Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Dục Thúy Sơn - CTST

Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Dục Thúy Sơn - CTST giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác.

Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Tóm tắt

Mẫu 1

Bài thơ là bức tranh sơn thủy nơi núi Dục Thúy đẹp tựa cảnh tiên rơi cõi tục, vừa thể hiện niềm say mê với thiên nhiên, vừa gợi nỗi lòng hoài cảm của Nguyễn Trãi khi nghĩ về Trương Hán Siêu – một nhà thơ có những bài kí gắn liền với núi Dục Thúy.

Mẫu 2

Bài thơ Dục Thúy Sơn của Ức Trai là một bức tranh thủy mặc ngôn từ trác tuyệt miêu tả vẻ đẹp kỳ vĩ của cửa biển nơi có ngọn núi Tiên trấn giữ. Tác giả mở đầu bằng việc khắc họa vị thế đắc địa của ngọn núi này khi nó đứng sừng sững ngay cửa biển giống như một đóa hoa sen thanh khiết nổi lên giữa mặt nước bao la. Bằng bút pháp miêu tả tinh tế, Nguyễn Trãi đã vận dụng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi hình để tái hiện dáng núi và bóng nước hòa quyện vào nhau tạo nên một không gian hư ảo và thoát tục. Hình ảnh ngọn tháp linh thiêng soi bóng xuống mặt nước trong xanh được ví von như một chiếc trâm ngọc bích cài lên mái tóc xanh mượt mà của bầu trời cao rộng. Ánh sáng của nước và dáng hình của núi phản chiếu lẫn nhau khiến người đọc khó phân biệt đâu là thực và đâu là ảo ảnh trong gương. Vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn dưới ngòi bút Nguyễn Trãi không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên đơn thuần mà còn mang dáng dấp của một công trình nghệ thuật được tạo hóa điêu khắc tỉ mỉ qua hàng ngàn năm. Thông qua việc miêu tả cảnh vật, nhà thơ gián tiếp bộc lộ tâm hồn nhạy cảm và tinh tế trước cái đẹp vĩnh cửu của giang sơn gấm vóc đất Việt. Sự tĩnh lặng của ngọn núi đối lập hoàn toàn với sự chuyển động không ngừng của dòng nước chảy trôi dưới chân núi tạo nên thế cân bằng động cho bức tranh. Từng câu chữ trong bài thơ đều được chắt lọc kỹ lưỡng nhằm tôn vinh sự hòa hợp tuyệt đối giữa đất trời và non nước tại vùng đất thiêng liêng này. Cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ ấy gợi lên trong lòng người lữ khách những rung động thẩm mỹ sâu sắc và niềm tự hào vô hạn về vẻ đẹp tráng lệ của quê hương. Kết cấu bài thơ đi từ tả cảnh bao quát đến chi tiết cụ thể rồi cuối cùng lắng đọng lại ở những suy tư sâu kín về con người và cuộc đời.

Mẫu 3

Tác phẩm Dục Thúy Sơn không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên mà còn là một bài thơ mang nặng nỗi niềm hoài cổ và suy tư sâu sắc về dòng chảy vô tận của lịch sử. Nguyễn Trãi khi đứng trước ngọn núi Dục Thúy đã không kìm nén được xúc cảm khi nhớ về những bậc tiền nhân từng đặt chân đến nơi đây, đặc biệt là Trương Hán Siêu. Ngọn núi vẫn đứng đó sừng sững và uy nghiêm qua bao thăng trầm của thời gian nhưng dấu vết của con người thì đã mờ phai theo năm tháng. Hình ảnh bia đá khắc thơ văn của người xưa giờ đây đã bị rêu phong phủ kín làm dấy lên trong lòng thi nhân nỗi buồn man mác về sự hữu hạn của kiếp người trước sự vô cùng của vũ trụ. Nhà thơ nhận ra rằng thiên nhiên là vĩnh cửu và bất biến trong khi đời người thì ngắn ngủi và mong manh như bóng câu qua cửa sổ. Sự đối lập gay gắt giữa cái trường tồn của non nước với cái hư ảo của kiếp nhân sinh đã tạo nên chiều sâu triết lý cho toàn bộ tác phẩm. Nguyễn Trãi nhìn ngọn núi không chỉ như một thắng cảnh du lịch mà còn như một chứng nhân lịch sử đã chứng kiến biết bao cuộc đổi thay của thế sự và vận mệnh quốc gia. Nỗi niềm nhớ tiếc người xưa được thể hiện qua những câu thơ trĩu nặng suy tư đã nâng tầm bài thơ lên thành một tác phẩm triết học về thời gian và ký ức. Cảm xúc của tác giả chuyển biến nhịp nhàng từ sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thiên nhiên sang sự chiêm nghiệm trầm lắng về quy luật thành trụ hoại diệt của vạn vật. Qua đó, người đọc thấy được một tâm hồn lớn luôn đau đáu với những giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc được gửi gắm qua từng vần thơ đường luật chuẩn mực. Bài thơ kết thúc bằng một nốt trầm xao xuyến khiến người đọc phải tự vấn về ý nghĩa của sự tồn tại và những giá trị tinh thần mà cha ông để lại.


