Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Nắng mớiTóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Nắng mới giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác. Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa... Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Tóm tắt Mẫu 1 Bài thơ là kỉ niệm kí ức của tác giả về người mẹ thân yêu của mình gắn liền với sự biết ơn và tình yêu tha thiết. Mẫu 2 Bài thơ mở đầu bằng một tín hiệu thị giác và thính giác đặc trưng của không gian làng quê Việt Nam yên bình. Ánh nắng mới hắt bên song cửa cùng tiếng gà trưa xao xác đã đóng vai trò như một chất xúc tác mạnh mẽ tác động vào vô thức của nhà thơ. Từ những kích thích giác quan hiện tại, tâm trí tác giả bắt đầu trôi ngược về dòng sông của quá khứ với một nỗi buồn man mác. Sự dịch chuyển tâm lý diễn ra rất tự nhiên từ hiện thực xao động sang miền ký ức tĩnh lặng nhưng đầy ám ảnh. Hình ảnh người mẹ hiện lên không phải là một bức chân dung tĩnh mà là những thước phim sống động gắn liền với thuở thiếu thời của tác giả. Đó là thời điểm cậu bé lên mười, cái tuổi đủ lớn để ghi khắc những kỷ niệm và đủ ngây thơ để cảm nhận trọn vẹn tình yêu thương. Màu đỏ của chiếc áo phơi trước giậu trở thành điểm nhấn rực rỡ nhất trong bức tranh tâm tưởng xám màu của hoài niệm. Nó không chỉ là màu sắc thực của vật thể mà còn là biểu tượng cho hơi ấm và sự hiện diện của người mẹ. Nụ cười đen nhánh sau tay áo là nét duyên thầm kín đáo mang đậm dấu ấn văn hóa của người phụ nữ Bắc Bộ xưa. Dù thời gian đã trôi qua nhưng hình bóng ấy chưa bao giờ phai nhạt mà vẫn luôn thường trực trong tâm khảm nhà thơ. Sự đan xen giữa "nắng mới" của hiện tại và "nắng mới" của quá khứ đã xóa nhòa ranh giới thời gian. Bài thơ khép lại nhưng dư âm về nụ cười và ánh nắng ấy vẫn còn đọng lại mãi như một niềm an ủi linh thiêng cho tâm hồn người con côi cút. Mẫu 3 Lưu Trọng Lư đã xây dựng thi phẩm dựa trên cơ chế liên tưởng tâm lý tinh tế bắt nguồn từ những hiện tượng ngoại cảnh đời thường. Tiếng gà trưa gáy não nùng trong nắng mới không chỉ là âm thanh vật lý mà là tiếng vọng của thời gian đánh thức những tầng sâu ký ức. Tâm trạng "rượi buồn" của chủ thể trữ tình cho thấy một tâm hồn nhạy cảm đang chìm đắm trong nỗi nhớ thương khôn nguôi về những ngày đã mất. Quá khứ và hiện tại đồng hiện trong cùng một khoảnh khắc khi ánh nắng của ngày hôm nay gợi nhắc về ánh nắng của những ngày thơ ấu. Hình ảnh người mẹ hiện lên gắn liền với công việc phơi áo quen thuộc đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật vĩnh cửu trong lòng người con. Chiếc áo đỏ trước giậu phơi là chi tiết đắt giá làm bừng sáng cả không gian hoài niệm và xua tan đi sự lạnh lẽo của nỗi cô đơn hiện tại. Người mẹ không được miêu tả cụ thể về dung mạo chi tiết mà được gợi tả qua dáng hình tần tảo và nụ cười hiền hậu. Nét cười đen nhánh cùng cử chỉ che miệng cười sau tay áo thể hiện vẻ đẹp nhu mì và duyên dáng đặc trưng của phụ nữ thời xưa. Ký ức về mẹ không hề phai nhạt theo năm tháng mà ngược lại ngày càng trở nên rõ nét và thiêng liêng hơn. Sự mường tượng của tác giả chân thực đến mức ngỡ như mẹ vẫn đang hiện diện đâu đây trong ngôi nhà cũ. Bài thơ là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của tình mẫu tử có khả năng chiến thắng quy luật khắc nghiệt của thời gian. Xem thêm Mẫu 4 Tác phẩm là một lát cắt tâm trạng điển hình của một đứa trẻ mồ côi