Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Bình ngô đại cáo - CTSTTóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Bình Ngô đại cáo - CTST giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác. Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa... Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Tóm tắt Mẫu 1 “Đại cáo bình Ngô” là tác phẩm nêu cao chủ nghĩa yêu nước, ca ngợi cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì đạo lí chính nghĩa. Tác phẩm thể hiện tinh thần nhân đạo, quan niệm sức mạnh vô địch là bắt nguồn từ “chí nhân”, “đại nghĩa”, từ nhân dân. Bài cáo đã khái quát kháng chiến gian lao nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc trong quá trình kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Tác giả đã khẳng định, đề cao sức mạnh của lòng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa, ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng dân tộc, thể hiện sâu sắc niềm tự hào dân tộc. Mẫu 2 Năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi huy hoàng, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” để tuyên bố với toàn dân về việc dẹp yên giặc Ngô. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc, được ban bố vào đầu năm 1428. Phần đầu của tác phẩm, Nguyễn Trãi nêu lên luận đề chính nghĩa. Sau đó, bằng giọng văn đanh thép, Nguyễn Trãi đã vạch trần tội ác của giặc Minh. Không chỉ vậy ông còn đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo tội ác của kẻ thù khi chúng cai trị nhân dân ta. Chúng hủy hoại cuộc sống của con người bằng những hành động hết sức dã man. Sau những lời văn thống thiết, nhưng cũng đầy mạnh mẽ, tiếp đến Nguyễn Trãi kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và thắng lợi tất yếu của quân dân ta. Cuối cùng là lời tuyên bố chiến thắng, mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc thật dõng dạc, tràn đầy niềm tự hào. Đồng thời ông cũng rút ra những bài học lịch sử, khẳng định, chiến thắng chúng ta có được là nhờ sự kết hợp sức mạnh của thời đại và sức mạnh truyền thống dân tộc. Mẫu 3 Tác phẩm mở đầu bằng việc xác lập chân lý về sự tồn tại độc lập của nước Đại Việt dựa trên cơ sở thực tiễn và lịch sử lâu đời. Nguyễn Trãi khẳng định nguyên lý nhân nghĩa không chỉ là yêu thương con người mà cốt lõi là phải bảo vệ chủ quyền quốc gia để yên dân. Tác giả đã liệt kê các triều đại phong kiến phương Bắc song hành cùng các triều đại Việt Nam để chứng minh vị thế bình đẳng và độc lập của dân tộc ta. Tiếp đó, văn bản chuyển sang tố cáo tội ác tày trời của giặc Minh khi chúng lợi dụng tình hình rối ren của nhà Hồ để cướp nước và gây ra bao tang thương cho bách tính. Từ sự căm phẫn đó, tác giả tái hiện quá trình hình thành và phát triển của nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi từ những ngày đầu nếm mật nằm gai nơi núi rừng Thanh Hóa. Quá trình kháng chiến được miêu tả hào hùng qua các chiến trận lừng lẫy như Tốt Động, Chúc Động và đỉnh cao là chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang khiến quân địch đại bại hoàn toàn. Không chỉ thắng bằng quân sự, nghĩa quân còn thắng bằng chính sách tâm công và lòng nhân đạo khi cấp thuyền ngựa cho giặc về nước. Cuối cùng, bài cáo tuyên bố long trọng về nền hòa bình vĩnh cửu và mở ra một kỷ nguyên mới cho xã hội Đại Việt. Tác phẩm kết thúc bằng lời tuyên cáo cho toàn thể thiên hạ biết về sự đổi thay vận mệnh của quốc gia. Đây thực sự là một áng văn chính luận mẫu mực kết hợp hài hòa giữa lý lẽ sắc bén và cảm xúc nồng nàn yêu nước.