Xem thêm

Mẫu 4

Xét về mặt nghệ thuật ngôn từ, bài thơ Dục Thúy Sơn là minh chứng xuất sắc cho tài năng sử dụng các biện pháp tu từ và xây dựng hình ảnh của Nguyễn Trãi trong văn học trung đại Việt Nam. Tác giả đã khéo léo sử dụng các hình ảnh so sánh độc đáo như đóa sen nổi trên mặt nước hay chiếc trâm ngọc xanh để cụ thể hóa vẻ đẹp trừu tượng của ngọn núi. Ngôn ngữ trong bài thơ vừa trang trọng cổ điển lại vừa giàu chất tạo hình giúp người đọc dễ dàng hình dung ra khung cảnh thực tế dù chưa từng đặt chân đến nơi đây. Nhịp điệu của bài thơ thay đổi linh hoạt theo sự vận động của cảm xúc từ hào hứng ngợi ca sang trầm lắng suy tư tạo nên một bản nhạc ngôn từ đầy sức lôi cuốn. Việc sử dụng các từ ngữ chỉ màu sắc như xanh hay ngọc bích đã góp phần tô đậm vẻ đẹp thanh khiết và rực rỡ của cảnh sắc Dục Thúy Sơn dưới ánh nắng mặt trời. Cấu trúc bài thơ được bố trí chặt chẽ với phần đầu tập trung miêu tả vẻ đẹp khách quan của thiên nhiên và phần sau đi sâu vào thế giới nội tâm chủ quan của chủ thể trữ tình. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tả và yếu tố gợi đã giúp tác giả vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vừa có hình khối vững chãi vừa có linh hồn sống động. Các biện pháp đối ngẫu được sử dụng triệt để nhằm làm nổi bật sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại cũng như giữa thiên nhiên và con người. Giọng điệu thơ trang nhã và uyên bác cho thấy tầm vóc văn hóa uyên thâm của Ức Trai tiên sinh trong việc kế thừa và phát huy tinh hoa văn học cổ điển. Mỗi từ ngữ được lựa chọn đều mang sức nặng của tư duy nghệ thuật và tình cảm sâu nặng mà nhà thơ dành cho từng tấc đất ngọn rau của tổ quốc. Đây thực sự là một kiệt tác nghệ thuật ngôn từ mẫu mực của thơ ca chữ Hán Việt Nam thế kỷ mười lăm.

