêm tối từ đền thờ thần sông, khẳng định mạnh mẽ rằng: "Sông núi nước Nam vua Nam ở". Bài thơ như lời của thần linh khiến quân giặc khiếp sợ, run rẩy, còn quân ta thì nức lòng, dũng cảm xông lên. Nhờ sự chỉ huy tài tình đó, quân dân ta đã đánh tan quân xâm lược, giữ vững bờ cõi nước nhà. Hành động mưu trí và chủ động của Lý Thường Kiệt đã giúp đất nước thoát khỏi họa xâm lăng. Bài thơ của ông đến nay vẫn được coi là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của mọi thế hệ. Ông chính là biểu tượng cho ý chí quyết tâm cao, tầm nhìn xa trông rộng và tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Lý Thường Kiệt mãi mãi là vị anh hùng dân tộc vĩ đại được nhân dân ta đời đời kính trọng và ghi nhớ công ơn. Mỗi khi đọc bài thơ của ông, lòng em lại dâng lên niềm tự hào về lịch sử hào hùng của đất nước. Em tự hứa sẽ luôn chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức thật tốt để sau này có thể góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Bài mẫu 14 Trong lịch sử hào hùng của dân tộc ta, có một vị vua vô cùng đặc biệt mà ngay từ thuở nhỏ đã bộc lộ tài năng thiên bẩm. Đó chính là Đinh Bộ Lĩnh – người có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn. Mỗi khi nghe kể về những câu chuyện thời niên thiếu của ông ở vùng đất Hoa Lư, lòng em lại dâng lên niềm khâm phục về một vị anh hùng thông minh và mưu trí. Đinh Bộ Lĩnh quê ở vùng Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ngay từ khi còn là một cậu bé chăn trâu, ông đã bộc lộ tính cách mạnh mẽ và khả năng lãnh đạo khác người. Em rất thích thú khi đọc về trò chơi "tập trận cờ lau" của ông. Ngày ấy, ông thường cùng các bạn chăn trâu chia phe tập trận ngay trên những cánh đồng bao la. Ông được các bạn tin tưởng tôn làm tướng, lấy bông lau trắng muốt làm cờ, dàn trận đánh nhau rất nghiêm túc và bài bản. Hình ảnh cậu bé Đinh Bộ Lĩnh oai phong lẫm liệt trên lưng trâu, tay cầm cờ lau phất cao đã báo hiệu một tương lai rực rỡ của vị vua tài ba. Lớn lên, giữa bối cảnh đất nước rơi vào cảnh loạn lạc sau khi Ngô Quyền mất, các sứ quân nổi dậy khắp nơi khiến nhân dân sống trong cảnh lầm than, đói khổ. Với tài năng quân sự xuất chúng và sự ủng hộ của nhân dân, Đinh Bộ Lĩnh đã đứng lên chiêu mộ binh sĩ. Ông lần lượt đánh bại hoặc thu phục các sứ quân, chấm dứt cảnh chia cắt và thống nhất lại đất nước trong niềm vui sướng của muôn dân. Năm 968, sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, ông lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Ông đặt tên nước là Đại Cồ Việt và chọn vùng đất Hoa Lư hiểm trở làm kinh đô. Việc ông lên ngôi hoàng đế đã khẳng định mạnh mẽ sức mạnh và nền độc lập tự chủ của dân tộc ta sau nhiều năm bị phương Bắc đô hộ. Đinh Bộ Lĩnh chính là biểu tượng của ý chí sắt đá và lòng dũng cảm phi thường. Ông không chỉ giỏi cầm quân mà còn rất biết cách đoàn kết mọi người, từ những người bạn chăn trâu thuở nhỏ đến các tướng lĩnh sau này, tất cả đều đồng lòng vì sự bình yên của tổ quốc. Bài mẫu 15 Trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, có những câu chuyện về lòng dũng cảm đã trở thành huyền thoại. Một trong những tấm gương khiến em vô cùng khâm phục và xúc động chính là anh La Văn Cầu. Qua những bài học về chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm tự chặt đứt cánh tay để hoàn thành nhiệm vụ đã in đậm trong tâm trí em như một biểu tượng của ý chí sắt đá. Anh La Văn Cầu là người con của dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cao Bằng giàu truyền thống cách mạng. Anh gia nhập quân đội khi tuổi đời còn rất trẻ. Với tình yêu quê hương nồng nàn, anh luôn chiến đấu với tinh thần quyết tâm cao nhất, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập cho tổ quốc. Sự kiện làm cả nước phải nghiêng mình kính cẩn trước anh chính là trận đánh đồn Đông Khê. Lúc bấy giờ, anh La Văn Cầu được giao nhiệm vụ quan trọng: ôm khối bộc phá để phá tan lô cốt giặc, mở đường cho quân ta tiến lên. Trong lúc đang anh dũng xông về phía trước giữa làn mưa đạn, anh không may bị trúng đạn của kẻ thù. Vết thương rất nặng khiến một cánh tay của anh bị gãy nát, treo lủng lẳng bên vai. Cơn đau ập đến xé thịt da, và cánh tay bị thương trở nên vướng víu, cản trở bước tiến của anh. Trong giây phút sinh tử ấy, anh không hề kêu ca hay lùi bước. Vì sợ cánh tay bị thương làm chậm trễ nhiệm vụ của đơn vị, anh đã có một quyết định phi thường. Anh nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương của mình. Ngay sau đó, dù máu chảy và đau đớn tột cùng, anh vẫn nén đau, một tay ôm chặt khối bộc phá, tiếp tục băng mình về phía trước. Tiếng nổ rung trời từ khối bộc phá của anh đã phá tan lô cốt giặc, mở toang cánh cửa cho quân ta tràn lên tiêu diệt kẻ thù, giành thắng lợi hoàn toàn cho trận đánh. Hành động của anh La Văn Cầu đã trở thành biểu tượng rực rỡ của "ý chí thép". Anh đã chứng minh rằng không có bất kỳ khó khăn hay nỗi đau thân xác nào có thể ngăn cản được lòng yêu nước và quyết tâm đánh giặc của người chiến sĩ Việt Nam. Anh chính là một trong những vị anh hùng đầu tiên được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cao quý. Em cảm thấy vô cùng tự hào khi được là người con của đất nước Việt Nam, nơi có những người anh hùng quả cảm như anh La Văn Cầu. Câu chuyện của anh đã dạy cho em bài học về sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm. Em tự hứa sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt, vượt qua mọi khó khăn để trở thành người có ích, xứng đáng với những xương máu mà cha anh đã hy sinh cho chúng em có ngày hôm nay. |






Danh sách bình luận