Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam

Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác.

Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Tóm tắt

Mẫu 1

Câu chuyện trong văn bản kể về một lần đi lấy mật của An với tía nuôi và thằng Cò. Trên đường đi, An đã cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên: ban mai, bầy ong, đàn chim. Lúc nghỉ mệt, tía nuôi và thằng Cò đã chỉ đàn ong mật cho An. Sau đó, họ tiếp tục đi lấy mật và thu hoạch được rất nhiều. Chẳng may, thằng Cò bị ong đốt. Tía nuôi An - tía của thằng Cò đã bôi vôi lên trên vết đốt đó và ông chỉ đuổi đàn ong đi để lấy mật. Trước khi ra về, đám người bọn họ đã ăn cơm cho đỡ đói và dự định hôm sau sẽ phải mang gùi to hơn để lấy đc nhiều mật hơn. Lúc ăn cơm, An đã suy nghĩ về cách làm tổ nuôi ong trên thế giới và thấy rằng không nơi nào giống cách đặt kèo ở rừng U Minh.

Mẫu 2

Đoạn trích kể lại một ngày đi lấy kèo ong của An, Cò và tía nuôi của An. Trong chuyến đi, An đã được chứng kiến quá trình tía nuôi và thằng Cò đi “ăn ong”. An được biết cách tía dẫn ong về những kèo để làm làm tổ và được chứng kiến cách tía lấy mật ong. Không gian rừng U Minh và quá trình lấy mật ong đã khiến An đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. An cũng thầm ngưỡng mộ quá trình nuôi ong của những người dân nơi đây.

Mẫu 3

Đoạn trích kể lại quá trình An cùng tía và thằng Cò đi lấy mật ong. Tại đây An đã được trải qua rất nhiều những trải nghiệm và để lại cho cậu bé những ấn tượng sâu sắc.




Xem thêm

Mẫu 4

Đoạn trích khắc họa hành trình trải nghiệm thực tế đầy sinh động của nhân vật An khi tháp tùng tía nuôi và thằng Cò đi thu hoạch mật ong trong rừng tràm U Minh kỳ vĩ. Bối cảnh không gian được mở ra vào một buổi ban mai tinh khiết khi đất trời vừa thức giấc và ánh sáng mặt trời bắt đầu len lỏi qua từng tán lá rậm rạp để xua tan màn sương sớm. Dưới sự quan sát tinh tế của An thiên nhiên hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ với sự chuyển động nhịp nhàng của vạn vật từ những đàn ong cần mẫn đến các loài chim lạ sặc sỡ sắc màu. Trong quá trình di chuyển tía nuôi và Cò đã đóng vai trò là những người dẫn đường giàu kinh nghiệm khi giúp An nhận biết được dấu hiệu của đàn ong mật đang bay đi tìm hoa. Giây phút nghỉ ngơi giữa rừng cũng là lúc An được mở rộng tầm mắt trước sự phong phú và đa dạng sinh học của vùng đất phương Nam trù phú này. Khi đến địa điểm lấy mật tía nuôi đã thực hiện các thao tác thu hoạch một cách thành thục và điêu luyện minh chứng cho sự am hiểu sâu sắc về tập tính loài vật. Sự cố thằng Cò bị ong đốt bất ngờ xảy ra nhưng đã được tía nuôi xử lý nhanh gọn bằng cách bôi vôi vào vết thương để giảm đau và khử độc ngay tại chỗ. Hành động xua đuổi đàn ong một cách nhẹ nhàng để lấy mật mà không tận diệt của người tía cho thấy đạo đức ứng xử nhân văn của con người nơi đây đối với thiên nhiên. Bữa cơm trưa diễn ra trong không khí đầm ấm và dân dã đã khép lại buổi lao động vất vả nhưng đầy thành quả ngọt ngào của ba cha con. Trong khoảnh khắc thư giãn ấy An đã trầm tư suy ngẫm về sự độc đáo vô song của kỹ thuật gác kèo nuôi ong tại rừng U Minh so với các phương pháp khác trên thế giới. Cậu nhận ra rằng chính sự giao hòa tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên hoang sơ đã tạo nên nét văn hóa bản địa độc nhất vô nhị không nơi nào có được.

Mẫu 5

Văn bản tái hiện quá trình trưởng thành trong nhận thức của cậu bé An thông qua chuyến đi thực địa vào sâu trong rừng U Minh để tìm kiếm và thu hoạch mật ong rừng. Khởi đầu hành trình là những cảm nhận trực quan của An về vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên buổi sớm mai với ánh nắng dịu nhẹ và không khí trong lành mát mẻ. Trên đường đi cậu không chỉ say mê ngắm nhìn cảnh sắc mà còn học hỏi được vô số kiến thức thực tế từ tía nuôi và người bạn đồng hành tên Cò. Sự am hiểu tường tận của Cò và tía nuôi về thói quen của loài ong đã khiến An đi từ ngạc nhiên này đến thán phục khác và dần xóa bỏ khoảng cách giữa kiến thức sách vở với thực tiễn. Cao trào của chuyến đi là hoạt động thu hoạch mật ong nơi An được tận mắt chứng kiến kỹ nghệ gác kèo điêu luyện và sự phối hợp ăn ý của hai cha con tía nuôi. Dù gặp phải sự cố nhỏ là việc thằng Cò bị ong đánh trúng nhưng cách xử lý bình tĩnh bằng vôi của người cha đã mang lại bài học quý giá về kinh nghiệm sinh tồn nơi rừng thiêng nước độc. Sau khi thu được lượng mật lớn vượt ngoài mong đợi cả nhóm đã cùng nhau thưởng thức bữa cơm giản dị giữa chốn rừng xanh bạt ngàn gió lộng. Chính trong không gian tĩnh lặng ấy tư duy của An đã mở rộng sang sự so sánh mang tầm vóc quốc tế về các phương thức nuôi ong khác nhau của các nền văn minh. Cậu hồi tưởng lại những kiến thức đã đọc và đi đến kết luận chắc chắn rằng không có nơi nào sở hữu cách nuôi ong sáng tạo và phóng khoáng như người dân vùng U Minh. Sự chiêm nghiệm này không chỉ khẳng định niềm tự hào về vùng đất phương Nam mà còn đánh dấu sự hòa nhập trọn vẹn của An vào đời sống văn hóa nơi đây.