Mẫu 5

Trong bài thơ Dục Thúy Sơn, Nguyễn Trãi hiện lên không phải với tư cách của một vị quan đại thần mà là một tao nhân mặc khách đang tìm kiếm sự thanh thản giữa thiên nhiên rộng lớn. Ngọn núi Dục Thúy đối với nhà thơ như một người bạn tri âm tri kỷ nơi ông có thể gửi gắm những tâm sự thầm kín không thể ngỏ cùng ai trong chốn quan trường đầy thị phi. Vẻ đẹp thoát tục của đóa sen đá nổi trên mặt nước đã giúp tâm hồn thi nhân được gột rửa sạch sẽ khỏi những bụi bặm trần ai và lo toan thường nhật. Ông đắm mình vào cảnh sắc non nước hữu tình để tìm lại sự cân bằng trong tâm hồn và nuôi dưỡng những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp nhất. Sự rung động của Nguyễn Trãi trước thiên nhiên cho thấy một khát vọng mãnh liệt được hòa nhập trọn vẹn vào vũ trụ bao la và vĩnh hằng. Hình ảnh chiếc gương nước khổng lồ soi chiếu vạn vật cũng chính là tấm gương soi chiếu tâm hồn trong sáng và nhân cách cao khiết của nhà thơ. Dù mang trong mình nỗi buồn hoài cổ sâu sắc nhưng bài thơ không hề bi lụy mà vẫn toát lên phong thái ung dung tự tại của một bậc hiền triết. Thiên nhiên trong mắt Nguyễn Trãi không phải là vật vô tri mà là một thực thể sống động có khả năng an ủi và vỗ về con người trong những khoảnh khắc cô đơn nhất. Việc tìm về với Dục Thúy Sơn cũng chính là hành trình tìm về với bản ngã chân thật của chính mình sau những tháng ngày mệt mỏi vì việc nước việc quân. Bài thơ là tiếng nói tâm tình của một con người yêu thiên nhiên tha thiết và luôn khao khát được sống trọn vẹn với những giá trị tinh thần thanh cao. Qua đó ta thấy được một góc khuất trong tâm hồn Nguyễn Trãi nơi chỉ có cái đẹp và sự tĩnh lặng ngự trị.

Mẫu 6

Dục Thúy Sơn qua lăng kính của Nguyễn Trãi đã trở thành một biểu tượng văn hóa thiêng liêng đại diện cho sự bền vững và trường tồn của non sông đất nước Việt Nam. Ngọn núi không chỉ là một danh thắng tự nhiên mà còn là nơi hội tụ linh khí của đất trời và lưu giữ những giá trị lịch sử vô giá của dân tộc qua nhiều triều đại. Hình ảnh ngọn núi đứng vững chãi giữa cửa biển gợi lên ý niệm về sự trấn giữ bình yên cho bờ cõi và khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của quốc gia. Những vần thơ của Nguyễn Trãi đã thổi hồn vào đá núi khiến cho Dục Thúy Sơn trở nên sống động và mang đậm cốt cách hào khí Đông A của cha ông thuở trước. Việc nhắc đến các bậc tiền nhân như Trương Hán Siêu chính là cách để nhà thơ khẳng định sự tiếp nối mạch nguồn văn hóa chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại. Bia đá có thể mòn nhưng những giá trị tinh thần mà các bậc hiền tài để lại sẽ mãi mãi in đậm trong tâm khảm của các thế hệ mai sau. Bài thơ là sự kết tinh giữa lòng yêu nước nồng nàn và niềm tự hào dân tộc sâu sắc được thể hiện qua những hình ảnh thơ kỳ vĩ và tráng lệ. Mỗi câu thơ như một viên gạch góp phần xây dựng nên tượng đài ngôn ngữ bất tử ca ngợi vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc Đại Việt. Nguyễn Trãi đã thành công trong việc biến một địa danh cụ thể thành một không gian nghệ thuật mang tính biểu tượng cao cả trong văn học trung đại. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ những di sản thiên nhiên và văn hóa mà cha ông đã dày công vun đắp. Dục Thúy Sơn vì thế không chỉ là thơ tả cảnh mà còn là bản tuyên ngôn nghệ thuật về tình yêu quê hương đất nước của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi.

