Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về

Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Xuân về giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác.

Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Tóm tắt

Mẫu 1

Bài thơ miêu tả bức tranh xuân ấy còn có hình ảnh thiếu nữ với má hồng mắt trong, duyên dáng đi hội chùa làng. Cảnh xuân, tình xuân được nhà thơ nói đến rất bình dị, mộc mạc, rất thân thuộc.

Mẫu 2

Bài thơ Xuân về của Nguyễn Bính đã kiến tạo nên một không gian nghệ thuật mang đậm phong vị làng quê Bắc Bộ trong thời khắc chuyển giao mùa đầy tinh tế. Tác giả mở đầu bằng sự nhận diện thời gian qua những tín hiệu đặc trưng của thiên nhiên là ngọn gió đông mang theo hơi lạnh nhưng cũng đầy sinh khí. Không gian mùa xuân được cụ thể hóa qua sự thay đổi sắc thái trên đôi má ửng hồng của những người thiếu nữ chưa chồng báo hiệu sự nảy nở của tình yêu và tuổi trẻ. Cảnh vật không tĩnh tại mà vận động nhịp nhàng theo sự biến đổi của thời tiết từ những cơn mưa xuân lất phất đến khi bầu trời quang đãng và hửng nắng mới. Sự dịch chuyển của thời gian còn được đánh dấu bằng hoạt động của con người khi công việc đồng áng tạm ngưng để nhường chỗ cho những lễ hội và sự nghỉ ngơi thư thái. Bức tranh xuân được mở rộng từ không gian hẹp nơi hiên nhà hàng xóm sang không gian rộng lớn của cánh đồng lúa xanh mướt và những con đường làng đầy cát mịn. Điểm nhìn của thi nhân di chuyển linh hoạt từ thấp lên cao rồi lại từ gần ra xa để bao quát trọn vẹn vẻ đẹp của tạo vật và con người. Thời gian trong bài thơ không chỉ là thời gian vật lý mà còn là thời gian tâm lý được đo bằng nhịp đập của trái tim rạo rực trước vẻ đẹp của đất trời. Sự kết hợp giữa không gian thực và không gian tâm tưởng đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa gần gũi thân thuộc lại vừa thi vị lãng mạn. Qua đó Nguyễn Bính đã khắc họa thành công sự giao hòa tuyệt đối giữa con người và vũ trụ trong những ngày đầu năm mới. Mỗi sự vật từ ngọn cỏ lá cây đến con bướm vàng đều trở thành những chứng nhân cho sự tuần hoàn vĩnh cửu của thời gian và không gian.

Mẫu 3

Tác phẩm là sự tập hợp dày đặc các hình ảnh biểu tượng mang tính kinh điển của mùa xuân nông thôn Việt Nam nhưng được làm mới qua lăng kính trữ tình của Nguyễn Bính. Hình ảnh ngọn gió đông đóng vai trò như một sứ giả đánh thức vạn vật và thổi bùng lên sức sống tiềm tàng trong lòng người và lòng đời. Đôi má hồng của người thiếu nữ và ánh mắt trong veo của cô hàng xóm là những biểu tượng đẹp đẽ nhất cho tuổi thanh xuân và những khát vọng lứa đôi chớm nở. Thiên nhiên hiện lên với những gam màu tươi sáng và non tơ như màu xanh của lá nõn hay màu bạc lấp lánh của những cành cây đẫm sương dưới ánh nắng mới. Hình ảnh đàn con trẻ chạy xun xoe gợi lên sự ngây thơ và niềm vui sướng thuần khiết trước sự thay đổi tích cực của thời tiết và đất trời. Cánh đồng lúa thì con gái mượt như nhung là một ẩn dụ tuyệt vời cho sự trù phú và hứa hẹn một mùa màng bội thu no ấm cho người nông dân. Mùi hương của hoa bưởi hoa cam và hình ảnh bướm vẽ vòng tạo nên một không gian đa giác quan vừa có hương vừa có sắc lại vừa có sự chuyển động uyển chuyển. Đặc biệt hình ảnh đoàn người đi lễ chùa với yếm đỏ khăn thâm là nét chấm phá văn hóa tâm linh không thể thiếu trong cấu trúc của mùa xuân cổ truyền. Tất cả các hình ảnh này được sắp xếp một cách logic theo trình tự thời gian và không gian để tạo nên một bức tranh tổng thể hài hòa và sống động. Chúng không đứng riêng lẻ mà tương hỗ lẫn nhau để cùng tôn vinh vẻ đẹp bình dị nhưng vô cùng quyến rũ của hồn quê đất Việt.



Xem thêm

Mẫu 4

Bài thơ Xuân về không chỉ là một tác phẩm văn học lãng mạn mà còn là một thước phim tư liệu quý giá ghi lại những phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt xưa. Ngay từ khổ thơ đầu không khí tết đến xuân về đã hiện hữu qua tâm trạng háo hức và diện mạo tươi tắn của những cô gái đang độ tuổi cập kê. Văn hóa nông nghiệp lúa nước được thể hiện rõ nét qua chi tiết người dân tạm gác lại việc đồng áng để nghỉ ngơi và tận hưởng thành quả lao động sau những ngày tháng vất vả. Hình ảnh lúa thì con gái xanh mướt phản ánh niềm tin và ước vọng của cư dân nông nghiệp về sự sinh sôi nảy nở của cây trồng vật nuôi. Phong tục đi lễ chùa đầu năm được tái hiện trang trọng qua trang phục truyền thống yếm đỏ khăn thâm của các cô gái và tràng hạt của các bà già. Đây là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người Việt thể hiện lòng thành kính đối với thần phật và mong cầu sự bình an cho gia đình. Sự gắn kết cộng đồng làng xã cũng được thể hiện qua hình ảnh các thế hệ từ trẻ thơ đến người già cùng nhau tận hưởng không khí mùa xuân. Mối quan hệ xóm giềng thân thiết được gợi mở qua ánh mắt nhìn sang nhà bên của nhân vật trữ tình đối với cô hàng xóm. Bài thơ đã lưu giữ lại những giá trị văn hóa phi vật thể của một thời đại qua những vần thơ lục bát biến thể và thơ bảy chữ nhịp nhàng. Nguyễn Bính đã chứng tỏ mình là một nhà thơ của văn hóa làng quê khi ông thấu hiểu và trân trọng từng nếp sinh hoạt nhỏ nhất của người dân quê.