Mẫu 6

Đoạn trích là một thước phim tư liệu quý giá ghi lại nghệ thuật ăn ong độc đáo của người dân Nam Bộ thông qua trải nghiệm của nhân vật An cùng gia đình tía nuôi. Bức tranh thiên nhiên rừng U Minh hiện lên rực rỡ và sống động làm phông nền hoàn hảo cho hoạt động lao động sản xuất mang đậm tính văn hóa đặc trưng vùng miền. Dưới ánh sáng ban mai rạng rỡ An đã được tía nuôi và Cò dẫn dắt bước vào thế giới bí ẩn của loài ong mật với những quy luật sinh tồn riêng biệt. Sự tinh tường của những người dân bản địa thể hiện qua khả năng quan sát hướng bay của ong và xác định vị trí tổ ong một cách chính xác tuyệt đối giữa rừng cây rậm rạp. Quá trình lấy mật diễn ra như một nghi thức lao động nghệ thuật khi người tía nhẹ nhàng xua ong bằng khói và tay trần gỡ những tầng mật vàng ươm thơm lừng. Việc thằng Cò bị ong đốt và được chữa trị kịp thời bằng mẹo dân gian bôi vôi đã làm nổi bật kho tàng tri thức bản địa phong phú được tích lũy qua nhiều thế hệ. Bữa ăn trưa sau buổi lao động không chỉ là lúc nạp lại năng lượng mà còn là thời điểm để các nhân vật chia sẻ niềm vui trước thành quả lao động dồi dào. Đặc biệt nhất là dòng suy tưởng nội tâm của An về sự khác biệt căn bản giữa kỹ thuật gác kèo ở U Minh với các hình thức nuôi ong bằng đục đẽo hay xây tổ nhân tạo trên thế giới. Qua sự so sánh ấy tác giả đã tôn vinh trí tuệ dân gian và sự sáng tạo tuyệt vời của những con người đi mở đất phương Nam. Họ không chỉ biết khai thác thiên nhiên mà còn biết nương tựa vào rừng để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần bền vững.

Mẫu 7

Tác phẩm mở ra một không gian sinh thái hài hòa nơi con người và thiên nhiên rừng U Minh cùng tồn tại trong mối quan hệ cộng sinh mật thiết và bền vững. Nhân vật An cùng tía nuôi và thằng Cò bắt đầu chuyến đi lấy mật trong khung cảnh buổi sáng tinh sương đẹp như mộng với sự thức tỉnh của muôn loài hoa cỏ. An say sưa quan sát đàn chim bay lượn và lắng nghe tiếng ong vo ve như một bản nhạc giao hưởng của đại ngàn đang mời gọi con người khám phá. Sự hiểu biết sâu sắc của tía nuôi và Cò về tập tính loài ong cho thấy con người nơi đây đã thực sự hòa mình và trở thành một phần không thể tách rời của hệ sinh thái rừng. Hành động lấy mật của họ không mang tính chất tàn phá mà là sự thu hoạch chừng mực dựa trên sự tôn trọng quy luật phát triển tự nhiên của loài vật. Ngay cả khi Cò bị ong tấn công thì phản ứng của tía nuôi vẫn rất điềm tĩnh và nhân từ khi ông chỉ xua đuổi bầy ong đi chỗ khác chứ không hề giết hại chúng. Bữa cơm trưa đạm bạc giữa rừng là biểu tượng cho sự gắn kết giản dị nhưng thiêng liêng giữa con người với môi trường sống đã nuôi dưỡng họ bao đời nay. Những suy nghĩ của An về các phương pháp nuôi ong trên thế giới càng làm nổi bật tính ưu việt của cách thức gác kèo tự nhiên tại vùng đất này. Cậu nhận ra rằng chỉ có ở U Minh con người mới để cho loài ong tự do chọn lựa và xây tổ theo bản năng hoang dã nhất của chúng. Chính tư duy tôn trọng tự nhiên ấy đã giúp cho nghề ăn ong nơi đây trở thành một nét đẹp văn hóa sinh thái độc đáo và đầy tính nhân văn.

Mẫu 8

Thông qua ngôi kể thứ nhất đầy chân thực nhân vật An đã dẫn dắt người đọc thâm nhập vào đời sống lao động và tinh thần phóng khoáng của người dân vùng đất phương Nam. Chuyến đi lấy mật mở đầu bằng những rung động tinh tế của tâm hồn cậu bé thành phố trước vẻ đẹp hoang sơ và kỳ vĩ của rừng tràm buổi sớm. Sự háo hức xen lẫn tò mò đã thôi thúc An quan sát kỹ lưỡng từng cử chỉ và hành động của tía nuôi cùng thằng Cò trong suốt chặng đường băng rừng lội suối. Cậu bé không giấu được sự ngưỡng mộ trước khả năng định vị tổ ong tài tình và kỹ năng khai thác mật điêu luyện của hai cha con người bản địa. Tình huống thằng Cò bị ong đốt trở thành một nốt trầm kịch tính giúp bộc lộ sự quan tâm chăm sóc và kinh nghiệm xử lý tình huống dày dặn của người cha. Sau những giờ phút lao động hăng say cả nhóm đã cùng nhau tận hưởng bữa cơm trưa ngon lành và bàn tính chuyện mang gùi lớn hơn vào ngày mai để chứa hết lộc rừng. Trong không gian tĩnh tại ấy dòng suy tưởng của An đã trôi dạt về những trang sách khoa học để thực hiện một cuộc đối chiếu quy mô về nghề nuôi ong. Cậu so sánh tỉ mỉ cách người La Mã hay người Mễ Tây Cơ nuôi ong và nhận thấy sự gò bó nhân tạo trong các phương pháp đó. Ngược lại cách gác kèo ở U Minh lại mang đến sự tự do tuyệt đối cho loài vật và phản ánh tâm hồn phóng khoáng tự do của con người Nam Bộ. Kết thúc đoạn trích là sự khẳng định chắc nịch của An về vẻ đẹp độc tôn và sức hấp dẫn không thể chối từ của vùng đất và con người nơi đây.

Mẫu 9

Đoạn trích là hành trình kiểm chứng những kiến thức lý thuyết mà nhân vật An đã thu nhận được qua sách vở bằng thực tế trải nghiệm tại rừng U Minh. Ban đầu An mang theo những hiểu biết mang tính hàn lâm về loài ong và thiên nhiên nhưng chính sự dẫn dắt của tía nuôi và thằng Cò đã mở ra cho cậu một chân trời mới lạ. Cậu bé nhận ra rằng những dòng chữ trong sách giáo khoa tuy chính xác nhưng chưa thể lột tả hết được sự phong phú và biến ảo khôn lường của đời sống tự nhiên hoang dã. Thằng Cò dù không được học hành bài bản như An nhưng lại sở hữu kho tàng kinh nghiệm thực tế quý báu về cách quan sát ong và định vị tổ ong giữa rừng già. Cuộc hành trình tìm mật vì thế trở thành một lớp học di động nơi thiên nhiên là người thầy vĩ đại còn tía nuôi và Cò là những trợ giảng đắc lực. Cao trào của bài học thực tế này chính là sự cố thằng Cò bị ong đốt và cách xử lý tình huống nhanh nhạy bằng vôi tôi của người cha nuôi. An không chỉ học được kỹ thuật lấy mật mà còn học được thái độ bình tĩnh và kỹ năng sinh tồn cần thiết khi đối mặt với những rủi ro bất ngờ. Bữa ăn trưa giữa rừng là khoảng thời gian để An tổng hợp lại những gì đã quan sát và so sánh chúng với những điều đã đọc được trong sách. Cậu nhận thấy sự tương đồng và khác biệt giữa các phương pháp nuôi ong trên thế giới với cách gác kèo độc đáo của người dân phương Nam. Qua đó tác giả khẳng định rằng tri thức thực tiễn luôn có sức sống mãnh liệt và bổ sung hoàn hảo cho tri thức sách vở.

Mẫu 10

Tác giả Đoàn Giỏi đã kiến tạo nên một không gian nghệ thuật rừng tràm U Minh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng thông qua sự chuyển động tinh tế của thời gian. Buổi sáng ban mai được miêu tả với những gam màu tươi sáng và tràn đầy sức sống khi ánh mặt trời bắt đầu xua tan màn sương lạnh lẽo còn đọng lại trên lá cây. Không gian rừng già không hề tĩnh lặng mà rộn rã âm thanh của chim chóc và tiếng ong vo ve tạo nên một bản hòa tấu thiên nhiên đầy mê hoặc. An cùng tía nuôi và thằng Cò di chuyển trong không gian ấy như những nhà thám hiểm đang khám phá từng ngóc ngách bí ẩn của khu rừng nguyên sinh. Thời gian dường như trôi chậm lại khi họ dừng chân quan sát đàn ong và rồi lại trôi nhanh hơn trong những thao tác lấy mật khẩn trương và điêu luyện. Khoảnh khắc nghỉ trưa ăn cơm là điểm dừng của thời gian nghệ thuật để các nhân vật lắng đọng tâm tư và tận hưởng thành quả lao động. Không gian lúc này được mở rộng ra qua dòng suy tưởng của An về những vùng đất xa xôi như La Mã hay Mễ Tây Cơ. Sự kết hợp giữa không gian thực tại của rừng U Minh và không gian tưởng tượng trong tâm trí An đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Cảnh sắc thiên nhiên thay đổi theo bước chân người đi lấy mật từ sự ướt át của sương sớm đến cái nắng chói chang của buổi trưa hè. Tất cả tạo nên một phông nền hoàn hảo tôn vinh vẻ đẹp lao động và tâm hồn phóng khoáng của con người nơi đây.

Mẫu 11

Nhân vật tía nuôi hiện lên trong đoạn trích như một biểu tượng vững chãi của người nông dân Nam Bộ với bản lĩnh can trường và tình yêu thương gia đình sâu sắc. Ông là người dẫn đường tin cậy đưa An và Cò thâm nhập vào thế giới của loài ong mật bằng những kinh nghiệm dày dặn được tích lũy qua nhiều năm tháng. Từng cử chỉ và hành động của ông từ việc quan sát hướng gió đến cách gác kèo đều toát lên sự thành thục và am hiểu tường tận quy luật của tự nhiên. Khi đối mặt với đàn ong hung dữ ông không hề nao núng mà bình tĩnh sử dụng khói để xua đuổi chúng đi nơi khác nhằm bảo vệ đàn con và thu hoạch mật. Hành động bôi vôi vào vết ong đốt cho thằng Cò cho thấy sự quan tâm thầm lặng nhưng thiết thực của người cha đối với con cái. Ông không nói nhiều mà chỉ dùng hành động để dạy cho An và Cò những bài học về lòng dũng cảm và kỹ năng sống sót giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Sự hào sảng của ông còn thể hiện qua bữa cơm trưa đầm ấm và kế hoạch mang gùi to hơn vào ngày hôm sau để chứa hết lộc rừng. Hình ảnh người tía vạch trần lưng vạm vỡ đi giữa rừng cây là minh chứng cho sức mạnh và vẻ đẹp của con người lao động làm chủ thiên nhiên. An nhìn tía nuôi với ánh mắt ngưỡng mộ và kính trọng bởi ông chính là hiện thân của vùng đất phương Nam hào hiệp và nghĩa tình.