Mẫu 7

Nguyễn Trãi đã vận dụng tài tình thi pháp so sánh mang đậm màu sắc Thiền học khi ví ngọn núi Dục Thúy như một đóa hoa sen thanh khiết nổi lên giữa mặt nước mênh mông. Hình ảnh đóa sen không chỉ đơn thuần tả thực dáng núi mà còn gợi lên ý niệm về sự giải thoát và thanh tịnh giữa cõi trần thế đầy bụi bặm và phiền trược. Ngọn núi đứng đó tách biệt hoàn toàn với sự ồn ào của thế tục tựa như một bậc chân tu đang thiền định giữa dòng đời vạn biến. Cách nhìn này cho thấy tâm hồn nhà thơ đã đạt đến độ tĩnh lặng tuyệt đối để có thể cảm nhận được cái hồn linh thiêng ẩn sâu bên trong cảnh vật thiên nhiên. Bông sen đá khổng lồ ấy dường như được tạo hóa sắp đặt một cách cố ý ngay tại cửa biển để trấn an sóng gió và mang lại bình yên cho vùng đất này. Sắc xanh của núi hòa cùng sắc xanh của nước tạo nên một không gian huyền ảo nơi ranh giới giữa thực và mộng trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Thông qua hình tượng đóa sen tác giả cũng ngầm khẳng định vẻ đẹp cao quý và không thể bị vấy bẩn của thiên nhiên đất nước dù trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Sự liên tưởng độc đáo này còn cho thấy vốn kiến thức uyên thâm của Ức Trai về biểu tượng văn hóa Phật giáo vốn gắn liền với đời sống tinh thần người Việt. Ngọn núi không còn là một khối đá vô tri giác mà đã hóa thân thành một thực thể sống động mang trong mình hơi thở của sự giác ngộ và an nhiên. Cảnh vật nơi đây dưới con mắt của thi nhân vừa hùng vĩ tráng lệ lại vừa mang vẻ đẹp dịu dàng thanh thoát hiếm có. Bài thơ vì thế giống như một bức tranh thủy mặc đượm chất thiền khiến người đọc cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa và thăng hoa.

Mẫu 8

Nếu như hình ảnh đóa sen gợi lên vẻ đẹp tôn nghiêm thì hình ảnh chiếc trâm ngọc biếc lại mang đến cho Dục Thúy Sơn một nét đẹp trữ tình và đầy chất thơ mộng. Nguyễn Trãi đã rất tinh tế khi ví dáng núi nhọn in trên nền trời xanh như một chiếc trâm ngọc cài lên mái tóc của người thiếu nữ khổng lồ là bầu trời. Phép ẩn dụ này đã nhân hóa thiên nhiên khiến cho vũ trụ trở nên có tình cảm và mang dáng dấp của con người với vẻ đẹp kiêu sa đài các. Màu xanh của núi được ví như ngọc bích không chỉ nhấn mạnh độ trong sáng quý giá mà còn gợi cảm giác mát lành dễ chịu cho thị giác người thưởng ngoạn. Sự tương phản giữa dáng núi cứng cỏi vươn cao và bầu trời mềm mại bao la tạo nên một sự hòa quyện tuyệt đối về đường nét và màu sắc trong bức tranh thơ. Hình ảnh chiếc trâm cài tóc còn gợi liên tưởng đến vẻ đẹp cổ điển và sang trọng thường thấy trong văn học cung đình xưa kia. Qua đó ta thấy được rung cảm thẩm mỹ tinh tế của Nguyễn Trãi trước những nét đẹp dù là nhỏ nhất của tạo hóa ban tặng cho non sông. Ngọn núi như một nét chấm phá duyên dáng làm cho khung cảnh cửa biển bớt đi vẻ hoang sơ lạnh lẽo mà trở nên gần gũi và ấm áp hơn. Bút pháp miêu tả của nhà thơ vừa có tính hiện thực chính xác lại vừa bay bổng lãng mạn giúp người đọc hình dung rõ nét vẻ đẹp độc đáo của Dục Thúy Sơn. Chiếc trâm ngọc ấy như một kỷ vật thiêng liêng mà trời đất đã trao gửi cho nơi này để gìn giữ vẻ đẹp ngàn năm văn hiến. Đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất và giàu sức gợi nhất trong toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi.