mẹ luôn mang trong mình nỗi trống trải không thể lấp đầy. Nắng mới và tiếng gà trưa đóng vai trò là những yếu tố kích thích khơi dậy nỗi đau âm ỉ về sự mất mát trong tâm hồn thi nhân. Cụm từ "những ngày không" gợi lên một khoảng trống mênh mông của quá khứ nay chỉ còn là hư vô trong hiện thực. Tuy nhiên trong cái hư vô ấy lại tồn tại một hình bóng cực kỳ sống động và ấm áp là người mẹ yêu dấu. Ký ức đưa tác giả trở về năm lên mười tuổi là giai đoạn hạnh phúc nhất khi còn được sống trong vòng tay che chở của mẹ. Hình ảnh nắng mới reo ngoài nội đối lập hoàn toàn với nỗi buồn trong lòng nhưng lại tương đồng với niềm vui của quá khứ. Chiếc áo đỏ là tín hiệu thị giác mạnh mẽ nhất lưu giữ lại chút hơi ấm còn sót lại của người đã khuất. Dáng dấp ra vào của mẹ cùng nụ cười đen nhánh là những mảnh ghép ký ức quý giá nhất mà tác giả trân trọng gìn giữ. Sự tương phản giữa cái nắng rực rỡ bên ngoài và nỗi u hoài bên trong càng làm nổi bật lên chiều sâu của nỗi nhớ. Người mẹ dù đã đi xa nhưng vẫn sống mãi trong tiềm thức của con qua những hình ảnh bình dị nhất. Bài thơ là tiếng khóc thầm lặng nhưng cũng là lời tri ân sâu sắc gửi đến hương hồn người mẹ quá cố. Mẫu 5 Lưu Trọng Lư đã vận dụng tài tình nghệ thuật phối sắc và ánh sáng để kiến tạo nên một không gian hoài niệm đầy chất thơ và hội họa. Bài thơ được bao trùm bởi ánh sáng của "nắng mới" tạo nên một phông nền vừa rực rỡ vừa hư ảo cho câu chuyện ký ức. Màu nắng hiện tại có phần xao xác và lạnh lẽo nhưng màu nắng trong hồi ức lại reo vui và ấm áp lạ thường. Điểm nhấn thị giác nổi bật nhất chính là màu đỏ của chiếc áo mẹ phơi trước giậu thưa xanh ngát. Màu đỏ ấy như một đốm lửa nhỏ thắp sáng cả khung trời tuổi thơ và sưởi ấm tâm hồn lạnh lẽo của người con. Đối lập với gam màu nóng của áo đỏ là gam màu trầm mặc của nụ cười đen nhánh răng hạt huyền. Sự kết hợp giữa ánh sáng chói chang của trưa hè và những gam màu tương phản tạo nên bức tranh chân dung người mẹ vừa chân thực vừa huyền ảo. Tác giả không miêu tả mẹ bằng những đường nét cụ thể mà dùng màu sắc và ánh sáng để gợi tả thần thái. Mỗi lần nắng hắt bên song là một lần bức tranh ấy lại được phục dựng nguyên vẹn trong tâm trí nhà thơ. Ánh sáng trong bài thơ không chỉ là hiện tượng vật lý mà còn là ánh sáng của tình yêu thương soi rọi vào những góc khuất của tâm hồn. Hình tượng nghệ thuật này đã tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm trong lòng độc giả nhiều thế hệ. Mẫu 6 Bên cạnh hình ảnh thì tính nhạc cũng là một yếu tố then chốt tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho bài thơ Nắng mới. Nhịp điệu bài thơ nhẹ nhàng và chậm rãi như bước chân của thời gian đang chầm chậm quay ngược về quá khứ. Những từ láy như "xao xác" hay "não nùng" hay "chập chờn" tạo nên độ vang vọng và sự lan tỏa của cảm xúc trong không gian. Tiếng gà trưa không chỉ là âm thanh thực mà còn là nốt nhạc trầm buồn mở đầu cho bản hòa tấu của hoài niệm. Cấu trúc bài thơ vận động từ hiện tại về quá khứ rồi lại ngưng đọng trong hình ảnh vĩnh cửu của người mẹ. Vần điệu êm ái kết hợp với giọng thơ thủ thỉ tâm tình đã diễn tả thành công nỗi buồn man mác của nhân vật trữ tình. Sự lặp lại của hình ảnh "nắng mới" tạo nên một điệp khúc ánh sáng xuyên suốt tác phẩm kết nối các khổ thơ lại với nhau. Âm hưởng của bài thơ gợi lên sự tĩnh lặng tuyệt đối của không gian làng quê nhưng lại chứa đựng những con sóng lòng dữ dội. Cách ngắt nhịp tự nhiên giúp lời thơ tuôn chảy như một dòng suối cảm xúc không hề gượng ép hay khiên cưỡng. Chính nhạc tính này đã giúp bài thơ dễ dàng đi vào lòng người và neo đậu lại trong tâm trí người đọc. Đọc thơ Lưu Trọng Lư ta như nghe thấy tiếng lòng thổn thức của một người con hiếu thảo đang vọng về cõi hư vô. Mẫu 7 Không gian trong Nắng mới được cấu trúc thành hai chiều kích song song tồn tại là không gian thực tại và không gian tâm tưởng. Không gian thực tại được giới hạn bởi khung cửa sổ nơi ánh nắng hắt vào và tiếng gà trưa vọng lại. Không gian này mang tính chất tĩnh tại và buồn bã đóng vai trò là điểm xuất phát cho hành trình tâm linh. Ngược lại không gian tâm tưởng lại mở ra mênh mông với cánh đồng nội cỏ và giậu phơi trước nhà. Trong không gian ấy mọi cảnh vật đều sống động và reo vui dưới ánh nắng vàng tươi rực rỡ. Trung tâm của không gian tâm tưởng chính là hình bóng người mẹ với chiếc áo đỏ thắm và nụ cười hiền hậu. Sự chuyển dịch giữa hai không gian này diễn ra liên tục và linh hoạt thông qua cầu nối là ánh nắng và tiếng gà. Tác giả đứng ở không gian này nhưng tâm hồn lại sống trọn vẹn ở không gian kia tạo nên sự giao thoa kỳ diệu. Ranh giới giữa hai thế giới dường như bị xóa nhòa bởi cường độ mãnh liệt của nỗi nhớ thương. Không gian nghệ thuật vì thế không chỉ là bối cảnh mà còn là phương tiện để tác giả bộc lộ thế giới nội tâm phong phú. Sự đan cài giữa thực và mộng tạo nên vẻ đẹp lung linh huyền ảo cho thi phẩm. Mẫu 8 Qua lăng kính của Lưu Trọng Lư hình ảnh người mẹ hiện lên hội tụ đầy đủ những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam xưa. Đó là người phụ nữ gắn liền với không gian gia đình với những công việc nội trợ giản dị như phơi phóng áo quần. Chiếc áo đỏ không chỉ là trang phục mà còn gợi lên vẻ đẹp đằm thắm và sự chăm chút vun vén cho tổ ấm. Đặc biệt chi tiết "nét cười đen nhánh" gợi nhắc đến tục nhuộm răng đen vốn là chuẩn mực cái đẹp một thời của người Việt. Nụ cười ấy càng trở nên duyên dáng và kín đáo hơn khi được che đi một cách ý nhị sau tay áo. Hành động "vào ra" cho thấy sự tần tảo chịu thương chịu khó của người mẹ trong việc quán xuyến gia đình. Mẹ là linh hồn của ngôi nhà là người giữ lửa và mang lại hơi ấm cho những năm tháng ấu thơ của con. Tình mẫu tử trong bài thơ gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền tạo nên sự gần gũi và thân thuộc với mọi người đọc Việt Nam. Dù chỉ là những nét phác thảo đơn sơ nhưng chân dung người mẹ hiện lên vô cùng sống động và có hồn. Bài thơ như một thước phim tư liệu quý giá lưu giữ lại vẻ đẹp thuần hậu của một thời quá vãng. Đó là vẻ đẹp của đức hy sinh thầm lặng và tình yêu thương vô bờ bến. Mẫu 9 Nắng mới không chỉ là bài thơ về tình mẹ mà còn là một bức tranh thu nhỏ về khung cảnh làng quê Bắc Bộ những năm đầu thế kỷ hai mươi. Ngay từ khổ đầu người đọc đã bắt gặp những tín hiệu quen thuộc như tiếng gà trưa hay ánh nắng hắt bên song cửa. Không gian làng quê hiện lên yên ả thanh bình nhưng cũng đượm buồn dưới cái nắng trưa hè oi ả. Hình ảnh "giậu thưa" hay "ngoài nội" đều là những chi tiết đặc trưng của kiến trúc và cảnh quan nông thôn Việt Nam. Trong không gian ấy nhịp sống diễn ra chậm rãi và êm đềm gắn liền với những sinh hoạt đời thường. Chiếc áo đỏ phơi trước giậu tre mộc mạc tạo nên sự tương phản màu sắc thú vị và đậm chất dân gian. Cảnh vật không được miêu tả tỉ mỉ mà chỉ được