Xem thêm Mẫu 4 Bình Ngô đại cáo được xây dựng dựa trên trục tư tưởng xuyên suốt là lấy dân làm gốc để kiến tạo hòa bình và thịnh trị. Ngay phần mở đầu, Nguyễn Trãi đã đưa ra luận điểm cốt lõi rằng việc nhân nghĩa cốt ở yên dân và muốn yên dân thì trước hết phải trừ khử những kẻ bạo tàn đang giày xéo đất nước. Tác giả đã sử dụng ngòi bút đanh thép để vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của tập đoàn phong kiến nhà Minh khi chúng biến Đại Việt thành địa ngục trần gian. Những tội ác như nướng dân đen, vùi con đỏ hay vơ vét tài nguyên được miêu tả cực kỳ sống động nhằm khơi dậy lòng căm thù của toàn dân tộc. Đối lập với sự tàn bạo đó là hình ảnh vị chủ tướng Lê Lợi với lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí phục quốc mãnh liệt dù khởi đầu gặp muôn vàn khó khăn. Giai đoạn phản công của nghĩa quân được tái hiện như một bản anh hùng ca với sức mạnh như vũ bão khiến quân thù sụp đổ mảng lớn. Chiến thắng của cuộc khởi nghĩa không chỉ là thắng lợi quân sự mà là thắng lợi của tư tưởng nhân nghĩa trước cường quyền bạo lực. Chính sách tha chết cho quân giặc bại trận ở cuối tác phẩm là minh chứng hùng hồn nhất cho tầm vóc văn hóa và lòng bao dung của dân tộc Đại Việt. Bài cáo khép lại với niềm tin sắt đá vào tương lai tươi sáng và sự vững bền của nền thái bình muôn thuở. Toàn bộ tác phẩm là một quy trình logic chặt chẽ khẳng định chân lý chính nghĩa tất thắng. Mẫu 5 Tác phẩm khởi đi từ niềm tự hào sâu sắc về nền văn hiến lâu đời của nước Đại Việt với phong tục tập quán và cương vực lãnh thổ riêng biệt. Nguyễn Trãi đã khéo léo đặt các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần sánh ngang với Hán, Đường, Tống, Nguyên để khẳng định vị thế quốc gia độc lập có chủ quyền. Phần tiếp theo của bài cáo là một bản biên niên sử đau thương ghi lại giai đoạn đất nước bị nhà Minh đô hộ với những chính sách cai trị hà khắc và tàn độc chưa từng có. Tác giả không ngần ngại vạch trần sự lừa dối của kẻ thù khi chúng mượn danh nghĩa phù Trần diệt Hồ để thực hiện dã tâm xâm lược. Từ bối cảnh lịch sử bi thương ấy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ như một tất yếu lịch sử để giành lại quyền sống và quyền tự chủ cho dân tộc. Tác phẩm miêu tả chi tiết các giai đoạn của cuộc kháng chiến từ lúc thế lực còn mỏng manh đến khi trưởng thành lớn mạnh và giành thế chủ động trên chiến trường. Những địa danh lịch sử như Bồ Đằng, Trà Lân, Ninh Kiều, Tốt Động được nhắc đến như những mốc son chói lọi trong tiến trình giải phóng dân tộc. Sự thất bại nhục nhã của các tướng giặc như Liễu Thăng, Lương Minh, Vương Thông được khắc họa để làm nổi bật sự thảm hại của kẻ xâm lược phi nghĩa. Kết thúc bài cáo là lời tuyên bố đanh thép về việc rửa sạch nỗi nhục mất nước và mở ra trang sử mới huy hoàng. Bình Ngô đại cáo vì thế trở thành một văn kiện lịch sử vô giá tổng kết toàn diện cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mẫu 6 Trọng tâm của phần đầu tác phẩm là sự phơi bày trần trụi và đầy căm phẫn những tội ác mà giặc Minh đã gây ra cho nhân dân Đại Việt suốt hai mươi năm đô hộ. Nguyễn Trãi đã sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao độ như trúc Nam Sơn không ghi hết tội hay nước Đông Hải không rửa sạch mùi để diễn tả mức độ tàn ác vô tận của kẻ thù. Sự bóc lột của chúng diễn ra trên mọi phương diện từ tàn sát sinh mạng người dân vô tội đến vơ vét sản vật quý hiếm của rừng vàng biển bạc. Chúng ép người xuống biển mò ngọc, bắt người vào rừng đãi cát tìm vàng và phá hoại môi trường sống cũng như nền sản xuất của người dân bản địa. Chính sự tàn bạo đó đã đẩy mâu thuẫn dân tộc lên đến đỉnh điểm và trở thành động lực thúc đẩy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ mạnh mẽ. Hình ảnh nghĩa quân Lam Sơn hiện lên như những người thực thi công lý thay trời hành đạo để trừng trị kẻ thủ ác. Các trận đánh được miêu tả dồn dập với khí thế long trời lở đất khiến quân giặc phải đền tội bằng máu và sự thất bại ê chề. Những kẻ cầm đầu tàn ác nhất đều phải nhận lấy cái kết bi thảm hoặc phải quỳ gối xin hàng để được toàn mạng trở về phương Bắc. Bài cáo kết thúc bằng sự khẳng định công lý đã được thực thi và trật tự xã hội đã được thiết lập lại trên nền tảng của lòng nhân ái. Đây là bản án đanh thép nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam dành cho quân xâm lược. Mẫu 7 Tác phẩm là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ngay từ đầu, tác giả đã khẳng định mục tiêu của cuộc chiến là vì dân và do dân, nhằm đem lại cuộc sống yên bình cho bách tính muôn nơi. Trong những ngày đầu gian khó tại núi Linh Sơn, chính sự đoàn kết một lòng từ tướng đến quân, từ cha đến con đã giúp nghĩa quân vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt nhất. Hình ảnh tướng