Mẫu 12

Văn bản gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ cộng sinh bền vững giữa con người và hệ sinh thái rừng ngập mặn U Minh. Con người nơi đây không khai thác thiên nhiên theo kiểu tận diệt mà biết nương tựa vào rừng để sinh tồn và phát triển một cách hài hòa. Hành trình đi lấy mật của ba cha con An là minh chứng cho lối sống thuận theo tự nhiên khi họ chỉ thu hoạch phần mật dư thừa và giữ gìn đàn ong cho những mùa sau. Phương pháp gác kèo mà An suy ngẫm chính là đỉnh cao của trí tuệ sinh thái khi con người tạo ra môi trường sống lý tưởng cho loài ong thay vì giam cầm chúng. Sự trù phú của rừng tràm cung cấp nguồn hoa vô tận cho ong làm mật và đổi lại ong giúp thụ phấn để duy trì sự phát triển của rừng cây. Ngay cả việc sử dụng vôi để chữa vết ong đốt cũng là một kinh nghiệm dân gian sử dụng những vật liệu tự nhiên sẵn có để chữa trị. Con người và thiên nhiên trong tác phẩm không đối lập nhau mà hòa quyện vào nhau trong một tổng thể thống nhất và cân bằng. An đã cảm nhận được hơi thở của rừng thấm đẫm trong từng hoạt động của tía nuôi và thằng Cò cũng như trong chính suy nghĩ của mình. Bữa cơm giữa rừng là nghi thức giao hòa thiêng liêng khẳng định sự gắn bó máu thịt của người dân Nam Bộ với mảnh đất này. Tác phẩm là bài ca ca ngợi tư duy sinh thái nhân văn đi trước thời đại của những người đi mở cõi.

Mẫu 13

Nhân vật Cò đóng vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật sự khác biệt về xuất thân và tính cách giữa cậu và nhân vật chính là An. Nếu An đại diện cho cậu bé thành phố nhạy cảm và ham học hỏi qua sách vở thì Cò là hiện thân của sự lanh lợi và am hiểu thực tế rừng sông. Cò luôn tỏ ra tự tin và có phần lấn lướt An trong các tình huống đòi hỏi kỹ năng quan sát và vận động trong rừng. Cậu chỉ cho An thấy những điều mà mắt thường An không nhìn thấy như vị trí của bầy ong hay cách nhận biết các loài chim lạ. Sự cố bị ong đốt là một thử thách nhỏ đối với Cò nhưng cậu đã đón nhận nó với thái độ dũng cảm và coi đó như một phần tất yếu của cuộc sống nơi đây. Qua hình ảnh Cò tác giả muốn tôn vinh vẻ đẹp khỏe khoắn và hồn nhiên của những đứa trẻ lớn lên từ vùng đất hoang sơ phóng khoáng. Sự tương phản giữa An và Cò không tạo ra mâu thuẫn mà ngược lại chúng bổ sung cho nhau giúp cả hai cùng trưởng thành qua chuyến đi. An học được ở Cò sự thực tế còn Cò tìm thấy ở An một người bạn biết lắng nghe và chia sẻ những khám phá thú vị. Tình bạn giữa hai cậu bé nảy nở tự nhiên giữa khung cảnh lao động vất vả nhưng tràn đầy niềm vui khám phá. Cò chính là cầu nối giúp An hòa nhập nhanh chóng và sâu sắc hơn vào đời sống văn hóa của người dân U Minh.

Mẫu 14

Cấu trúc trần thuật của đoạn trích được xây dựng dựa trên sự vận động linh hoạt của điểm nhìn từ quan sát ngoại cảnh đến chiêm nghiệm nội tâm. Khởi đầu là cái nhìn háo hức của An khi cậu thu vào tầm mắt toàn bộ vẻ đẹp tráng lệ của rừng U Minh trong buổi bình minh rực rỡ. Điểm nhìn của cậu di chuyển liên tục theo bước chân của tía nuôi và thằng Cò để ghi nhận những chi tiết sống động về đời sống của loài ong. Khi hành động lấy mật diễn ra điểm nhìn tập trung vào các thao tác kỹ thuật và sự kịch tính của tình huống thằng Cò bị ong tấn công. Sau khi sự việc lắng xuống điểm nhìn chuyển hướng vào bên trong tâm hồn An khi cậu ngồi ăn cơm và suy nghĩ miên man về các vùng đất xa xôi. Lúc này trần thuật không còn mô tả sự kiện mà chuyển sang phân tích và so sánh các giá trị văn hóa xã hội liên quan đến nghề nuôi ong. Sự thay đổi điểm nhìn này giúp cho câu chuyện có chiều sâu trí tuệ và không bị sa đà vào việc kể lể sự việc đơn thuần. Người đọc không chỉ thấy được cảnh sắc thiên nhiên mà còn thấy được sự trưởng thành trong tư duy và nhận thức của nhân vật chính. An từ một người quan sát thụ động đã trở thành một người tư duy chủ động biết đánh giá và trân trọng những giá trị bản địa. Chính sự vận động này đã làm nên sức hấp dẫn và tính thuyết phục cho thiên truyện.