gợi lên qua vài nét chấm phá nhưng vẫn đủ sức gợi hình và gợi cảm. Cái hồn của làng quê thấm đẫm trong từng câu chữ tạo nên một phông nền văn hóa vững chắc cho cảm xúc thăng hoa. Chính sự bình dị mộc mạc của cảnh vật đã làm tôn lên vẻ đẹp thiêng liêng cao quý của tình mẫu tử. Bài thơ đã chạm đến phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn người Việt vốn luôn gắn bó mật thiết với cội nguồn quê hương. Mẫu 10 Trong hệ thống hình ảnh của bài thơ chiếc áo đỏ không chỉ đơn thuần là một vật dụng mà đã trở thành một biểu tượng mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Màu đỏ trong văn hóa Á Đông thường tượng trưng cho sự may mắn sự sống và năng lượng dương tích cực. Giữa khung cảnh trưa hè tĩnh lặng và có phần u buồn chiếc áo đỏ xuất hiện như một điểm sáng rực rỡ xua tan đi âm khí. Nó đại diện cho sinh lực mạnh mẽ của người mẹ và tình yêu thương nồng ấm mà bà dành cho con. Trong ký ức của đứa trẻ mười tuổi màu đỏ ấy là dấu ấn thị giác khó phai mờ nhất gắn liền với sự hiện diện của mẹ. Khi người mẹ đã đi xa chiếc áo đỏ trở thành di vật thiêng liêng gợi nhắc về những ngày tháng hạnh phúc đã qua. Nó là sợi dây vô hình kết nối người sống với người đã khuất kết nối hiện tại lạnh lẽo với quá khứ ấm áp. Tác giả đã đặt màu đỏ ấy vào vị trí trung tâm của bức tranh ký ức để tôn vinh vai trò của người mẹ. Mỗi khi nhớ về mẹ hình ảnh đầu tiên hiện ra chính là sắc đỏ ám ảnh ấy trước giậu thưa. Đó là màu của trái tim người mẹ luôn đập vì con ngay cả khi đã trở thành người thiên cổ. Mẫu 11 Cách sử dụng đại từ nhân xưng trong bài thơ cho thấy sự biến chuyển tinh tế trong mối quan hệ giữa chủ thể trữ tình và đối tượng hồi tưởng. Ở khổ đầu tác giả chưa xưng danh mà chỉ miêu tả cảm giác khách quan của một người đang quan sát và cảm nhận. Sang khổ thứ hai đại từ "tôi" xuất hiện trực tiếp khẳng định cái tôi cá nhân đầy nội tâm và cảm xúc. "Tôi" nhớ "mẹ tôi" là một lời xác nhận về mối quan hệ huyết thống thiêng liêng và tính chất riêng tư của dòng hồi ức. Cách gọi "người" ở những câu thơ tiếp theo thể hiện sự tôn kính và trân trọng tuyệt đối dành cho đấng sinh thành. Sự thay đổi từ "mẹ tôi" sang "người" cho thấy sự chiêm nghiệm và khoảng cách thời gian đã làm cho hình ảnh mẹ trở nên vĩ đại và xa xôi hơn. Tuy nhiên đến cuối bài hình bóng ấy lại trở nên gần gũi thân thương qua cách miêu tả chi tiết "nét cười". Ngôn ngữ của bài thơ giản dị mộc mạc nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ nhờ sự chân thành trong cách xưng hô. Tác giả đã đặt mình vào vị trí của một đứa trẻ để cảm nhận và vào vị trí của một người trưởng thành để thấu hiểu. Sự hòa quyện giữa hai tâm thế ấy đã tạo nên giọng điệu vừa ngây thơ vừa già dặn cho tác phẩm. Mẫu 12 Lưu Trọng Lư đã sử dụng triệt để thủ pháp đối lập để làm nổi bật chủ đề hoài niệm và tình mẫu tử của bài thơ. Trước hết là sự đối lập về thời gian giữa hiện tại "hắt bên song" và quá khứ "reo ngoài nội". Hiện tại buồn bã hắt hiu bao nhiêu thì quá khứ lại tươi vui rạng rỡ bấy nhiêu. Tiếp đến là sự đối lập về âm thanh giữa tiếng gà "xao xác não nùng" và sự tĩnh lặng của "nét cười đen nhánh". Một bên là âm thanh gợi nỗi buồn cô quạnh còn một bên là hình ảnh gợi sự bình yên ấm áp. Sự đối lập về màu sắc cũng rất rõ nét giữa màu nắng chói chang màu xanh của giậu và màu đỏ của áo. Đặc biệt là sự tương phản giữa cái "động" của thiên nhiên và cái "tĩnh" của ký ức về