sĩ một lòng phụ tử và nhân dân bốn cõi một nhà cho thấy quy mô và tính chất nhân dân sâu sắc của cuộc chiến tranh giải phóng này. Sức mạnh đoàn kết ấy đã được chuyển hóa thành sức mạnh quân sự khủng khiếp trên chiến trường khiến quân thù khiếp sợ và tan rã nhanh chóng. Tác giả miêu tả sự đồng lòng của quân dân ta đối lập hoàn toàn với sự chia rẽ, nghi kỵ và hoảng loạn trong hàng ngũ quân địch. Các chiến thắng liên tiếp từ vùng núi rừng đến đồng bằng đều là kết quả của sự hợp lực giữa mưu lược của bộ chỉ huy và lòng dũng cảm của binh lính. Chính sách khoan hồng đối với tù binh giặc ở phần kết cũng thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của một dân tộc ưa chuộng hòa bình và ghét chiến tranh. Bài cáo khép lại bằng lời tuyên bố về nền thái bình thịnh trị được xây dựng trên nền tảng của sự đồng thuận xã hội. Bình Ngô đại cáo xứng đáng là bài ca khải hoàn ca ngợi sức mạnh của lòng dân. Mẫu 8 Bình Ngô đại cáo không chỉ là văn kiện chính trị mà còn là một tổng kết xuất sắc về tư tưởng quân sự "lấy chí nhân để thay cường bạo" của Nguyễn Trãi và Lê Lợi. Tác phẩm bắt đầu bằng việc xác định kẻ thù và mục tiêu chiến đấu, sau đó đi sâu vào phân tích chiến lược dùng ít địch nhiều, dùng yếu chống mạnh. Trong giai đoạn đầu, nghĩa quân tập trung vào việc xây dựng lực lượng, thu phục lòng người và chờ đợi thời cơ chín muồi để phản công. Khi thời cơ đến, chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh kết hợp với nghi binh và mai phục đã được triển khai một cách tài tình tại các trận Tốt Động, Chúc Động. Điểm độc đáo nhất được nhấn mạnh trong bài cáo là nghệ thuật "tâm công" tức là đánh vào lòng người khiến địch tự tan rã mà không cần tốn nhiều xương máu. Tác giả miêu tả việc vây thành diệt viện khiến quân giặc rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan và buộc phải đầu hàng để bảo toàn tính mạng. Sự thất bại của các tướng giặc sừng sỏ như Liễu Thăng hay Mộc Thạnh là minh chứng cho sự ưu việt của tư duy quân sự Đại Việt so với tư duy sức mạnh thuần túy của phương Bắc. Việc cấp thuyền, ngựa cho giặc về nước không chỉ là hành động nhân đạo mà còn là một đòn tâm lý chiến lược nhằm dập tắt ý đồ xâm lược lâu dài. Tác phẩm kết thúc bằng viễn cảnh hòa bình lâu dài được bảo đảm bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Đây là bài học quân sự quý giá còn nguyên giá trị đến tận ngày nay. Mẫu 9 Tác phẩm đã tái hiện một cách sinh động và hào hùng bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống lại ách đô hộ của nhà Minh. Khởi đầu từ những nhận thức sâu sắc về chủ quyền và văn hóa, cuộc chiến đã lan tỏa từ nhận thức của giới lãnh đạo đến hành động của toàn thể nhân dân. Giai đoạn khó khăn nhất được miêu tả với hình ảnh nghĩa quân thiếu thốn lương thảo nhưng vẫn giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu quật cường. Sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân từ manh áo vải đến cờ đào đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn nhấn chìm quân thù trong biển lửa chiến tranh. Các trận đánh lớn được mô tả không chỉ là sự đụng độ giữa hai đội quân mà là sự trừng phạt của cả một dân tộc đối với kẻ xâm lược tàn bạo. Tác giả sử dụng bút pháp liệt kê và cường điệu để diễn tả khí thế áp đảo của quân ta và sự thảm bại ê chề của quân địch trên khắp các mặt trận. Mỗi địa danh được nhắc đến trong bài cáo đều gắn liền với những chiến công hiển hách và sự hy sinh dũng cảm của quân và dân ta. Chiến thắng cuối cùng là kết quả tất yếu của đường lối chiến tranh chính nghĩa, hợp lòng dân và thuận ý trời. Bài cáo kết thúc bằng lời tuyên bố hòa bình, khẳng định nền độc lập bền vững được xây đắp bằng xương máu và trí tuệ của cả dân tộc. Bình Ngô đại cáo là biên niên sử bằng văn chương ghi lại hào khí Đông A rực rỡ. Mẫu 10 Trong tác phẩm, chiến lược quân sự đỉnh cao "vây thành, diệt viện" được Nguyễn Trãi miêu tả như một nghệ thuật tuyệt luân dẫn đến thắng lợi quyết định. Sau khi nêu rõ lý do khởi nghĩa và tố cáo tội ác giặc, bài cáo tập trung vào diễn biến các chiến dịch quân sự mang tính bước ngoặt lịch sử. Tác giả chỉ rõ sai lầm của quân Minh là co cụm trong các thành lũy