Mẫu 5

Xuyên suốt bài thơ là dòng chảy cảm xúc dạt dào và tinh tế của chủ thể trữ tình trước những biến chuyển diệu kỳ của đất trời khi xuân sang. Mở đầu là sự ngỡ ngàng và xao xuyến khi nhận ra hơi thở của mùa xuân đã về qua ngọn gió đông và sắc hồng trên má người thiếu nữ. Nhà thơ quan sát cô hàng xóm với một cái nhìn vừa tò mò vừa tình tứ như muốn gửi gắm những rung động thầm kín của trái tim mình. Cảm xúc vui tươi phấn khởi được đẩy lên cao trào khi chứng kiến cảnh lũ trẻ nô đùa dưới bầu trời quang đãng và ánh nắng mới ấm áp. Thi nhân không giấu được sự rung cảm trước vẻ đẹp trinh nguyên của những mầm non lá nõn và sự biến ảo kỳ diệu của ánh sáng trên cành cây. Sự thư thái và bình yên chiếm lĩnh tâm hồn nhà thơ khi ông cảm nhận được nhịp sống chậm lại của thôn quê trong những ngày nông nhàn thong thả. Ông say sưa tận hưởng hương thơm ngào ngạt của hoa bưởi hoa cam và thả hồn theo những cánh bướm chập chờn trong vườn xuân. Đến khổ thơ cuối cảm xúc chuyển sang sự chiêm nghiệm sâu lắng về sự trôi chảy của kiếp người qua hình ảnh đối lập giữa tuổi trẻ và tuổi già. Sự đan xen giữa niềm vui trần thế và nỗi niềm tâm linh tạo nên chiều sâu cho thế giới nội tâm của tác giả. Bài thơ là tiếng lòng chân thành của một người con yêu quê hương tha thiết và luôn khao khát níu giữ những vẻ đẹp bình dị của cuộc đời.

Mẫu 6

Nguyễn Bính đã sử dụng một hệ thống ngôn từ giản dị mộc mạc nhưng được chắt lọc kỹ lưỡng để đạt đến độ tinh tế cao trong việc biểu đạt thần thái của mùa xuân. Các từ ngữ chỉ màu sắc như hồng và đỏ hay thâm và bạc được phối hợp hài hòa tạo nên một bức tranh rực rỡ nhưng không hề lòe loẹt chói mắt. Tác giả sử dụng rất đắt các động từ như chạy xun xoe hay tráng bạc và vẽ vòng để diễn tả sự vận động đầy sức sống của con người và cảnh vật. Biện pháp nhân hóa được vận dụng khéo léo qua hình ảnh gió về từng trận gió bay đi hay lá nõn ngành non như có ai tráng bạc lên bề mặt. Phép so sánh lúa thì con gái mượt như nhung không chỉ gợi tả độ mềm mại của cánh đồng mà còn gợi cảm giác êm ái dễ chịu cho thị giác và xúc giác. Cấu trúc câu thơ linh hoạt với nhịp điệu nhẹ nhàng uyển chuyển như chính bước đi thong thả của mùa xuân và con người nơi thôn dã. Sự đối lập giữa hình ảnh cô gái trẻ trung và bà già tóc bạc ở khổ cuối tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ mạnh mẽ về sự tiếp nối của các thế hệ. Cách ngắt nhịp và gieo vần tài tình giúp cho bài thơ giàu nhạc tính và dễ đi vào lòng người đọc như một khúc đồng dao êm đềm. Ngôn ngữ của Nguyễn Bính vừa mang tính dân gian vừa mang tính bác học hiện đại tạo nên phong cách thơ chân quê độc đáo không thể trộn lẫn. Từng chữ từng câu đều thấm đẫm hồn cốt của tiếng Việt và văn hóa Việt làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm.