mẹ. Chính những cặp đối lập này đã tạo nên sức căng cho cảm xúc và chiều sâu cho tư tưởng của bài thơ. Nỗi nhớ mẹ hiện lên càng day dứt hơn khi đặt trong bối cảnh tương phản gay gắt ấy. Tác giả không cần nói nhiều về nỗi đau nhưng người đọc vẫn cảm nhận được sự mất mát lớn lao thông qua cấu trúc đối lập này. Mẫu 13 Hệ thống từ láy trong bài thơ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hình và biểu đạt những sắc thái tình cảm tinh tế nhất. Từ "xao xác" gợi tả âm thanh rời rạc thưa thớt của tiếng gà trưa đồng thời gợi cảm giác hoang vắng của không gian. "Não nùng" lại là từ láy diễn tả trực tiếp nỗi buồn thê lương sầu muộn đang xâm chiếm tâm hồn thi sĩ. "Chập chờn" là từ đắt giá nhất khi miêu tả trạng thái nửa tỉnh nửa mê của ký ức lúc ẩn lúc hiện. Nó cho thấy ký ức về mẹ tuy rõ nét nhưng cũng rất mong manh dễ vỡ như sương khói. "Mường tượng" diễn tả hành động cố gắng hình dung và tái tạo lại hình ảnh người thân trong tâm trí. Các từ láy này kết hợp với nhau tạo nên một bầu không khí bâng khuâng hư ảo bao trùm toàn bộ tác phẩm. Chúng giúp người đọc không chỉ hiểu mà còn cảm được cái hồn của cảnh vật và tâm trạng của nhân vật. Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình và biểu cảm là đặc trưng nổi bật của phong cách thơ Lưu Trọng Lư. Chính nhờ lớp từ vựng này mà bài thơ có sức gợi cảm và sức ám ảnh lâu dài. Mẫu 14 Đặt bài thơ trong bối cảnh phong trào Thơ Mới ta thấy Nắng mới mang đậm dấu ấn lãng mạn nhưng vẫn giữ được hồn cốt dân tộc. Nếu thơ Xuân Diệu vội vàng cuống quýt thơ Huy Cận sầu muộn tràng giang thì thơ Lưu Trọng Lư lại mơ màng và hoài cổ. Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân đầy cảm xúc dám bộc lộ những rung động thầm kín nhất của tâm hồn. Tuy nhiên nó không phá cách về mặt hình thức mà vẫn giữ thể thơ bảy chữ trang trọng và cổ điển. Sự kết hợp giữa cảm xúc mới mẻ của thời đại và hình ảnh quen thuộc của truyền thống tạo nên nét riêng biệt cho tác phẩm. Bài thơ không sa vào bi lụy mà mang nỗi buồn nhẹ nhàng thanh khiết đặc trưng của thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945. Hình ảnh người mẹ răng đen là một nỗ lực níu giữ vẻ đẹp cổ truyền đang dần mai một trước làn sóng âu hóa. Lưu Trọng Lư đã đóng góp cho Thơ Mới một giọng điệu riêng biệt vừa hiện đại vừa truyền thống. Tác phẩm chứng minh rằng Thơ Mới không chỉ là sự cách tân mà còn là sự kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa cốt lõi. Mẫu 15 Hình ảnh người mẹ trong Nắng mới có những nét tương đồng và dị biệt so với hình tượng người mẹ trong các tác phẩm văn học khác. Nếu mẹ trong thơ Tố Hữu mang dáng dấp của người chiến sĩ kiên cường thì mẹ của Lưu Trọng Lư lại là người phụ nữ đời thường tần tảo. Bà không gắn liền với súng đạn hay bom rơi mà gắn liền với giậu phơi và nắng mới. So với người mẹ trong Mẹ của Bằng Việt luôn gắn với bếp lửa thì người mẹ ở đây gắn với ánh sáng thiên nhiên. Dù ở góc độ nào thì điểm chung của các hình tượng này đều là tình yêu thương vô bờ bến dành cho con cái. Nét độc đáo của Lưu Trọng Lư là ông khai thác vẻ đẹp ngoại hình gắn với phong tục nhuộm răng đen rất đặc trưng. Ông không miêu tả sự hy sinh qua những hành động lớn lao mà qua những cử chỉ nhỏ nhặt thường ngày. Cách tiếp cận này khiến hình ảnh người mẹ trở nên gần gũi và dễ đi vào lòng người hơn. Bài thơ góp phần làm phong phú thêm bộ sưu tập những tác phẩm hay nhất viết về đề