và chờ đợi viện binh từ phương Bắc sang cứu nguy. Nắm bắt được điểm yếu đó, nghĩa quân Lam Sơn đã chủ động cắt đứt đường tiếp tế và tổ chức phục kích tiêu diệt các đạo quân viện trợ ngay tại biên giới. Trận Chi Lăng và Xương Giang được miêu tả chi tiết như những đòn đánh tử huyệt khiến hệ thống phòng thủ của địch sụp đổ hoàn toàn. Hình ảnh quân giặc xác chất đầy đường, máu trôi đỏ nước là minh chứng cho sức hủy diệt khủng khiếp của chiến thuật phục kích và đón lõng của quân ta. Việc các tướng giặc như Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị bắt sống hoặc phải tự sát đã gây ra hiệu ứng domino khiến các thành trì còn lại phải nhanh chóng đầu hàng. Chiến thuật này không chỉ giúp giải phóng đất nước mà còn giảm thiểu thương vong cho nghĩa quân và dân chúng. Kết thúc bài cáo là niềm hân hoan của ngày chiến thắng và sự khẳng định tài năng quân sự kiệt xuất của bộ chỉ huy nghĩa quân. Tác phẩm là một giáo trình quân sự sống động được viết bằng ngôn ngữ văn chương bác học. Mẫu 11 Nguyễn Trãi đã dành một dung lượng lớn trong tác phẩm để khắc họa hình tượng kẻ thù từ lúc hung hăng xâm lược đến khi thảm bại nhục nhã. Ban đầu, chúng hiện lên như những kẻ giả danh nhân nghĩa, lợi dụng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" để che đậy dã tâm cướp nước đê hèn. Tội ác của chúng được miêu tả cụ thể qua các hành động vơ vét của cải, tàn sát dân lành và hủy hoại môi trường sống thiên nhiên. Tuy nhiên, khi đối mặt với sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn, hình ảnh của chúng dần chuyển từ hung bạo sang hoảng loạn, sợ hãi và hèn nhát. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh châm biếm sâu cay để miêu tả các tướng giặc như liều mình tìm đường chạy trốn, hay lê gối dâng tờ tạ tội. Sự thất bại của quân Minh không chỉ là thất bại về quân sự mà còn là sự sụp đổ về tinh thần và ý chí xâm lược trước sức mạnh chính nghĩa. Những cái tên như Lưu Thăng, Mộc Thạnh, Vương Thông trở thành những biểu tượng cho sự ngu xuẩn và tham lam phải trả giá đắt. Cách ứng xử nhân đạo của quân ta ở cuối bài càng làm nổi bật sự hèn kém và vị thế kẻ thua cuộc của quân giặc. Bài cáo khép lại với sự sạch bóng quân thù trên cõi bờ Đại Việt, trả lại sự bình yên vốn có cho non sông. Đó là bài học cảnh tỉnh sâu sắc cho mọi thế lực ngoại bang có dã tâm xâm phạm chủ quyền nước Nam. Mẫu 12 Bình Ngô đại cáo phản ánh chân thực quy luật vận động và phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng từ thế yếu chuyển sang thế mạnh. Phần đầu tác phẩm mô tả bối cảnh đen tối của đất nước dưới ách thống trị tàn bạo của giặc Minh và tình thế ngặt nghèo của nghĩa quân trong những ngày đầu khởi nghiệp. Tương quan lực lượng lúc này nghiêng hẳn về phía kẻ thù với binh hùng tướng mạnh, còn nghĩa quân thì thiếu thốn đủ bề từ nhân lực đến vật lực. Tuy nhiên, nhờ đường lối chiến tranh đúng đắn và sự ủng hộ của nhân dân, cán cân lực lượng dần dần thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Tác giả miêu tả quá trình lớn mạnh của nghĩa quân qua từng trận đánh, từ những thắng lợi nhỏ lẻ ban đầu đến những chiến dịch quy mô lớn mang tính hủy diệt. Càng đánh càng mạnh, nghĩa quân từ chỗ bị động phòng ngự đã chuyển sang chủ động tấn công và dồn ép kẻ thù vào thế bị động chống đỡ. Đỉnh điểm là giai đoạn cuối của cuộc chiến khi quân ta hoàn toàn làm chủ chiến trường, còn quân địch thì rơi vào tình trạng tuyệt vọng và tan rã. Sự thay đổi tương quan này là minh chứng cho chân lý "nhân nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo" mà tác giả đã đề ra từ đầu. Bài cáo kết thúc bằng sự khẳng định vị thế vững chắc của nhà nước Đại Việt độc lập tự chủ. Mẫu 13 Trung tâm của bài cáo là hình tượng người anh hùng áo vải Lê Lợi, người hội tụ đầy đủ phẩm chất của một bậc minh chủ kiệt xuất. Tác giả không miêu tả Lê Lợi như một vị thần thánh xa lạ mà khắc họa ông với những trăn trở, lo âu rất đời thường trước vận mệnh ngàn cân treo sợi tóc của dân tộc. Ông hiện lên là người có lòng căm thù giặc sâu sắc, nếm mật nằm gai, thức khuya dậy sớm để tìm ra con đường cứu nước cứu dân. Sự kiên trì và nhẫn nại của Lê Lợi trong những ngày