Mẫu 9

Không gian nghệ thuật trong bài thơ được mở rộng đa chiều nhờ vào hình ảnh mặt nước trong xanh phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ soi chiếu vạn vật. Nguyễn Trãi miêu tả bóng tháp in xuống mặt nước rõ nét đến mức khiến người ngắm cảnh ngỡ như chiếc tháp ấy rơi từ trên trời xuống lòng sông sâu thẳm. Sự phản chiếu này tạo ra một thế giới song trùng thú vị nơi có núi trên cao và núi dưới nước đối xứng nhau hoàn hảo qua trục mặt nước. Hình ảnh soi bóng không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp lung linh huyền ảo cho cảnh vật mà còn gợi lên những suy ngẫm triết lý về thực và ảo trong cuộc đời. Mặt nước đóng vai trò như một lăng kính nghệ thuật giúp nhân đôi vẻ đẹp của ngọn núi và mở ra chiều sâu thăm thẳm cho không gian bài thơ. Người đọc cảm nhận được sự tĩnh lặng tuyệt đối của cảnh vật vì chỉ khi mặt nước cực kỳ yên ả thì mới có thể phản chiếu hình ảnh sắc nét như vậy. Chi tiết này cũng cho thấy sự quan sát tỉ mỉ và nhạy bén của nhà thơ đối với các hiện tượng quang học trong tự nhiên để đưa vào thơ ca. Thế giới trong gương nước dường như còn đẹp và bí ẩn hơn cả thế giới thực tại khiến tâm hồn thi nhân lạc lối và say mê quên lối về. Bút pháp tả ảnh trong nước của Nguyễn Trãi đạt đến trình độ điêu luyện khi vừa tả được hình khối vừa tả được thần thái của sự vật. Qua đó tác giả muốn gửi gắm thông điệp rằng vẻ đẹp đích thực đôi khi không nằm ở bề nổi mà ẩn giấu trong chiều sâu của sự phản chiếu và chiêm nghiệm.

Mẫu 10

Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ bài thơ còn chứa đựng một nỗi niềm u hoài sâu sắc về sự tàn phá nghiệt ngã của thời gian đối với các dấu tích con người. Hình ảnh tấm bia khắc thơ của Trương Hán Siêu giờ đây đã lốm đốm rêu phong chính là minh chứng rõ ràng nhất cho quy luật thành trụ hoại diệt của vạn vật. Nguyễn Trãi khi nhìn thấy bia đá cũ kỹ đã không khỏi chạnh lòng xót xa cho những giá trị văn hóa huy hoàng một thời nay đang dần bị thiên nhiên xâm lấn và xóa nhòa. Sự đối lập giữa ngọn núi vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt và bia đá mỏng manh dễ vỡ càng làm nổi bật sự ngắn ngủi và hữu hạn của kiếp người. Nỗi buồn của nhà thơ không phải là sự bi quan chán nản mà là tiếng thở dài đầy trân trọng của một người tri thức trước những di sản của tiền nhân. Ông nhận ra rằng dù con người có tài hoa đến đâu thì cuối cùng cũng trở về với cát bụi chỉ có non sông là mãi mãi trường tồn thách thức thời gian. Chi tiết bia đá rêu phong còn gợi lên không khí cổ kính trầm mặc phù hợp với tâm trạng hoài cổ của tác giả khi đứng trước di tích lịch sử. Qua đó Nguyễn Trãi cũng gián tiếp ca ngợi nhân cách và tài năng của Trương Hán Siêu người đã để lại dấu ấn văn chương bất hủ tại nơi này. Bài thơ vì thế trở thành một cuộc đối thoại thầm lặng giữa hai tâm hồn lớn của hai thời đại khác nhau qua sự chứng kiến của ngọn núi thiêng. Cảm thức về thời gian trong bài thơ mang đậm màu sắc triết học phương Đông vừa sâu sắc vừa gợi nhiều dư ba trong lòng người đọc.

Mẫu 11

Nếu xét dưới góc độ địa lý quân sự bài thơ Dục Thúy Sơn còn là một bản ghi chép súc tích về vị trí chiến lược quan trọng của ngọn núi này đối với an ninh quốc gia. Nguyễn Trãi miêu tả ngọn núi nằm ngay cửa biển nơi các dòng sông hội tụ đổ ra biển lớn tạo thành một chốt chặn tự nhiên vô cùng hiểm yếu. Vị thế tiền tiêu này khiến Dục Thúy Sơn không chỉ là danh thắng để thưởng ngoạn mà còn là điểm tựa vững chắc để bảo vệ bờ cõi trước các thế lực ngoại xâm. Tác giả sử dụng những từ ngữ mạnh mẽ để miêu tả thế đứng uy nghi lẫm liệt của ngọn núi như một vị tướng quân đang canh giữ bình yên cho đất nước. Sự hùng vĩ của cảnh quan thiên nhiên ở đây gắn liền với ý thức chủ quyền lãnh thổ và niềm tự hào dân tộc mãnh liệt của người anh hùng Nguyễn Trãi. Ông nhìn ngọn núi với con mắt của một nhà quân sự đại tài người luôn lo toan cho vận mệnh của quốc gia dân tộc ngay cả khi đang thưởng ngoạn cảnh đẹp. Vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn vì thế mang đậm chất bi tráng và hào hùng khác hẳn với những ngọn núi ẩn dật thường thấy trong thơ ca quy ẩn. Bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương đất nước gắn liền với trách nhiệm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng mà cha ông để lại. Sự vững chãi của ngọn núi chính là biểu tượng cho sức mạnh tiềm tàng và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Mẫu 12