tài tình mẫu tử. Mẫu 16 Trong văn học nắng thường được dùng làm biểu tượng cho thời gian hoặc sự thật nhưng với Lưu Trọng Lư nắng là chìa khóa mở cửa ký ức. Nắng không chỉ soi sáng vạn vật mà còn soi rọi vào những miền sâu thẳm của tâm thức con người. Nắng mới ở đây vừa là nắng của thiên nhiên vừa là nắng của tâm hồn đang khao khát hơi ấm tình thương. Sự lặp lại của ánh nắng tạo nên một vòng tròn khép kín kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Mỗi lần nắng lên là một lần ký ức sống dậy mạnh mẽ và mãnh liệt hơn bao giờ hết. Nắng là chứng nhân cho sự hiện diện của mẹ và cũng là chứng nhân cho sự trưởng thành đơn độc của con. Tác giả đã nhân hóa ánh nắng để nó trở thành một người bạn tri kỷ chia sẻ nỗi niềm tâm sự. Mối liên hệ mật thiết giữa nắng và ký ức tạo nên cấu trúc nghệ thuật độc đáo cho bài thơ. Không có nắng thì ký ức vẫn ngủ yên nhưng khi nắng lên thì nỗi nhớ trào dâng không thể kìm nén. Đây là một phát hiện tinh tế của nhà thơ về quy luật vận động của tình cảm con người. Mẫu 17 Khổ thơ đầu tiên đóng vai trò dẫn nhập đưa người đọc bước vào thế giới tâm trạng của thi nhân. Hai câu đầu vẽ nên một bức tranh trưa hè vắng lặng với ánh nắng hắt hiu và tiếng gà trưa buồn bã. Từ "xao xác" và "não nùng" đã định hình ngay âm hưởng chủ đạo của toàn bài là nỗi buồn hoài cổ. Hai câu sau chuyển mạch cảm xúc từ ngoại cảnh vào nội tâm một cách trực diện và sâu sắc. "Lòng rượi buồn" là trạng thái tâm lý rũ rượi mệt mỏi buông xuôi theo dòng chảy của cảm xúc. "Thời dĩ vãng" và "những ngày không" là những khái niệm trừu tượng gợi lên sự xa xăm và hư ảo của quá khứ. Khổ thơ này cho thấy sự nhạy cảm đặc biệt của tâm hồn thi sĩ trước những biến chuyển nhỏ nhặt của đời sống. Chỉ một chút nắng một tiếng gà cũng đủ để làm dậy sóng cả một vùng ký ức ngủ quên. Đây là bước chuẩn bị tâm thế cần thiết để hình ảnh người mẹ xuất hiện ở những khổ sau.
Mẫu 18 Khổ thơ thứ hai là trọng tâm của bài thơ nơi hình ảnh người mẹ hiện lên rõ nét và rực rỡ nhất. Tác giả xác định rõ thời điểm của ký ức là "thuở thiếu thời" khi ông mới lên mười tuổi. Chi tiết này nhấn mạnh sự ngây thơ trong trẻo của tình cảm con dành cho mẹ lúc sinh thời. Hai câu sau là sự bùng nổ của màu sắc và ánh sáng với hình ảnh "nắng mới reo ngoài nội". Động từ "reo" nhân hóa ánh nắng làm cho không gian trở nên vui tươi nhảy nhúa đầy sức sống. Hình ảnh "áo đỏ người đưa trước giậu phơi" là nét vẽ thần tình nhất của bài thơ gây ấn tượng thị giác mạnh mẽ. Màu đỏ ấy tương phản với nền xanh của thiên nhiên tạo nên một bức tranh hài hòa tuyệt mĩ. Đây là khoảnh khắc hạnh phúc nhất được lưu giữ lại trong thước phim quay chậm của ký ức. Khổ thơ này là điểm sáng ấm áp nhất xua tan đi cái lạnh lẽo u buồn của khổ đầu. Nó khẳng định sự bất diệt của những kỷ niệm đẹp về mẹ trong lòng người con. Mẫu 19 Khổ thơ cuối cùng là sự lắng đọng của cảm xúc khi hình ảnh người mẹ dần trở nên tĩnh tại và vĩnh hằng. Câu "Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ" là lời khẳng định sắt son về lòng hiếu thảo và trí nhớ bền bỉ của người con. Từ "mường tượng" cho thấy dù hình ảnh có thể mờ đi theo thời gian thực nhưng trong tâm tưởng nó vẫn luôn hiện hữu. "Nét cười đen nhánh" là chi tiết đặc tả tinh tế gợi lên vẻ đẹp đôn hậu và thuần Việt của người mẹ. Cử chỉ giấu nụ cười sau tay áo thể hiện nét duyên dáng e ấp rất phụ nữ rất Á Đông. Câu kết "Trong ánh trưa hè trước