Mẫu 7

Bài thơ Xuân về là một khảo cứu tinh tế về sự biến đổi của khí hậu và ánh sáng trong những ngày đầu xuân tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nguyễn Bính đã nắm bắt tài tình khoảnh khắc giao mùa thông qua sự thay đổi của các yếu tố vật lý như gió mưa và nắng. Khởi đầu là ngọn gió đông đặc trưng mang theo hơi lạnh se sắt nhưng lại có khả năng thổi bừng lên sắc hồng trên đôi má người thiếu nữ. Tiếp đó là sự chuyển đổi trạng thái thời tiết từ âm u ướt át của những cơn mưa xuân sang trạng thái tạnh ráo và quang đãng của bầu trời cao rộng. Ánh nắng trong bài thơ không phải là cái nắng chói chang gay gắt của mùa hạ mà là nắng mới hoe dịu nhẹ và ấm áp vừa đủ để sưởi ấm vạn vật. Chính thứ ánh sáng diệu kỳ này đã tạo nên hiệu ứng thị giác độc đáo khi chiếu vào những mầm non lá nõn khiến chúng như được tráng một lớp bạc lấp lánh. Sự tương tác giữa ánh sáng và vật chất tạo nên vẻ đẹp lung linh huyền ảo cho bức tranh thiên nhiên vốn dĩ rất đỗi bình dị và mộc mạc. Không khí trong bài thơ cũng trở nên trong lành và thanh khiết hơn nhờ sự thanh lọc của những cơn mưa xuân trước đó. Tác giả đã sử dụng các từ ngữ chỉ trạng thái thời tiết một cách chính xác để gợi tả không gian đặc trưng của mùa xuân Bắc Việt mà không nơi nào có được. Sự vận động của khí hậu từ lạnh sang ấm và từ mưa sang nắng cũng đồng điệu với sự khởi sắc trong tâm hồn con người và vạn vật. Bức tranh khí hậu này đóng vai trò làm nền tảng vững chắc để các hoạt động sống khác của con người và sinh vật được diễn ra thuận lợi và tràn đầy sinh khí.

Mẫu 8

Trung tâm của bức tranh mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính chính là hình ảnh những người thôn nữ đang ở độ tuổi xuân thì rực rỡ nhất. Tác giả đã khéo léo đặt vẻ đẹp của người con gái chưa chồng song hành với vẻ đẹp của mùa xuân đất trời để tạo nên sự tương chiếu đầy ý nghĩa. Đôi má ửng hồng của họ không chỉ là dấu hiệu của sức khỏe và tuổi trẻ mà còn là biểu tượng cho sự nảy nở của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Hình ảnh cô hàng xóm ngước mắt nhìn trời với đôi mắt trong veo gợi lên vẻ đẹp tâm hồn thánh thiện và những ước mơ trong sáng của người thiếu nữ. Sự xuất hiện của họ làm cho không gian mùa xuân trở nên tình tứ và duyên dáng hơn bội phần so với cảnh vật vô tri vô giác. Đến khổ thơ cuối vẻ đẹp ấy lại được tô điểm thêm bằng những trang phục truyền thống như yếm đỏ và khăn thâm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Sự kết hợp giữa màu đỏ rực rỡ của yếm và màu đen trầm mặc của khăn tạo nên nét duyên thầm kín đáo mà quyến rũ của người con gái quê. Họ chính là hiện thân của sức sống mới và là linh hồn của mùa xuân đang lan tỏa khắp nẻo đường làng quê. Nguyễn Bính đã dành cho họ một cái nhìn trân trọng và yêu mến đặc biệt thể hiện qua những câu thơ miêu tả tỉ mỉ và đầy cảm xúc. Qua đó nhà thơ khẳng định rằng vẻ đẹp của mùa xuân không chỉ nằm ở thiên nhiên mà còn nằm ở con người đặc biệt là những người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp.

Mẫu 9

Cấu trúc bài thơ được xây dựng dựa trên sự đan xen hài hòa giữa các yếu tố động và tĩnh tạo nên nhịp điệu sinh động cho toàn bộ tác phẩm. Yếu tố động được thể hiện qua hình ảnh gió thổi từng trận hay đàn con trẻ chạy nhảy vui đùa và những cánh bướm bay lượn vẽ vòng trong vườn. Sự chuyển động của con người đi trẩy hội chùa trên con đường cát mịn cũng góp phần tạo nên không khí náo nhiệt và rộn ràng của những ngày đầu năm. Ngược lại yếu tố tĩnh lại hiện diện qua hình ảnh cô hàng xóm đứng yên ngước nhìn trời hay người nông dân thong thả nghỉ ngơi sau những ngày làm việc vất vả. Cảnh vật thiên nhiên như lá nõn ngành non hay những bông hoa bưởi hoa cam rụng xuống đất cũng mang trong mình vẻ đẹp tĩnh tại và êm đềm. Sự kết hợp giữa cái huyên náo của lũ trẻ và cái trầm mặc của bà già đi lễ chùa tạo nên sự cân bằng tuyệt đối cho bức tranh đời sống. Cái động làm tôn lên cái tĩnh và cái tĩnh lại làm nền cho cái động phát triển mạnh mẽ hơn trong không gian nghệ thuật. Nhịp điệu của bài thơ cũng thay đổi linh hoạt từ nhanh đến chậm và từ sôi nổi đến lắng đọng theo sự luân chuyển của các hình ảnh. Chính sự biện chứng giữa động và tĩnh này đã giúp Nguyễn Bính tái hiện thành công nhịp thở của làng quê Việt Nam trong những ngày xuân vừa rộn ràng lại vừa thanh bình. Người đọc cảm nhận được sự vận động không ngừng của sự sống ngay trong những khoảnh khắc tĩnh lặng nhất của đất trời.