Mẫu 15

Loài ong trong đoạn trích không chỉ là đối tượng khai thác kinh tế mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về sự cần cù và tính tổ chức cao của tự nhiên. Chúng hiện lên qua sự quan sát của An như những sinh vật kỳ diệu biết tuân thủ kỷ luật và có khả năng xây dựng những công trình kiến trúc tuyệt mỹ. Sự hung dữ của bầy ong khi bị xâm phạm tổ cũng là bài học về quy luật tự vệ chính đáng của mọi sinh vật trước các mối đe dọa từ bên ngoài. Mật ong vàng óng là kết tinh của hương hoa rừng và công sức lao động miệt mài của hàng vạn con ong thợ chăm chỉ. Đối với người dân U Minh loài ong là ân nhân mang lại nguồn sống nên họ đối xử với chúng bằng sự tôn trọng và chừng mực. Hình ảnh đàn ong bay rợp trời gợi lên sức sống mãnh liệt và sự trù phú vô tận của vùng đất phương Nam chưa được khai phá hết. An so sánh loài ong ở đây với loài ong ở La Mã hay châu Phi để thấy rằng tự do là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển tốt đẹp nhất. Cách loài ong chọn kèo để làm tổ cũng giống như cách người dân Nam Bộ chọn đất lành để an cư lạc nghiệp. Qua hình tượng loài ong tác giả gửi gắm thông điệp về giá trị của lao động và sự tự do trong cuộc sống muôn loài.

Mẫu 16

Bữa cơm trưa giữa rừng của ba cha con An tuy giản dị đạm bạc nhưng lại chứa đựng những giá trị văn hóa ẩm thực và tinh thần phong phú. Đó không phải là một bữa tiệc cao lương mỹ vị mà là bữa ăn của những người lao động chân chính sau những giờ phút đổ mồ hôi sôi nước mắt. Món ăn chủ yếu là cơm vắt và những sản vật sẵn có của rừng nhưng lại ngon miệng lạ thường nhờ gia vị là sự mệt nhọc và niềm vui được mùa. Không khí bữa ăn diễn ra trong sự thân mật và ấm cúng xóa tan mọi khoảng cách giữa cha và con giữa người bản địa và người ngụ cư. Trong lúc ăn An đã để tâm trí mình bay bổng đến những chân trời kiến thức mới lạ về nghề nuôi ong trên thế giới. Bữa ăn trở thành cái cớ để nhân vật bộc lộ đời sống nội tâm phong phú và những suy tư trăn trở về bản sắc văn hóa vùng miền. Sự no đủ về vật chất sau khi thu hoạch mật đi liền với sự thỏa mãn về tinh thần khi con người cảm thấy mình sống có ích và hòa hợp với tự nhiên. Đây là nét đẹp trong lối sống của người phương Nam luôn lạc quan yêu đời và biết tận hưởng những niềm vui giản đơn nhất. Bức tranh ẩm thực này đã góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp hồn hậu và chất phác của tác phẩm.

Mẫu 17

Một trong những điểm nhấn đặc sắc nhất của đoạn trích là đoạn văn An so sánh kỹ thuật nuôi ong gác kèo ở U Minh với các phương pháp khác trên thế giới. Cậu nhớ lại kiến thức về người La Mã nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc hũ có đục thủng nhiều lỗ nhỏ. Cậu cũng liên tưởng đến người Mễ Tây Cơ làm tổ ong bằng đất nung hay người Ai Cập nuôi ong trong những tổ bằng sành. Ở châu Phi người ta lại đục ruỗng thân cây để làm tổ cho ong nhưng tất cả đều là sự gò ép nhân tạo và tước đoạt tự do của loài vật. Ngược lại người dân U Minh có cách làm độc đáo là gác những thanh gỗ gọi là kèo vào những vị trí định sẵn để dụ ong về làm tổ một cách tự nhiên. An nhận ra rằng không có nơi nào xứ sở của loài ong lại kỳ lạ và phóng khoáng như ở vùng rừng tràm này. Sự so sánh này không nhằm mục đích hạ thấp các nền văn minh khác mà để tôn vinh sự sáng tạo phù hợp với địa hình và tập quán của người Việt. Qua đó An khẳng định niềm tự hào dân tộc và tình yêu sâu sắc đối với mảnh đất mà cậu đang gắn bó. Đây là đoạn văn giàu tính trí tuệ thể hiện tầm hiểu biết rộng và khả năng tư duy sắc sảo của nhân vật chính.

Mẫu 18

Đoạn trích Đi lấy mật là một bản hòa ca tuyệt vời giữa ba yếu tố Thiên nhiên Địa lý và Con người tại vùng đất mũi Cà Mau. Thiên nhiên cung cấp bối cảnh hùng vĩ và nguồn tài nguyên phong phú để con người khai thác và thụ hưởng. Địa lý sông nước rừng rậm quy định phương thức lao động và hình thành nên những kỹ năng đặc thù của người dân nơi đây. Con người với trí tuệ và bàn tay lao động đã tác động vào thiên nhiên để tạo ra của cải nhưng vẫn giữ gìn sự cân bằng sinh thái. Ba nhân vật An Cò và tía nuôi đại diện cho ba thế hệ và ba khía cạnh khác nhau của con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Hành trình đi lấy mật là sợi dây liên kết các yếu tố này lại với nhau trong một chuỗi các sự kiện và hành động liên tục. Sự thành công của chuyến đi không chỉ đo bằng số lượng mật thu được mà còn bằng sự gắn kết tình cảm và sự mở mang trí tuệ. Tác phẩm đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về sự sống sinh sôi nảy nở tại vùng đất phương Nam hoang sơ mà quyến rũ. Ở đó Thiên Địa Nhân hòa quyện vào nhau tạo nên một bản sắc văn hóa riêng biệt không thể trộn lẫn. An đã thực sự trở thành một phần của vùng đất này thông qua sự thấu hiểu và trân trọng những giá trị cốt lõi ấy.