giậu thưa" khép lại bài thơ bằng một hình ảnh không gian cụ thể nhưng lại mở ra dư âm vô tận. Người mẹ đã hòa mình vào nắng vào gió vào cảnh vật quê hương để sống mãi bên con. Khổ thơ để lại trong lòng người đọc một nỗi bùi ngùi thương cảm xen lẫn sự ngưỡng mộ. Đó là cái kết hoàn hảo cho một thi phẩm viết về tình mẫu tử thiêng liêng. Mẫu 20 Bài thơ đặt ra những suy ngẫm sâu sắc về ranh giới mong manh giữa sự tồn tại và hư vô trong cuộc đời con người. "Những ngày không" có thể hiểu là những ngày tháng vô nghĩa khi thiếu mẹ hoặc là hư không của quá khứ. Tuy nhiên chính trong cái hư không ấy lại chứa đựng sự tồn tại vĩnh cửu của tình yêu thương. Người mẹ tuy không còn hiện diện về mặt thể xác nhưng tinh thần của bà vẫn bao trùm lên cuộc sống của con. Sự tồn tại của ký ức mạnh mẽ đến mức nó có thể lấn át cả thực tại đang diễn ra trước mắt. Lưu Trọng Lư muốn nhắn nhủ rằng cái chết không phải là sự kết thúc mà chỉ là sự chuyển đổi hình thức tồn tại. Người đã khuất vẫn sống trong trái tim và trí nhớ của những người ở lại. Triết lý này mang lại niềm an ủi lớn lao cho những ai phải chịu nỗi đau mất mát người thân. Nó khẳng định giá trị vĩnh hằng của những mối dây liên kết tình cảm con người. Mẫu 21 Thông qua nỗi nhớ mẹ da diết tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn về lòng biết ơn và ý thức hướng về cội nguồn. Dù đi đâu làm gì hay trưởng thành đến đâu con người cũng không được phép quên đi nơi mình sinh ra và người đã nuôi dưỡng mình. Hình ảnh người mẹ gắn liền với quê hương là bến đỗ bình yên nhất cho tâm hồn mỗi người con xa xứ. Bài thơ nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng những giây phút còn được ở bên cạnh cha mẹ. Đừng để đến khi chỉ còn là "những ngày không" mới cảm thấy hối tiếc và xót xa. Lòng hiếu thảo không chỉ thể hiện qua vật chất mà quan trọng nhất là sự khắc ghi trong tâm khảm. Việc lưu giữ ký ức về cha mẹ chính là cách tốt nhất để tri ân công lao sinh thành dưỡng dục. Tác phẩm giáo dục thế hệ trẻ về đạo lý "uống nước nhớ nguồn" một cách nhẹ nhàng mà thấm thía. Đó là bài học đạo đức muôn đời không bao giờ cũ.
Mẫu 22 Hồi ức trong Nắng mới không chỉ gây ra nỗi buồn mà còn có tác dụng chữa lành những vết thương lòng cho tác giả. Khi đối diện với thực tại cô đơn việc tìm về quá khứ là một liệu pháp tâm lý giúp cân bằng cảm xúc. Hình ảnh mẹ cười hiền hậu như một dòng nước mát tưới tắm cho tâm hồn khô cằn của đứa con côi cút. Được sống lại trong những ngày tháng êm đềm bên mẹ là niềm hạnh phúc lớn lao dù chỉ là trong tưởng tượng. Ký ức giúp con người neo giữ lại những giá trị tốt đẹp để có thêm niềm tin và nghị lực sống tiếp. Nỗi buồn trong thơ Lưu Trọng Lư là nỗi buồn trong sáng thanh lọc tâm hồn chứ không phải là nỗi tuyệt vọng. Qua việc sáng tác bài thơ tác giả đã tự giải tỏa những ẩn ức dồn nén bấy lâu nay. Bài thơ trở thành chiếc cầu nối giúp người đọc tìm thấy sự đồng cảm và an ủi cho chính mình. Đó là sức mạnh kỳ diệu của văn chương nghệ thuật chân chính. Mẫu 23 Lưu Trọng Lư được mệnh danh là thi sĩ của những giấc mơ và Nắng mới là minh chứng rõ nét nhất cho hồn thơ ấy. Ông không nhìn cuộc đời bằng đôi mắt trần trụi mà nhìn qua lăng kính của mộng tưởng và hoài niệm. Mọi hình ảnh thực tế đều được phủ lên một lớp sương khói mờ ảo của thời gian và cảm xúc. Cách ông miêu tả nắng hay tiếng gà đều mang đậm dấu ấn chủ quan đầy chất thơ và nhạc. Sự tinh tế thể