Mẫu 10

Bên cạnh hình ảnh và âm thanh Nguyễn Bính còn đánh thức khứu giác của người đọc bằng những mùi hương nồng nàn đặc trưng của vườn quê Bắc Bộ. Mùa xuân trong thơ ông không chỉ được nhìn thấy bằng mắt mà còn được cảm nhận qua hương thơm ngào ngạt của hoa bưởi và hoa cam rụng đầy vườn. Mùi hương này không thoang thoảng dịu nhẹ mà đậm đặc và lan tỏa mạnh mẽ trong không gian khiến cho đàn bướm phải say mê vẽ vòng bay lượn. Hương thơm của hoa bưởi hoa cam gắn liền với kỷ niệm về những khu vườn quê yên ả và là một phần không thể thiếu trong ký ức của những người con xa xứ. Tác giả đã sử dụng từ ngữ gợi tả khứu giác một cách tinh tế để biến mùi hương vô hình thành một thực thể hữu hình có khả năng tác động mạnh mẽ đến cảm xúc. Mùi hương ấy quyện vào trong gió và thấm đẫm vào từng cảnh vật làm cho không gian trở nên thi vị và lãng mạn hơn. Nó cũng gợi lên sự sung túc và trù phú của thiên nhiên khi cây cối đâm chồi nảy lộc và đơm hoa kết trái. Sự hiện diện của mùi hương làm cho bức tranh xuân trở nên tròn đầy và đa chiều hơn về mặt cảm giác. Qua đó Nguyễn Bính đã chứng tỏ khả năng cảm thụ thiên nhiên tinh tế và nhạy bén của một tâm hồn nghệ sĩ đa cảm. Mùi hương quê kiểng ấy chính là chất keo kết dính con người với mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình.

Mẫu 11

Khổ thơ thứ ba của bài thơ tập trung khắc họa không khí nông nhàn thảnh thơi của người dân quê trong những ngày đầu xuân năm mới. Từ thong thả được đặt ngay đầu câu thơ như một dấu hiệu báo hiệu sự thay đổi trong nhịp sống thường nhật vốn tất bật lo toan của người nông dân. Sau những ngày tháng cày sâu cuốc bẫm đây là khoảng thời gian quý báu để họ được nghỉ ngơi và tái tạo sức lao động chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo. Hình ảnh lúa thì con gái mượt như nhung cho thấy công việc đồng áng đã tạm ổn định và cây lúa đang trong giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất mà không cần sự chăm sóc quá nhiều. Sự nghỉ ngơi này không đồng nghĩa với sự lười biếng mà là một quy luật tất yếu trong chu kỳ sản xuất nông nghiệp truyền thống. Con người hòa nhịp với thiên nhiên và tận hưởng những phút giây thư thái bên vườn cây ao cá và hương hoa thơm ngát. Triết lý sống chậm được thể hiện qua thái độ ung dung tự tại và niềm vui giản dị trước những biến chuyển của đất trời. Không khí thanh bình này đối lập hoàn toàn với sự xô bồ vội vã của cuộc sống đô thị hiện đại khiến người đọc càng thêm trân trọng những giá trị truyền thống. Nguyễn Bính đã thi vị hóa cuộc sống lao động của người nông dân để biến nó thành một bức tranh nghệ thuật đầy chất thơ. Nhịp sống chậm rãi ấy chính là điều kiện lý tưởng để con người nuôi dưỡng tâm hồn và gắn kết tình làng nghĩa xóm.

Mẫu 12

Thiên nhiên trong Xuân về không phải là vật vô tri mà là một thực thể sống động mang trong mình sức sống sinh học mãnh liệt và dồi dào năng lượng. Tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa để thổi hồn vào từng sự vật khiến chúng trở nên có ý thức và cảm xúc như con người. Cây lúa được ví như người con gái đang độ tuổi xuân thì với vẻ đẹp mượt mà và tràn đầy sức sống thanh tân. Những chiếc lá nõn và cành non được miêu tả như có ai đó tráng một lớp bạc lấp lánh lên bề mặt tạo nên vẻ đẹp quý phái và sang trọng. Ngọn gió cũng có hành động cụ thể là đi và về từng trận như một vị khách vô hình ghé thăm làng quê. Đàn bướm thì biết vẽ vòng trong không gian như những họa sĩ tài ba đang tô điểm cho bức tranh xuân thêm phần sinh động. Sự sinh sôi nảy nở của vạn vật diễn ra một cách mạnh mẽ và tự nhiên dưới sự tác động của khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ. Nguyễn Bính đã nhìn thiên nhiên bằng con mắt của tình yêu và sự giao cảm sâu sắc nên mới thấy được sự sống đang cựa quậy trong từng mầm cây ngọn cỏ. Sức sống ấy lan tỏa sang cả con người làm cho ai nấy đều cảm thấy phấn chấn và yêu đời hơn trong những ngày đầu năm. Bài thơ là khúc ca ca ngợi sự hồi sinh kỳ diệu của tạo hóa sau những ngày đông giá lạnh.

Mẫu 13

Nếu xét dưới góc độ hội họa bài thơ Xuân về là một bức tranh sơn dầu rực rỡ với sự phối hợp tài tình của nhiều gam màu khác nhau. Màu xanh của lá nõn và cánh đồng lúa tạo nên tông màu chủ đạo mang lại cảm giác mát mắt và tràn đầy hy vọng. Màu bạc của cành non dưới nắng và màu trắng của hoa bưởi hoa cam tạo nên những điểm nhấn tinh khôi và thanh khiết trên nền xanh ấy. Màu hồng trên má cô gái và màu đỏ của chiếc yếm thắm mang lại sự ấm áp và nổi bật rực rỡ giữa khung cảnh thiên nhiên. Màu thâm của chiếc khăn và màu nâu của đất đường làng đóng vai trò như những gam màu trầm giúp cân bằng lại sắc thái chung của bức tranh. Ánh nắng mới hoe vàng nhạt phủ lên vạn vật một lớp màu thời gian dịu nhẹ và mơ màng. Sự phối sắc này tuân theo quy luật hài hòa của tự nhiên và phản ánh gu thẩm mỹ tinh tế của người nghệ sĩ chân quê. Các màu sắc không xung đột gay gắt mà hòa quyện vào nhau để cùng tôn vinh vẻ đẹp của mùa xuân nông thôn. Nguyễn Bính đã vẽ nên bức tranh này không phải bằng cọ màu mà bằng những ngôn từ giàu sức gợi hình và biểu cảm. Bảng màu phong phú ấy đã góp phần làm cho bài thơ trở nên sống động và có sức ám ảnh thị giác mạnh mẽ đối với người đọc.