tháng gian khổ ở núi Linh Sơn là tấm gương sáng về ý chí và nghị lực phi thường. Ông không chỉ giỏi về cầm quân mà còn giỏi về thu phục nhân tâm, biết trọng dụng nhân tài và lắng nghe ý kiến của tướng sĩ. Chiến lược "tâm công" và chính sách ngoại giao mềm dẻo ở cuối cuộc chiến đều xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa và tầm nhìn xa trông rộng của vị chủ tướng này. Chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mang đậm dấu ấn cá nhân của Lê Lợi nhưng cũng là chiến thắng của cả một tập thể dưới sự dẫn dắt tài tình của ông. Bài cáo kết thúc cũng là lúc hình tượng Lê Lợi được nâng lên tầm vóc của một vị vua sáng lập triều đại mới, mang lại thái bình cho muôn dân. Qua ngòi bút Nguyễn Trãi, Lê Lợi trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước Việt Nam. Mẫu 14 Nhân dân Đại Việt trong Bình Ngô đại cáo xuất hiện với hai tư cách: nạn nhân bi thương của chế độ đô hộ và người anh hùng làm nên lịch sử. Phần đầu tác phẩm, nhân dân hiện lên qua những hình ảnh đau lòng như "dân đen", "con đỏ" đang quằn quại dưới gót giày xâm lược của quân Minh tàn bạo. Họ bị bóc lột đến tận xương tủy, bị dồn vào con đường chết và phải chịu đựng những hình phạt man rợ chưa từng thấy. Tuy nhiên, chính nỗi đau thương đó đã hun đúc nên ngọn lửa căm thù và ý chí phản kháng mãnh liệt trong lòng mỗi người dân yêu nước. Khi ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn phất lên, họ đã nô nức tòng quân, đóng góp sức người sức của để cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung. Hình ảnh "manh lệ chi đồ" hay "nhân dân bốn cõi" đoàn kết một lòng cho thấy vai trò quyết định của quần chúng trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Chiến thắng lẫy lừng ở các trận Chi Lăng, Xương Giang chính là kết tinh của sức mạnh, trí tuệ và máu xương của hàng vạn người dân vô danh. Cuối cùng, khi đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân lại là người được thụ hưởng nền thái bình thịnh trị mà họ đã dày công vun đắp. Tác phẩm là bản hùng ca tôn vinh vai trò to lớn của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Mẫu 15 Bình Ngô đại cáo được bao trùm bởi một cảm hứng anh hùng ca mãnh liệt thể hiện qua giọng điệu hào sảng và hệ thống ngôn từ tráng lệ. Ngay từ những câu mở đầu, tác giả đã sử dụng giọng văn đĩnh đạc, trang nghiêm để khẳng định chân lý độc lập chủ quyền của dân tộc. Khi chuyển sang tố cáo tội ác kẻ thù, giọng văn trở nên uất nghẹn, căm phẫn và đầy xót xa cho số phận của đồng bào. Đến phần miêu tả cuộc khởi nghĩa, giọng điệu thay đổi linh hoạt, lúc trầm lắng suy tư khi kể về những ngày gian khó, lúc sôi nổi dồn dập khi tả lại khí thế xung trận. Những động từ mạnh và các hình ảnh phóng đại được sử dụng tối đa để tái hiện không khí chiến trận long trời lở đất và sức mạnh áp đảo của quân ta. Sự thất bại của kẻ thù được miêu tả bằng giọng điệu mỉa mai, khinh bỉ nhưng cũng đầy kiêu hãnh của người chiến thắng. Đoạn kết bài cáo vang lên như một khúc khải hoàn ca, trang trọng và thiêng liêng, báo hiệu một kỷ nguyên mới tươi sáng. Sự thay đổi linh hoạt của giọng điệu đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt và khả năng tác động mạnh mẽ vào tâm trí người đọc. Đây xứng đáng là một kiệt tác văn chương mẫu mực của thể loại cáo trong văn học trung đại. Mẫu 16 Ẩn sau những trang văn hào hùng của Bình Ngô đại cáo là một trái tim giàu lòng trắc ẩn và nỗi đau đáu khôn nguôi của Nguyễn Trãi trước thời cuộc. Ông đau nỗi đau của dân tộc khi phải chứng kiến cảnh đất nước bị giày xéo, nhân dân bị tàn sát dã man dưới bàn tay kẻ thù. Những câu văn tố cáo tội ác quân Minh không chỉ là những lời buộc tội khô khan mà còn thấm đẫm nước mắt và máu của người viết. Ông thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của người dân lao động khi bị ép xuống biển mò ngọc hay vào rừng săn hươu phục vụ lòng tham không đáy của quân giặc. Ngay cả khi miêu tả chiến thắng, lòng nhân đạo của tác giả vẫn hiện rõ qua việc tha chết cho tù binh để đức hiếu sinh được lan tỏa. Ông không hả hê trước cái chết của kẻ thù mà coi đó là cái giá phải trả tất yếu cho những kẻ làm điều phi nghĩa. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không phải là khẩu hiệu sáo rỗng mà xuất phát từ lòng yêu thương con người sâu sắc. Bài cáo khép lại bằng niềm mong mỏi về một xã hội an lạc, nơi người dân không còn phải chịu cảnh binh đao khói lửa. Đó là tâm nguyện cao cả của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Mẫu 17 Thiên nhiên trong Bình Ngô đại cáo không chỉ là bối cảnh chiến tranh mà còn là một lực lượng tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ chính nghĩa. Ngay từ đầu, các yếu tố như "trời", "đất", "núi", "sông" được viện dẫn để chứng minh cho tính hợp pháp và thiêng liêng của lãnh thổ Đại Việt. Trong quá trình chiến đấu, thiên nhiên hiểm trở của vùng núi Lam Sơn đã trở thành thành trì che chở và nuôi dưỡng nghĩa quân trong những ngày gian khó. Khi quân ta phản công, thiên nhiên dường như cũng nổi giận, hòa cùng khí thế của quân đội để nhấn chìm kẻ thù trong bão tố và sấm sét. Những hình ảnh như "sắc phong vân phải đổi", "ánh nhật nguyệt phải mờ" cho thấy tầm vóc vũ trụ của cuộc chiến tranh chính nghĩa này. Các địa danh sông núi cũng trở thành những chứng nhân lịch sử ghi dấu những chiến công hiển hách của quân và dân ta. Cuối cùng, thiên nhiên lại trở về với vẻ đẹp thanh bình vốn có khi đất nước sạch bóng quân thù, trời đất quang đãng, non sông tươi đẹp. Tác giả đã nhân hóa thiên nhiên để khẳng định rằng cuộc kháng chiến này hợp ý trời và thuận lòng người. Sự hòa hợp giữa con người và vũ trụ là nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Trãi. Mẫu 18 Bình Ngô đại cáo là đỉnh cao của nghệ thuật văn biền ngẫu với cấu trúc câu văn nhịp nhàng, cân đối và giàu tính nhạc. Tác giả sử dụng triệt để các cặp câu đối nhau về ý, về thanh và về từ loại để tạo nên sự hài hòa và sức thuyết phục cho lập luận. Sự đối lập giữa "nhân nghĩa" của ta và "hung tàn" của địch, giữa "yếu" và "mạnh", giữa "thắng" và "bại" được thể hiện rõ nét qua hình thức đối ngẫu này. Nhịp điệu của bài cáo thay đổi linh hoạt theo diễn biến của nội dung: khi chậm rãi khoan thai, khi dồn dập gấp gáp, khi hào hùng sảng khoái. Những câu văn dài ngắn đan xen nhau tạo nên âm hưởng hùng tráng như tiếng trống trận thúc giục lòng người ra trận. Các từ ngữ Hán Việt trang trọng được sử dụng đan xen với ngôn ngữ bình dân tạo nên sự phong phú và biểu cảm cho văn bản. Nghệ thuật sử dụng điển cố, điển tích cũng góp phần làm tăng tính hàm súc và chiều sâu văn hóa cho tác phẩm. Chính sự điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ và nhịp điệu đã biến bài cáo thành một bản giao hưởng ngôn từ bất hủ. Tác phẩm không chỉ thuyết phục người nghe bằng lý lẽ mà còn mê hoặc họ bằng vẻ đẹp của âm thanh và hình khối ngôn từ. Mẫu 19 Tác phẩm được xây dựng trên một kết cấu lập luận vô cùng chặt chẽ, logic và sắc bén như một tòa thành vững chãi không thể công phá. Mở đầu bằng tiền đề lý luận về nhân nghĩa và chủ quyền, tác giả thiết lập cơ sở pháp lý vững chắc cho toàn bộ bài cáo. Tiếp theo, ông sử dụng thực tiễn lịch sử để chứng minh cho sự vi phạm trắng trợn của kẻ thù đối với các nguyên tắc đã nêu. Phần thân bài là sự triển khai cụ thể quá trình đấu tranh để bảo vệ lý tưởng và khôi phục trật tự công lý đã bị đảo lộn. Các luận điểm, luận cứ được sắp xếp theo trình tự thời gian và quan hệ nhân quả rất khoa học, khiến người đọc không thể bác bỏ. Từ việc tố cáo tội ác đến việc khẳng định sức mạnh chính nghĩa, mọi chi tiết đều hỗ trợ và làm sáng tỏ cho chủ đề trung tâm của tác phẩm. Kết luận của bài cáo là sự tổng hợp và nâng cao của các vấn đề đã nêu, mở ra hướng đi mới cho tương lai đất nước. Không một câu chữ nào là thừa thãi, không một ý tưởng nào là rời rạc trong tổng thể kiến trúc văn bản này. Đây là mẫu mực của tư duy logic và nghệ thuật tranh biện trong văn học trung đại Việt Nam. Mẫu 20 Bình Ngô đại cáo là sự kết hợp nhuần nhuyễn và tinh tế giữa tư duy chính luận sắc sảo và cảm hứng trữ tình nồng nàn. Tính chính luận thể hiện ở hệ thống lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực và giọng điệu đanh thép khi khẳng định chủ quyền hay tố cáo kẻ thù. Tính trữ tình lại bộc lộ qua những cảm xúc chân thành, mãnh liệt