Mẫu 19

Đoạn trích là một bản hòa tấu đa thanh và đa sắc của thiên nhiên rừng U Minh được cảm nhận trọn vẹn qua hệ thống các giác quan nhạy bén của nhân vật An. Ngay từ những bước chân đầu tiên thâm nhập vào rừng sâu thính giác của An đã được đánh thức bởi tiếng chim hót líu lo và tiếng ong bay vo ve tạo nên một bản nhạc nền sống động. Thị giác của cậu bé bị cuốn hút bởi những tia nắng ban mai xuyên qua tàn lá và sắc màu rực rỡ của các loài hoa rừng đang độ khoe sắc thắm. Khứu giác của An cũng không hề nghỉ ngơi khi hương thơm ngào ngạt của hoa tràm và mùi ngai ngái đặc trưng của đất rừng bốc lên trong sương sớm. Sự dẫn dắt của tía nuôi và thằng Cò đã giúp An kết nối các tín hiệu giác quan rời rạc ấy thành một bức tranh tổng thể về hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú. Cao trào của trải nghiệm cảm giác là khi nếm vị ngọt ngào của mật ong tươi vừa được thu hoạch ngay tại chỗ hòa quyện với vị mặn mòi của mồ hôi lao động. Cảm giác đau điếng thay cho Cò khi bị ong đốt cũng là một dạng trải nghiệm xúc giác mạnh mẽ khiến cho chuyến đi trở nên khắc sâu vào ký ức. Sau những giờ phút căng thẳng của việc lấy mật bữa ăn trưa đạm bạc lại mang đến sự thỏa mãn về vị giác và khứu giác trong không gian yên bình. Chính sự tổng hòa của các giác quan này đã kích thích tư duy trừu tượng của An phát triển mạnh mẽ dẫn đến những liên tưởng so sánh thú vị ở cuối đoạn trích. Cậu nhận ra rằng vẻ đẹp của rừng U Minh không chỉ nằm ở hình ảnh mà còn nằm ở mùi vị và âm thanh đặc trưng không nơi nào có được. Đó là một trải nghiệm thẩm mỹ toàn diện giúp nâng cao nhận thức và bồi đắp tâm hồn cho nhân vật chính.

Mẫu 20

Văn bản đã khắc họa thành công vẻ đẹp hoang sơ nguyên thủy của vùng đất U Minh nơi thiên nhiên vẫn giữ nguyên được những nét bí ẩn chưa bị bàn tay con người can thiệp quá sâu. Rừng tràm hiện lên như một thế giới cổ tích với những quy luật sinh tồn riêng biệt mà con người buộc phải học cách thích nghi nếu muốn khai thác tài nguyên. Tía nuôi và thằng Cò chính là những hình mẫu tiêu biểu cho khả năng thích nghi tuyệt vời ấy khi họ di chuyển trong rừng như đi trong sân nhà mình. Họ hiểu rõ tập tính của loài ong hoang dã đến mức có thể dự đoán chính xác vị trí và thời điểm ong về làm tổ trên những cây kèo đã gác sẵn. Sự thích nghi còn thể hiện qua cách họ đối phó với những nguy hiểm thường trực như việc tía nuôi dùng vôi để chữa vết ong đốt cho Cò ngay tức khắc. Con người ở đây không tìm cách chế ngự thiên nhiên bằng sức mạnh cơ bắp mà bằng sự hiểu biết và nương theo các quy luật tự nhiên sẵn có. Cách lấy mật của họ cũng mang đậm tính chất nguyên thủy khi chỉ dùng khói và tay trần chứ không sử dụng các công cụ bảo hộ hiện đại hay hóa chất độc hại. An từ một cậu bé thành thị xa lạ đã dần dần hòa nhập vào không gian hoang dã ấy và cảm nhận được sức hấp dẫn mãnh liệt của đời sống tự nhiên. Những suy nghĩ của An về các phương pháp nuôi ong nhân tạo trên thế giới càng làm nổi bật tính chất hoang dã và tự do của nghề ăn ong vùng U Minh. Sự hoang sơ ấy chính là tài sản vô giá tạo nên bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ cho vùng đất phương Nam.

Mẫu 21

Hành trình đi lấy mật có thể được xem như một bài học giáo dục thực nghiệm sinh động nơi trường học chính là rừng già và giáo cụ là những tổ ong trĩu mật. Tía nuôi và thằng Cò đóng vai trò là những người thầy hướng dẫn tận tâm giúp An tiếp cận tri thức không phải qua lý thuyết khô khan mà qua quan sát và hành động thực tế. Bài học đầu tiên mà An nhận được là kỹ năng quan sát tinh tế để nhận biết các dấu hiệu của sự sống trong rừng từ hướng bay của chim đến âm thanh của gió. Bài học tiếp theo là về kỹ thuật lao động cụ thể qua việc chứng kiến tía nuôi gác kèo và thu hoạch mật một cách điêu luyện và an toàn. Sự cố thằng Cò bị ong đốt trở thành một tình huống giáo dục điển hình về cách xử lý tai nạn và rèn luyện bản lĩnh bình tĩnh trước nguy nan. Tía nuôi không giảng giải đạo lý sáo rỗng mà trực tiếp dùng hành động bôi vôi và xua ong để dạy cho con trẻ về tình thương và trách nhiệm. Sau giờ học thực hành căng thẳng bữa trưa là thời gian để An tự mình đúc kết và mở rộng kiến thức qua việc so sánh với các tài liệu đã đọc. Phương pháp giáo dục này giúp kiến thức thấm sâu vào tâm trí An và trở thành vốn sống thực tế hữu ích cho cậu trong tương lai. Nó chứng minh rằng thực tiễn cuộc sống luôn là người thầy vĩ đại nhất và thiên nhiên là kho tàng tri thức vô tận đang chờ con người khám phá. An đã trưởng thành hơn rất nhiều chỉ sau một chuyến đi ngắn ngủi nhờ vào phương pháp giáo dục trực quan sinh động này.