Mẫu 14

Khổ thơ cuối cùng mở ra một không gian tâm linh thiêng liêng gắn liền với phong tục đi lễ chùa đầu năm của người Việt Nam. Con đường cát mịn dẫn lối các bà các cô đến chốn cửa phật thanh tịnh để gửi gắm những ước nguyện tâm linh của mình. Hình ảnh đôi cô gái trẻ đi cùng bà già tóc bạc tạo nên một cuộc hành hương nối tiếp giữa các thế hệ trong cùng một tín ngưỡng chung. Tiếng niệm nam vô vang lên trong không gian tĩnh lặng của làng quê gợi lên sự bình an và thanh thản trong tâm hồn con người. Đi chùa không chỉ là để cầu may mà còn là dịp để con người tìm về với những giá trị tinh thần cao đẹp và soi rọi lại lòng mình. Sự xuất hiện của ngôi chùa và tiếng kinh cầu làm cho bức tranh xuân có thêm chiều sâu về mặt tôn giáo và triết lý nhân sinh. Nó nhắc nhở con người về luật nhân quả và khuyên răn con người sống hướng thiện trong cuộc đời vô thường. Không gian tâm linh hòa quyện với không gian đời thường tạo nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc của làng quê Việt Nam. Nguyễn Bính đã quan sát và ghi lại cảnh tượng này với một thái độ thành kính và trân trọng những di sản tinh thần của cha ông. Lễ hội chùa chiền chính là nơi hội tụ và lan tỏa những nét đẹp văn hóa truyền thống trong dịp tết đến xuân về.

Mẫu 15

Bài thơ Xuân về là minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê độc đáo đã làm nên tên tuổi của thi sĩ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ Mới. Ông không chạy theo những đề tài xa lạ hay lối diễn đạt cầu kỳ kiểu phương Tây mà kiên trì bám rễ vào mảnh đất hồn quê dân tộc. Từ hình ảnh đến ngôn từ trong bài thơ đều mang đậm phong vị mộc mạc giản dị của làng quê Bắc Bộ xưa. Những sự vật như hoa bưởi hoa cam lúa con gái hay yếm đỏ khăn thâm đều là những chất liệu thuần Việt được ông nâng niu đưa vào thơ. Cách gieo vần và ngắt nhịp của ông cũng mang âm hưởng của ca dao dân ca tạo nên sự gần gũi và dễ thuộc dễ nhớ. Tuy nhiên chất quê trong thơ Nguyễn Bính không hề thô kệch mà được cách điệu hóa để trở nên sang trọng và đầy tính nghệ thuật. Ông đã thổi vào những sự vật bình thường một linh hồn lãng mạn và một nỗi niềm hoài cổ man mác. Bản sắc chân quê chính là thẻ căn cước nghệ thuật giúp Nguyễn Bính khẳng định vị thế riêng biệt của mình giữa một rừng các nhà thơ mới đương thời. Bài thơ là sự kết tinh của tình yêu quê hương tha thiết và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trước cơn bão âu hóa.

Mẫu 16

Mặc dù bài thơ được viết theo thể bảy chữ nhưng nhịp điệu bên trong lại mang đậm hơi thở của thể thơ lục bát truyền thống tạo nên sự mềm mại uyển chuyển. Cấu trúc câu thơ thường được ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3 tạo nên sự cân đối và nhịp nhàng như những bước chân thong thả dạo chơi xuân. Tác giả sử dụng nhiều từ láy và các biện pháp tu từ ngữ âm để tăng cường tính nhạc cho tác phẩm. Sự lặp lại của các âm tiết mở và thanh bằng tạo nên âm hưởng du dương êm ái phù hợp với không khí thanh bình của mùa xuân. Cách gieo vần chân và vần lưng được vận dụng linh hoạt giúp cho các câu thơ gắn kết chặt chẽ với nhau về mặt âm thanh. Nhịp điệu của bài thơ cũng biến đổi linh hoạt theo diễn biến của cảm xúc và cảnh vật từ nhanh đến chậm và từ vui tươi đến trầm lắng. Cấu trúc ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi đã giúp Nguyễn Bính chuyển tải thành công những rung động tinh tế của tâm hồn mình. Sự kết hợp giữa thể thơ bảy chữ hiện đại và hồn cốt lục bát truyền thống là một sáng tạo nghệ thuật đáng ghi nhận của tác giả. Nó chứng tỏ khả năng làm chủ ngôn ngữ và sự am hiểu sâu sắc về tiếng Việt của nhà thơ chân quê. Nhịp điệu ấy cứ ngân nga mãi trong lòng người đọc như một khúc hát ru êm đềm về mùa xuân đất nước.