của tác giả trước nỗi đau của dân tộc và niềm vui chiến thắng. Những đoạn văn miêu tả tâm trạng của Lê Lợi hay nỗi thống khổ của nhân dân đều thấm đẫm chất thơ và lòng trắc ẩn sâu xa. Sự hòa quyện này khiến cho bài cáo không bị khô khan như các văn kiện hành chính thông thường mà trở nên mềm mại, lay động lòng người. Cảm xúc làm nền tảng cho lý lẽ, còn lý lẽ lại làm điểm tựa để cảm xúc thăng hoa và có sức nặng. Chính sự giao thoa giữa lý trí và tình cảm đã tạo nên sức sống lâu bền và khả năng truyền cảm mạnh mẽ của tác phẩm qua nhiều thế kỷ. Nguyễn Trãi đã chứng minh rằng văn chính luận cũng có thể là những áng văn chương nghệ thuật tuyệt tác. Mẫu 21 Tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật mang tính sử thi để xây dựng nên những hình tượng kỳ vĩ, lớn lao mang tầm vóc vũ trụ. Hình tượng đất nước Đại Việt hiện lên không chỉ là một dải đất hẹp mà là một quốc gia có văn hiến, có lịch sử và vị thế sánh ngang với các cường quốc. Hình tượng người anh hùng Lê Lợi được khắc họa như một ngọn núi sừng sững giữa bão táp, là điểm tựa tinh thần vững chãi cho cả dân tộc. Hình tượng quân đội Lam Sơn được miêu tả với sức mạnh phi thường, có khả năng làm rung chuyển đất trời và thay đổi dòng chảy của các con sông. Đối lập với đó là hình tượng kẻ thù dù đông đảo nhưng lại trở nên nhỏ bé, thảm hại trước sức mạnh của chính nghĩa. Các hình ảnh thiên nhiên như sấm vang, chớp giật, trúc chẻ, tro bay được huy động tối đa để tô đậm vẻ hoành tráng của cuộc chiến. Thủ pháp cường điệu và phóng đại được sử dụng hợp lý nhằm tôn vinh tầm vóc vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Qua đó, tác phẩm đã vẽ nên một bức tranh lịch sử hoành tráng và đầy màu sắc bi tráng. Mẫu 22 Hệ thống ngôn ngữ trong Bình Ngô đại cáo dày đặc các biểu tượng văn hóa và điển cố lịch sử mang ý nghĩa sâu sắc. Những hình ảnh như "trúc Nam Sơn", "nước Đông Hải" không chỉ là sự vật cụ thể mà là biểu tượng cho sự vô cùng, vô tận của tội ác kẻ thù. Các điển tích về Câu Tiễn, Hán Cao Tổ được vận dụng khéo léo để so sánh và làm nổi bật phẩm chất kiên trì, nhẫn nại của chủ tướng Lê Lợi. Cách dùng từ Hán Việt cổ kính tạo nên không khí trang trọng, thiêng liêng phù hợp với tính chất của một văn kiện quốc gia đại sự. Bên cạnh đó, tác giả cũng sáng tạo những hình ảnh mới mẻ, giàu sức gợi cảm như "nhân dân bốn cõi một nhà", "tướng sĩ một lòng phụ tử". Việc sử dụng các địa danh cụ thể trong các trận đánh vừa đảm bảo tính xác thực lịch sử vừa tạo nên âm hưởng hào hùng cho bài văn. Ngôn ngữ của tác phẩm vừa bác học uyên thâm vừa gần gũi dễ hiểu, đạt đến độ chuẩn mực của tiếng Việt thời bấy giờ. Chính lớp ngôn ngữ đa tầng nghĩa này đã góp phần làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của thiên cổ hùng văn. Mẫu 23 Bình Ngô đại cáo có thể được xem là một bản báo cáo tổng kết toàn diện nhất về cuộc chiến tranh mười năm chống quân Minh xâm lược. Tác giả đi từ nguyên nhân bùng nổ chiến tranh, phân tích tính chất chính nghĩa của nó đến việc trình bày diễn biến chi tiết các chiến dịch. Tuy nhiên, đích đến cuối cùng của bản tổng kết này không phải là khoe khoang chiến công mà là hướng tới việc kiến tạo một nền hòa bình bền vững. Nguyễn Trãi nhấn mạnh rằng chiến tranh chỉ là phương tiện bắt buộc để loại bỏ bạo tàn, còn hòa bình mới là mục tiêu tối thượng của dân tộc. Tư tưởng "dập tắt chiến tranh muôn đời" thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của ông về giá trị của sự ổn định và phát triển. Việc thiết lập lại quan hệ bang giao bình thường với phương Bắc sau chiến tranh cũng là một bước đi chiến lược để bảo vệ nền hòa bình ấy. Tác phẩm kết thúc bằng niềm tin lạc quan vào vận hội mới của đất nước đang trên đà hưng thịnh. Đây là thông điệp hòa bình đầy tính nhân văn gửi đến muôn đời sau. Mẫu 24 " Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi thể hiện qua tác phẩm, "Thiên mệnh" (ý trời) và "Nhân tâm" (lòng người) có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời. Ông khẳng định rằng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi là do thuận theo ý trời và hợp với lòng người. Ý trời ở đây không phải là định mệnh thần bí