Mẫu 22

Điểm nhấn trí tuệ của đoạn trích nằm ở sự phân tích sâu sắc về kỹ thuật gác kèo nuôi ong một sáng tạo độc đáo mang tính kiến trúc sinh học của người dân U Minh. Khác với việc xây dựng những tổ ong nhân tạo bằng đồng hay đất nung như người La Mã hay Ai Cập người U Minh tạo ra những công trình mở hòa nhập hoàn toàn vào thiên nhiên. Chiếc kèo chỉ là một nhánh tràm được gác lên cây nhưng lại được tính toán kỹ lưỡng về vị trí hướng gió và độ che phủ để thu hút ong về làm tổ. Đây là một dạng kiến trúc sinh thái lợi dụng tập tính tự nhiên của loài vật để phục vụ mục đích của con người mà không làm mất đi sự tự do của chúng. An đã so sánh và nhận thấy rằng không có nơi nào trên thế giới lại có kiểu kiến trúc nuôi ong phóng khoáng và thông minh như vậy. Những tổ ong ở U Minh không phải là những chiếc hộp kín mít tù túng mà là những không gian mở treo lơ lửng giữa trời xanh và hương hoa rừng. Cấu trúc này cho phép đàn ong phát triển tự nhiên nhất và sản sinh ra lượng mật có chất lượng hảo hạng nhất. Tư duy kiến trúc này phản ánh tâm hồn cởi mở và lối sống hòa hợp với thiên nhiên của cộng đồng cư dân vùng sông nước. Nó chứng minh rằng đỉnh cao của kỹ thuật không phải là sự phức tạp của máy móc mà là sự giản đơn nhưng hiệu quả và bền vững. An đã nhìn thấy trong chiếc kèo đơn sơ ấy cả một triết lý sống và lao động đầy tính nhân văn và sáng tạo.

Mẫu 23

Tác giả đã sử dụng một bảng màu phong phú để vẽ nên bức tranh thiên nhiên và đời sống lao động trong đoạn trích Đi lấy mật. Màu xanh bạt ngàn của rừng tràm là tông màu chủ đạo tạo nên cái nền hùng vĩ và bí ẩn cho toàn bộ câu chuyện. Điểm xuyết trên nền xanh ấy là màu vàng rực rỡ của nắng sớm và màu vàng sóng sánh của những tầng mật ong căng đầy hương vị ngọt ngào. Màu trắng của màn sương mỏng manh buổi sớm mai tạo nên vẻ hư ảo mộng mơ cho khung cảnh trước khi mặt trời lên cao. Màu trắng đục của vôi tôi được tía nuôi bôi lên vết ong đốt của thằng Cò là một điểm nhấn màu sắc mang ý nghĩa chữa lành và bảo vệ. Sự tương phản giữa các gam màu nóng và lạnh tạo nên sự cân bằng thị giác và gợi lên những cảm xúc thẩm mỹ đa dạng cho người đọc. An không chỉ nhìn thấy màu sắc bằng mắt mà còn cảm nhận được sự chuyển động của chúng qua từng thời khắc trong ngày. Màu sắc trong văn bản không chỉ có chức năng tả thực mà còn mang tính biểu tượng cho sự trù phú và sức sống mãnh liệt của vùng đất này. Những dòng suy tưởng của An về các tổ ong bằng đồng hay đất nung ở nước ngoài cũng gợi lên những gam màu trầm mặc cổ kính tương phản với sự tươi mới của rừng U Minh. Chính hệ thống màu sắc này đã góp phần làm nên chất thơ và sức quyến rũ khó cưỡng của tác phẩm.

Mẫu 24

Đoạn trích thể hiện sự đan xen nhịp nhàng giữa nhịp điệu lao động khẩn trương và sự tĩnh tại thư thái trong tâm hồn của các nhân vật. Buổi sáng bắt đầu bằng sự di chuyển chậm rãi và thận trọng của ba cha con khi họ len lỏi qua những bụi cây để tìm kiếm dấu vết của đàn ong. Nhịp điệu trở nên nhanh hơn và kịch tính hơn khi họ phát hiện ra tổ ong và tiến hành các thao tác thu hoạch mật một cách dứt khoát và chính xác. Sự cố thằng Cò bị ong đốt tạo ra một nốt nhạc lạc điệu nhưng nhanh chóng được tía nuôi điều chỉnh lại bằng sự bình tĩnh và kinh nghiệm xử lý tình huống. Sau cao trào lao động nhịp điệu câu chuyện chùng xuống êm ả trong bữa cơm trưa đầm ấm dưới tán rừng rợp mát. Đây là lúc cơ thể được nghỉ ngơi và tâm trí của An được tự do bay bổng đến những vùng đất xa xôi trên bản đồ thế giới. Sự tĩnh tại này không phải là sự lười biếng mà là khoảng lặng cần thiết để tái tạo năng lượng và chiêm nghiệm về ý nghĩa của công việc. Tía nuôi và thằng Cò dù lao động vất vả nhưng vẫn giữ được nụ cười và thái độ lạc quan yêu đời đặc trưng của người dân Nam Bộ. Nhịp điệu của thiên nhiên và nhịp điệu của con người hòa quyện vào nhau tạo nên một bản giao hưởng êm đềm của cuộc sống thường nhật. Qua đó tác giả ca ngợi vẻ đẹp của lao động trong sự cân bằng và hài hòa với nhịp sống của vũ trụ.

Mẫu 25

Ẩn sau câu chuyện đi lấy mật là một thông điệp sâu sắc về đạo đức sinh thái và ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của người dân bản địa. Tía nuôi An khi lấy mật đã thực hiện những thao tác rất cẩn trọng để không làm tổn hại đến đàn ong và môi trường sống của chúng. Ông chỉ dùng khói để xua ong đi chứ không dùng lửa để đốt chết hay dùng thuốc để tiêu diệt chúng như những kẻ săn bắt trộm. Hành động này thể hiện sự tôn trọng sự sống và lòng biết ơn đối với loài vật đã mang lại nguồn lợi kinh tế cho gia đình. Việc để lại một phần tổ và không khai thác cạn kiệt cũng là một biểu hiện của tư duy phát triển bền vững "ăn của rừng rưng rưng nước mắt". An qua quan sát hành động của tía đã học được bài học về cách ứng xử văn minh và nhân hậu với thế giới tự nhiên. Sự so sánh của An về cách nuôi ong ở các nước khác cũng cho thấy ưu điểm vượt trội của phương pháp gác kèo U Minh trong việc bảo vệ tính hoang dã của loài vật. Con người nơi đây hiểu rằng nếu họ tàn phá rừng và tiêu diệt ong thì chính họ sẽ mất đi nguồn sống trong tương lai. Đạo đức sinh thái này không cần văn bản quy định mà đã thấm vào máu thịt và trở thành nếp sống văn hóa của người dân vùng đất mũi. Tác phẩm vì thế mang tính thời sự nóng hổi trong bối cảnh vấn đề bảo vệ môi trường đang trở nên cấp bách trên toàn cầu.