hiện ở chỗ ông chọn lọc những chi tiết rất nhỏ nhưng có sức gợi rất lớn như "nét cười" hay "tay áo". Ông không ồn ào phô trương mà cứ thủ thỉ tâm tình như đang kể chuyện cho chính mình nghe. Hồn thơ mộng mơ ấy đã chắp cánh cho những kỷ niệm bình thường trở nên bay bổng và lãng mạn. Đọc thơ ông ta thấy lòng mình nhẹ nhõm và thanh thản như được gột rửa bụi trần. Ông đã biến nỗi đau mất mát thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp dâng hiến cho đời. Mẫu 24 Giữa lúc phong trào Thơ Mới đang đua nhau tìm kiếm những cái mới lạ cầu kỳ thì Nắng mới lại chinh phục người đọc bằng sự giản dị tuyệt đối. Bài thơ không sử dụng những từ ngữ hoa mỹ hay những biện pháp tu từ phức tạp đánh đố người đọc. Cấu tứ bài thơ đơn giản đi thẳng vào lòng người bằng những cảm xúc chân thành mộc mạc nhất. Hình ảnh mẹ phơi áo hay tiếng gà trưa đều là những chất liệu hiện thực quen thuộc của đời sống nông thôn. Chính sự giản dị ấy lại chứa đựng sức mạnh nghệ thuật to lớn có khả năng lay động mọi trái tim. Sự chân thực trong cảm xúc là yếu tố quyết định sự thành công và sức sống của tác phẩm. Lưu Trọng Lư đã chứng minh rằng cái đẹp đích thực đôi khi nằm ngay trong những điều bình thường nhất. Ông đã nâng niu trân trọng những hạt bụi vàng của đời sống để đúc kết thành viên ngọc thơ ca. Sự giản dị của Nắng mới là đỉnh cao của sự tinh tế và trải nghiệm nghệ thuật. Mẫu 25 Có những bài thơ đọc xong là quên ngay nhưng Nắng mới lại để lại một sức ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí độc giả. Sự ám ảnh đó đến từ sự lặp lại của điệp khúc nắng và hình ảnh nụ cười đen nhánh huyền bí. Nó cứ trở đi trở lại như một điệu nhạc buồn day dứt không buông tha tâm trí người đọc. Hình ảnh chiếc áo đỏ nổi bật trên nền xanh cũng tạo nên một ấn tượng thị giác mạnh mẽ khó phai mờ. Sự ám ảnh còn đến từ chiều sâu của nỗi buồn nhân thế và tình mẫu tử thiêng liêng. Tác giả đã chạm vào nỗi sợ hãi lớn nhất của con người là sự cô đơn và nỗi đau mất mẹ. Chính vì thế bài thơ có sức cộng hưởng lớn lan tỏa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi lần đọc lại ta lại phát hiện ra những tầng ý nghĩa mới mẻ và sâu sắc hơn. Đó là sức hấp dẫn vĩnh cửu của những kiệt tác văn chương đích thực. Mẫu 26 Nắng mới như một nén tâm hương thành kính mà Lưu Trọng Lư dâng lên hương hồn người mẹ quá cố. Bài thơ không bi lụy tang tóc mà mang màu sắc của sự tưởng niệm trang nghiêm và đầy yêu thương. Ông đã dựng lại tượng đài người mẹ bằng ngôn từ để bà sống mãi cùng non sông đất nước. Mỗi câu thơ là một giọt nước mắt lặn vào trong kết tinh thành những viên ngọc sáng lấp lánh. Tác phẩm là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo làm con và ý nghĩa của gia đình trong cuộc đời mỗi người. Đối với người đọc bài thơ cũng là dịp để mỗi chúng ta tự soi lại lòng mình và thắp lên nén hương lòng tưởng nhớ tổ tiên. Sự hiếu nghĩa được thể hiện qua văn chương một cách nghệ thuật và tinh tế nhất. Bài thơ xứng đáng là một di sản tinh thần quý giá trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại. Nó sẽ còn mãi với thời gian như ánh nắng mới mỗi ngày lại hắt bên song.
Bố cục Bài thơ chia thành 2 phần: - Phần 1: Khổ 1: Bức tranh thiên nhiên “nắng mới” - Phần 2: Khổ 2+3: Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình Nội dung chính Bài thơ là những dòng hồi tưởng đẹp, đầy xúc động về mẹ, qua đó thể hiện tình yêu mẹ của tác giả.
|