Mẫu 17

Tác phẩm Xuân về là một minh chứng xuất sắc cho sự dung hợp biện chứng giữa hình thức nghệ thuật của phong trào Thơ Mới và chiều sâu tâm thức văn hóa truyền thống. Nguyễn Bính đã mượn thể thơ bảy chữ vốn chịu ảnh hưởng của thơ Đường và thơ Pháp để chuyên chở những nội dung thuần túy dân tộc và mộc mạc nhất của làng quê Việt Nam. Sự cách tân không nằm ở việc phá vỡ cấu trúc câu thơ hay sử dụng từ ngữ lạ lẫm mà nằm ở việc thổi một luồng sinh khí cảm xúc cá nhân tươi mới vào những thi liệu cũ kỹ. Nhà thơ đã khéo léo lồng ghép cái tôi trữ tình lãng mạn của thời đại mới vào trong không gian văn hóa cộng đồng làng xã vốn mang tính tập thể cao. Sự kết hợp này tạo nên một nghịch lý nghệ thuật đầy thú vị khi bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển trang trọng lại vừa toát lên tinh thần phóng khoáng hiện đại. Những hình ảnh như cô hàng xóm ngước mắt nhìn trời hay đôi cô yếm đỏ đi chùa vừa là những điển hình nghệ thuật truyền thống vừa mang dấu ấn cá nhân sắc sảo của tác giả. Nguyễn Bính đã chứng minh rằng sự hiện đại hóa trong văn học không nhất thiết phải là sự đứt gãy hoàn toàn với quá khứ mà là sự kế thừa và phát triển sáng tạo trên nền tảng di sản. Bài thơ là một gạch nối quan trọng giúp người đọc nhận diện sự chuyển mình của thi ca Việt Nam trong giai đoạn giao thời đầy biến động những năm đầu thế kỷ hai mươi. Qua đó tác giả khẳng định sức sống bền bỉ của văn hóa dân gian ngay trong lòng văn học hiện đại đang chịu nhiều ảnh hưởng ngoại lai.

Mẫu 18

Dưới góc độ phân tâm học bài thơ Xuân về chứa đựng một cấu trúc phức tạp của cái nhìn hay sự quan sát đầy ẩn ý giữa chủ thể trữ tình và đối tượng miêu tả. Chủ thể trữ tình đóng vai trò là một người quan sát thầm lặng đứng từ xa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những người thiếu nữ và cảnh vật xung quanh. Cái nhìn của tác giả hướng về cô hàng xóm không chỉ đơn thuần là sự tò mò mà còn hàm chứa những khao khát thầm kín của một trái tim đang rung động trước vẻ đẹp xuân thì. Chi tiết cô hàng xóm ngước mắt nhìn trời với đôi mắt trong veo lại mở ra một chiều kích khác của cái nhìn hướng thượng đầy mơ mộng và thoát tục. Sự tương tác qua lại giữa các ánh nhìn này tạo nên một mạng lưới cảm xúc vô hình giăng mắc khắp không gian bài thơ làm cho nó trở nên tình tứ và gợi cảm. Đôi mắt trong của cô gái như một tấm gương phản chiếu bầu trời xuân quang đãng đồng thời cũng là cửa sổ tâm hồn để nhà thơ soi rọi vào đó những suy tư của chính mình. Cái nhìn trong bài thơ không mang tính chiếm hữu mà mang tính thẩm mỹ và trân trọng nâng niu những vẻ đẹp mong manh của tạo hóa. Nó cho thấy tâm thế của một kẻ tình si luôn dõi theo từng biến chuyển nhỏ nhất của người mình thầm thương trộm nhớ trong bối cảnh mùa xuân rạo rực. Chính cấu trúc của cái nhìn này đã biến bài thơ thành một màn độc thoại nội tâm đầy xao xuyến của một cái tôi cô đơn nhưng giàu tình cảm.

Mẫu 19

Xét trên phương diện phê bình sinh thái bài thơ đã phác họa nên một mô hình lý tưởng về mối quan hệ tương sinh hài hòa giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong không gian Xuân về con người không đóng vai trò là kẻ chinh phục hay khai thác thiên nhiên mà là một thành phần hữu cơ hòa nhập trọn vẹn vào nhịp sinh học của vũ trụ. Hành động nghỉ việc đồng của người dân gian không chỉ là sự nghỉ ngơi vật lý mà còn là thái độ tôn trọng nhịp điệu sinh trưởng tự nhiên của cây lúa và đất đai. Con người biết lùi lại để nhường không gian cho cây cỏ đâm chồi nảy lộc và cho những loài sinh vật như bướm ong được tự do bay lượn. Sự tương tác giữa con người và thiên nhiên diễn ra trong sự êm đềm và tôn trọng lẫn nhau tạo nên một hệ sinh thái cân bằng và bền vững. Thiên nhiên đáp đền sự trân trọng ấy bằng việc ban tặng cho con người những vẻ đẹp tuyệt mỹ của hương thơm và màu sắc cùng hứa hẹn về một vụ mùa bội thu. Tư tưởng sinh thái này mang đậm triết lý phương Đông về sự thống nhất giữa thiên địa và nhân trong một chỉnh thể vũ trụ toàn vẹn. Nguyễn Bính đã vô tình hay hữu ý cổ vũ cho một lối sống xanh và thân thiện với môi trường ngay từ những năm đầu thế kỷ trước. Bài thơ nhắc nhở con người hiện đại về giá trị của sự sống chậm và sự cần thiết phải tái kết nối với mẹ thiên nhiên để tìm lại sự bình an trong tâm hồn.