mà chính là quy luật khách quan của lịch sử ủng hộ phe chính nghĩa. Lòng người là sự đồng thuận, ủng hộ của toàn thể nhân dân đối với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Khi lòng người đã thuận thì ý trời cũng sẽ theo, tạo nên sức mạnh tổng hợp vô địch có thể đánh bại mọi kẻ thù hung bạo nhất. Việc quân Minh thất bại cũng được giải thích là do chúng làm trái đạo trời và đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân. Sự hòa quyện giữa yếu tố tâm linh và yếu tố con người đã tạo nên chiều sâu triết lý cho tác phẩm. Bài cáo là lời khẳng định rằng chân lý thuộc về những ai biết tôn trọng quy luật tự nhiên và yêu thương con người. Mẫu 25 Bình Ngô đại cáo còn chứa đựng những bài học sâu sắc về nghệ thuật ngoại giao và ứng xử quốc tế của cha ông ta. Dù chiến thắng vẻ vang trên chiến trường, nhưng chúng ta vẫn giữ thái độ chừng mực, không kiêu căng, ngạo mạn chọc giận nước lớn. Hành động cấp thuyền, ngựa và lương thảo cho quân giặc rút về nước là một đòn ngoại giao tâm phục khẩu phục, vừa giữ thể diện cho địch vừa thể hiện thiện chí hòa bình của ta. Nguyễn Trãi hiểu rằng muốn giữ yên bờ cõi lâu dài thì phải biết "nhu" biết "cương" đúng lúc, tránh việc gây thù chuốc oán không cần thiết. Chính sách ngoại giao này xuất phát từ thế mạnh của người chiến thắng và sự tự tin vào văn hóa, sức mạnh của dân tộc mình. Tác phẩm cho thấy sự kết hợp tài tình giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để đạt được lợi ích quốc gia tối thượng. Đây là di sản quý báu về tư duy chiến lược trong quan hệ quốc tế mà các thế hệ sau cần kế thừa và phát huy. Mẫu 26 Nếu đặt Bình Ngô đại cáo bên cạnh "Nam quốc sơn hà" thời Lý và "Tuyên ngôn độc lập" năm 1945, ta thấy đây là mắt xích quan trọng trong dòng chảy tư tưởng độc lập dân tộc. So với "Nam quốc sơn hà" chủ yếu dựa vào "thiên thư" (sách trời), Bình Ngô đại cáo đã tiến một bước dài khi khẳng định chủ quyền dựa trên văn hiến, phong tục và lịch sử con người. Tác phẩm không chỉ tuyên bố độc lập mà còn đưa ra cương lĩnh xây dựng đất nước dựa trên tư tưởng nhân nghĩa và lấy dân làm gốc. Quy mô và tầm vóc của bài cáo cũng rộng lớn và toàn diện hơn, phản ánh sự trưởng thành vượt bậc của ý thức dân tộc Đại Việt thế kỷ XV. Nó là cầu nối chuyển tiếp tư tưởng yêu nước từ trung đại sang hiện đại, đặt nền móng cho những quan điểm tiến bộ về sau. Dù ra đời trong bối cảnh phong kiến, nhưng giá trị nhân bản và tinh thần dân chủ sơ khai của tác phẩm vẫn còn nguyên tính thời sự. Bình Ngô đại cáo xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai hùng tráng của dân tộc Việt Nam.
Mẫu 27 Bình Ngô đại cáo như là di sản tinh thần vĩ đại nhất mà Ức Trai Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế. Tác phẩm là sự kết tinh trọn vẹn tài năng, nhân cách và tư tưởng của một danh nhân văn hóa thế giới. Qua bài cáo, ta thấy được một tâm hồn lớn luôn đau đáu vì nước vì dân, một trí tuệ mẫn tiệp thấu hiểu lẽ hưng vong của lịch sử. Áng văn này không chỉ có giá trị trong thời điểm lịch sử đó mà còn trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nó nhắc nhở chúng ta về cái giá của độc lập tự do và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với vận mệnh quốc gia. Những tư tưởng về nhân nghĩa, khoan dung và hòa hiếu trong tác phẩm đã trở thành một phần cốt lõi trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Đọc lại Bình Ngô đại cáo là dịp để chúng ta tự hào về quá khứ hào hùng và thêm tin tưởng vào tương lai rạng rỡ của dân tộc. Tác phẩm mãi mãi là một tượng đài văn học sừng sững trường tồn cùng tuế nguyệt.
Bố cục Văn bản chia thành 4 phần: - Phần 1 (Từ đầu đến …chứng cớ còn ghi): Luận đề chính nghĩa (tiền đề lí luận). - Phần 2 (Tiếp đó đến …Ai bảo thần dân chịu được): Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu về tội ác của kẻ thù (soi chiếu lí luận vào thực tiễn). - Phần 3 (Tiếp đó đến …Cũng là chưa thấy xưa nay): Bản hùng ca về cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn. - Phần 4 (Còn lại): Lời tuyên bố độc lập. Nội dung chính Văn bản tuyên bố về việc chiến thắng quân Minh và khẳng định độc lập chủ quyền của đất nước Đại Việt.
|