Mẫu 26

Thiên nhiên trong đoạn trích hiện lên với hai mặt đối lập nhưng thống nhất biện chứng là vừa chứa đựng hiểm nguy vừa hào phóng ban tặng vật chất. Rừng U Minh ẩn chứa những mối đe dọa từ thú dữ rắn rết và đặc biệt là những bầy ong mật hung hăng sẵn sàng tấn công kẻ xâm nhập. Vết ong đốt trên người thằng Cò là minh chứng rõ ràng cho sự nguy hiểm mà con người phải đối mặt khi mưu sinh giữa chốn rừng thiêng nước độc. Tuy nhiên chính sự nguy hiểm ấy lại là lớp vỏ bảo vệ cho những kho báu vô giá mà thiên nhiên cất giấu bên trong là những tổ ong đầy ắp mật ngọt. Muốn thụ hưởng thành quả lao động con người buộc phải dũng cảm vượt qua nỗi sợ hãi và chấp nhận rủi ro như một phần tất yếu của cuộc chơi. Sự hào phóng của rừng già chỉ dành cho những ai có đủ bản lĩnh và tri thức để chinh phục những thử thách mà nó đặt ra. An đã nhận ra rằng mật ong càng ngọt ngào thì hành trình lấy mật càng gian nan và đòi hỏi nhiều công sức. Mối quan hệ biện chứng này dạy cho con người biết trân trọng những gì mình có được và không ngừng rèn luyện bản thân để vươn lên. Tía nuôi và Cò là những người đã thấu hiểu quy luật này nên họ đón nhận cả niềm vui và nỗi đau từ rừng với thái độ bình thản an nhiên.

Mẫu 27

Bên cạnh không gian vật lý của rừng tràm đoạn trích còn mở ra một không gian tâm tưởng rộng lớn trong trí não của nhân vật An. Trong lúc ăn cơm An đã thực hiện một cuộc du hành tâm trí xuyên không gian và thời gian để đến với những nền văn minh khác nhau trên thế giới. Cậu nhớ lại những kiến thức bách khoa về lịch sử nghề nuôi ong từ thời La Mã cổ đại đến các bộ lạc ở châu Phi hay người Ai Cập. Sự uyên bác của An không phải để khoe khoang mà để phục vụ cho nhu cầu so sánh và đánh giá lại giá trị thực tiễn của quê hương mình. Không gian tâm tưởng này cho thấy An là một cậu bé có đời sống nội tâm phong phú và luôn khát khao mở rộng tầm hiểu biết của mình ra ngoài biên giới quốc gia. Những kiến thức sách vở đã được cậu vận dụng một cách linh hoạt để làm sáng tỏ vẻ đẹp độc đáo của kỹ thuật gác kèo truyền thống. Sự kết hợp giữa tri thức hàn lâm và trải nghiệm thực tế đã tạo nên chiều sâu trí tuệ cho nhân vật và nâng tầm giá trị của tác phẩm. Đoàn Giỏi đã khéo léo lồng ghép lượng thông tin khoa học bổ ích vào trong một câu chuyện văn học hấp dẫn và giàu cảm xúc. Điều này kích thích trí tò mò và niềm đam mê khám phá khoa học của các độc giả trẻ tuổi.

Mẫu 28

Đoạn trích như một văn bản kết tinh đậm đặc bản sắc văn hóa và tinh thần khai phóng của người dân Nam Bộ. Từ lời ăn tiếng nói đến cách thức lao động và ứng xử với thiên nhiên của các nhân vật đều toát lên cái chất hào sảng phóng khoáng đặc trưng của vùng đất này. Tía nuôi và thằng Cò đại diện cho những con người bộc trực thẳng thắn trọng nghĩa tình và luôn sống chan hòa với môi trường xung quanh. Cách họ lấy mật không gò bó theo khuôn mẫu cứng nhắc mà linh hoạt sáng tạo dựa trên điều kiện thực tế của địa hình và thời tiết. Tinh thần khai phóng thể hiện rõ nhất qua suy nghĩ của An về sự tự do tuyệt đối của loài ong trong rừng U Minh không chịu sự giam cầm trong những chiếc tổ nhân tạo. Đó cũng chính là khát vọng tự do của những người đi mở đất không chấp nhận sự trói buộc mà luôn hướng tới những chân trời mới rộng mở. Tác phẩm là lời khẳng định đầy tự hào về một nền văn hóa sông nước độc đáo giàu bản sắc và đầy sức sống mãnh liệt. An dù là người ngụ cư nhưng đã nhanh chóng bị chinh phục và đồng hóa bởi vẻ đẹp văn hóa đầy tình người ấy. Đi lấy mật vì thế không chỉ là chuyện nghề mà còn là chuyện người chuyện đời và chuyện văn hóa của cả một vùng đất phương Nam thân yêu.

Bố cục

Văn bản chia thành 3 phần:

- Phần 1: Từ đầu ... bụi cây: chuẩn bị đi lấy ăn ong

- Phần 2: Tiếp theo ... im im đi tới: con đường đến chỗ lấy mật

- Phần 3: Trên đường lấy mật ... trở về: quá trình lấy mật ong

Nội dung chính

Đoạn trích kể lại một ngày đi lấy kèo ong của An, Cò và tía nuôi của An.

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

close