Mẫu 20

Bài thơ ngập tràn những biểu tượng về sự khởi nguyên và tính nữ được tác giả sử dụng để tôn vinh nguồn năng lượng sáng tạo và sinh sôi của mùa xuân. Các hình ảnh như gái chưa chồng hay lúa thì con gái và cô hàng xóm đều là những ẩn dụ trực tiếp cho vẻ đẹp trinh nguyên và sức sống tiềm tàng của tính nữ. Mùa xuân được đồng nhất với tuổi trẻ của người phụ nữ giai đoạn sung mãn nhất về thể chất và tinh thần sẵn sàng cho việc kiến tạo sự sống mới. Tính nữ trong thơ Nguyễn Bính không yếu đuối ủy mị mà tràn đầy sinh lực thể hiện qua màu má hồng hào và dáng đi nhanh nhẹn trong những bộ trang phục rực rỡ. Sự hiện diện của tính nữ làm mềm hóa không gian và mang lại sự ấm áp dịu dàng cho bức tranh phong cảnh vốn dĩ có thể trở nên lạnh lẽo bởi gió đông. Ngay cả thiên nhiên cũng được nữ tính hóa qua những đường nét mềm mại của cành non lá nõn và sự uyển chuyển của đàn bướm vẽ vòng. Sự tôn vinh tính nữ này phản ánh tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước luôn coi trọng vai trò của người mẹ và người phụ nữ trong việc duy trì nòi giống và mùa màng. Nguyễn Bính đã chạm đến tầng sâu văn hóa mẫu hệ trong tâm thức người Việt để sáng tạo nên những hình tượng thơ đầy sức ám ảnh và quyến rũ. Tính nữ và mùa xuân hòa quyện vào nhau tạo nên một bản thể nghệ thuật hoàn mỹ và tràn đầy sức sống.

Mẫu 21

Khái niệm không gian liminal hay còn gọi là không gian ngưỡng cửa được thể hiện rõ nét trong bài thơ qua sự giao thoa giữa các trạng thái đối lập của thời gian và không gian. Bài thơ khắc họa khoảnh khắc giao thời mong manh giữa mùa đông tàn và mùa xuân tới giữa cái lạnh giá và sự ấm áp của nắng mới hoe. Đó cũng là ngưỡng cửa giữa thời gian lao động vất vả và thời gian lễ hội linh thiêng giữa không gian đời thường và không gian tâm linh của chùa chiền. Cô hàng xóm đứng bên hiên nhà cũng đang ở trong một không gian ngưỡng cửa giữa sự riêng tư của ngôi nhà và sự công cộng của thế giới bên ngoài. Chính tại những điểm nút không gian và thời gian này các sự kiện và cảm xúc đặc biệt mới có cơ hội nảy sinh và phát triển mạnh mẽ nhất. Sự chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái khác diễn ra một cách từ từ và tinh tế khiến người đọc khó lòng nhận ra ranh giới rạch ròi. Không gian liminal tạo nên sự mơ hồ và đa nghĩa cho bài thơ mở ra nhiều chiều hướng diễn giải khác nhau về tâm trạng và thân phận con người. Nguyễn Bính đã rất nhạy cảm khi nắm bắt được những khoảnh khắc nhập nhằng ấy để biến chúng thành chất liệu nghệ thuật đắt giá. Bài thơ vì thế mang vẻ đẹp của sự biến đổi không ngừng và sự vận động vĩnh cửu của vũ trụ ngay tại những điểm giao thoa tĩnh lặng nhất.

Mẫu 22

Dưới lăng kính xã hội học văn học bài thơ Xuân về cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về cấu trúc xã hội và các mối quan hệ cộng đồng trong làng quê Việt Nam truyền thống. Làng xã hiện lên như một đơn vị xã hội tự trị và gắn kết chặt chẽ với sự phân công lao động và vai trò xã hội rõ ràng giữa các giới và các thế hệ. Người đàn ông và phụ nữ cùng tham gia vào công việc đồng áng nhưng đến ngày xuân thì phụ nữ lại đóng vai trò chính trong các hoạt động văn hóa tâm linh như đi lễ chùa. Mối quan hệ xóm giềng được miêu tả qua sự gần gũi về không gian sống và sự quan tâm lẫn nhau thể hiện tính cộng đồng bền chặt. Sự phân tầng thế giới cũng hiện diện qua hình ảnh lũ trẻ ngây thơ chạy nhảy và những người già tìm về chốn tâm linh chuẩn bị cho hành trình về cõi vĩnh hằng. Cấu trúc làng xã này vận hành nhịp nhàng theo chu kỳ của thiên nhiên và tuân thủ các quy tắc ứng xử đạo đức truyền thống. Bài thơ phản ánh sự ổn định và trật tự của xã hội nông thôn trước khi bị những làn sóng đô thị hóa xâm nhập và phá vỡ. Nguyễn Bính đã ghi lại chân dung xã hội ấy không phải bằng các số liệu khô khan mà bằng những hình ảnh thơ giàu cảm xúc và tính nhân văn. Qua đó ông khẳng định giá trị của mô hình cộng đồng làng xã trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

Mẫu 23

Tiếp cận bài thơ từ góc độ hiện tượng học ta thấy Nguyễn Bính đã miêu tả thời gian không phải như một đại lượng vật lý vô hồn mà như một trải nghiệm nội tại của ý thức. Thời gian xuân về được chủ thể tri giác thông qua sự biến đổi của các hiện tượng tự nhiên tác động trực tiếp lên các giác quan của cơ thể. Thời gian được đo bằng độ hồng của má người thiếu nữ bằng độ xanh mượt của cánh đồng lúa và bằng độ ấm dần lên của ánh nắng mặt trời. Đây là thời gian sinh học và thời gian tâm lý mang tính chủ quan sâu sắc khác hẳn với thời gian tuyến tính của đồng hồ hay lịch vạn niên. Sự tri giác thời gian này gắn liền với ký ức và sự mong chờ của con người tạo nên một chiều sâu tâm tưởng cho khái niệm mùa xuân. Chủ thể trữ tình cảm nhận sự trôi chảy của thời gian qua từng khoảnh khắc hiện tại sống động nhưng cũng đồng thời hoài niệm về những mùa xuân đã qua. Sự hiện diện của cái già nua bên cạnh cái trẻ trung cũng là một cách tri giác về sự hữu hạn của kiếp người trong dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian vũ trụ. Nguyễn Bính đã hiện tượng hóa khái niệm thời gian trừu tượng thành những cảm giác cụ thể có thể sờ thấy và ngửi thấy được. Điều này làm cho bài thơ có sức lay động mạnh mẽ vì nó chạm đến trải nghiệm hiện sinh cốt lõi của mỗi con người về sự tồn tại.

Mẫu 24

Tác phẩm thể hiện một tư duy mỹ học tinh tế trong việc khai thác sự tương phản giữa các chất liệu và màu sắc để tạo nên hiệu quả thị giác ấn tượng. Sự đối lập giữa chất liệu mềm mại như nhung của lúa và chất liệu cứng cáp ánh kim như bạc của cành non tạo nên sự phong phú về cảm giác xúc giác. Màu đỏ rực của yếm thắm tương phản mạnh mẽ với màu đen thâm của khăn mỏ quạ và màu trắng bạc của tóc người già tạo nên những điểm nhấn màu sắc đầy kịch tính. Sự tương phản này không gây ra sự phá vỡ cấu trúc mà ngược lại tạo nên sự cân bằng và hài hòa trong tổng thể bức tranh nghệ thuật. Nguyễn Bính sử dụng các cặp đối lập này để làm nổi bật vẻ đẹp riêng biệt của từng đối tượng đồng thời tạo ra sự căng thẳng thẩm mỹ cần thiết để thu hút người xem. Chất liệu cát mịn của con đường làng cũng đối lập với sự thô ráp của thân cây tạo nên sự đa dạng trong kết cấu bề mặt của không gian. Tư duy mỹ học này cho thấy sự quan sát tỉ mỉ và khả năng cảm thụ nghệ thuật tạo hình sắc sảo của nhà thơ. Ông đã biến những chất liệu đời thường dân dã thành những yếu tố nghệ thuật sang trọng và có giá trị biểu cảm cao. Bức tranh xuân vì thế vừa chân thực mộc mạc lại vừa lộng lẫy kiêu sa như một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt tài tình.

Mẫu 25

Bài thơ Xuân về có thể được xem như một nỗ lực kiến tạo và lưu giữ ký ức tập thể của cộng đồng người Việt về một không gian văn hóa làng quê đang dần mai một. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi đang trải qua những biến động lớn lao Nguyễn Bính đã quay về quá khứ để tìm kiếm sự an ủi và điểm tựa tinh thần. Ông đã tái hiện lại một mùa xuân lý tưởng trong tâm tưởng nơi mọi giá trị truyền thống vẫn còn nguyên vẹn và cuộc sống diễn ra thanh bình yên ả. Bài thơ vì thế không chỉ là sự mô tả hiện thực mà còn là sự phục dựng lại một thế giới đã mất hoặc đang có nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Những hình ảnh trong thơ trở thành những di chỉ khảo cổ học tinh thần giúp các thế hệ sau hình dung về đời sống của cha ông mình. Hoài niệm trong thơ Nguyễn Bính không bi lụy mà đẹp một cách nao lòng khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu và niềm tự hào về nguồn cội. Tác giả đã biến ký ức cá nhân thành ký ức chung của cả dân tộc khiến cho bất cứ ai đọc bài thơ cũng thấy như đang soi mình vào tấm gương của quá khứ. Sự kiến tạo hoài niệm này là một phản ứng văn hóa tự vệ trước sự xâm lăng của văn minh phương Tây xa lạ. Nó khẳng định sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt trong việc gìn giữ những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Mẫu 26

Xuân về như một tuyên ngôn bản thể luận sâu sắc nhất về khái niệm Hồn quê trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Hồn quê không phải là một khái niệm trừu tượng mơ hồ mà hiện hữu cụ thể trong từng sự vật hiện tượng và con người được miêu tả trong tác phẩm. Nó là sự tổng hòa của cảnh sắc thiên nhiên phong tục tập quán nếp sống sinh hoạt và tâm hồn tình cảm của người dân quê. Nguyễn Bính đã chứng minh rằng hồn quê chính là bản sắc gốc rễ là căn cước văn hóa không thể thay thế của người Việt Nam dù đi đâu về đâu. Bài thơ đã nâng tầm những cái bình thường nhỏ bé của làng quê lên thành những giá trị thẩm mỹ vĩnh cửu có khả năng lay động tâm thức của nhân loại. Hồn quê trong thơ ông vừa mang tính hiện thực khách quan vừa mang tính tâm linh huyền bí có khả năng thanh lọc và cứu rỗi tâm hồn con người. Qua tác phẩm này Nguyễn Bính đã xác lập vị thế của mình như một người canh giữ đền đài văn hóa dân tộc bằng ngôn ngữ thi ca. Xuân về sẽ mãi là một kiệt tác nghệ thuật nơi lưu giữ trọn vẹn nhất và đẹp đẽ nhất hồn vía của làng quê Việt Nam thuở trước. Nó là lời nhắc nhở thế hệ mai sau về trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần quý báu mà cha ông để lại.

Bố cục

Bài thơ chia thành 4 phần:

- Phần 1: Khổ 1: Gió xuân bắt đầu về

- Phần 2: Khổ 2: Vẻ đẹp khi nắng xuân về

- Phần 3: Khổ 3: Vẻ đẹp đồng quê xuân về

- Phần 4: Khổ 4: Cảnh con người đón xuân về

Nội dung chính

Bài thơ là bức tranh về cảnh xuân, tình xuân được tác giả vẽ bằng ngôn từ bình dị, thân thuộc.

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

close