Một điểm đặc sắc trong cấu trúc bài thơ là sự di chuyển linh hoạt của điểm nhìn trần thuật từ xa đến gần và từ bao quát đến chi tiết cụ thể. Ban đầu tác giả quan sát ngọn núi từ phía xa khi con thuyền mới chớm đến cửa biển để thâu tóm toàn bộ dáng vẻ hùng vĩ của nó trong tầm mắt. Ở góc nhìn này ngọn núi hiện lên như đóa sen nổi bật giữa không gian rộng lớn của trời và nước mênh mông bát ngát. Sau đó điểm nhìn dần dần tiến lại gần hơn để chiêm ngưỡng những chi tiết tinh xảo như bóng tháp in nước hay màu sắc xanh biếc của đá núi và cây cỏ. Cuối cùng điểm nhìn dừng lại thật gần trước tấm bia đá rêu phong để tác giả có thể quan sát kỹ lưỡng dấu vết của thời gian và bộc lộ cảm xúc nội tâm. Sự thay đổi điểm nhìn này tạo nên một trình tự miêu tả logic và tự nhiên dẫn dắt người đọc cùng tham gia vào hành trình khám phá vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn. Nó cũng phản ánh sự vận động của tâm trạng nhà thơ từ niềm vui sướng ngỡ ngàng trước cảnh đẹp đến nỗi buồn man mác khi đối diện với quá khứ. Cách tổ chức điểm nhìn như vậy giúp bài thơ có chiều sâu không gian và thời gian đồng thời tạo nên sự kết nối chặt chẽ giữa cảnh vật và con người. Người đọc cảm giác như đang được cùng Nguyễn Trãi ngồi trên con thuyền nhỏ lướt nhẹ trên sông và ngước nhìn ngọn núi thiêng liêng ấy. Kỹ thuật trần thuật này chứng tỏ bút lực già dặn và khả năng làm chủ ngòi bút tuyệt vời của Ức Trai trong việc tái hiện hiện thực khách quan.

Mẫu 13

Bài thơ Dục Thúy Sơn là một kiệt tác về nghệ thuật phối sắc trong thơ ca cổ điển với tông màu chủ đạo là màu xanh của thiên nhiên tạo vật. Màu xanh của núi non hòa quyện với màu xanh của nước biếc và màu xanh của bầu trời tạo nên một không gian xanh ngắt vô tận và tràn đầy sức sống. Điểm xuyết trên nền xanh ấy là ánh sáng lấp lánh của mặt nước và vẻ rêu phong cổ kính của bia đá tạo nên những điểm nhấn thị giác ấn tượng. Nguyễn Trãi đã sử dụng các từ ngữ chỉ màu sắc một cách tinh tế để gợi tả độ đậm nhạt và sắc thái khác nhau của màu xanh trong từng cảnh vật cụ thể. Sắc xanh trong thơ ông không đơn điệu mà biến ảo khôn lường lúc thì trong trẻo như ngọc lúc thì thâm trầm như màu thời gian của đá núi. Sự hài hòa về màu sắc mang lại cảm giác thanh bình và dịu mát cho tâm hồn người đọc đồng thời tôn lên vẻ đẹp thanh cao thoát tục của cảnh trí nơi đây. Bức tranh màu sắc này còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự sống trường tồn và hy vọng bất diệt của con người vào tương lai tươi sáng của đất nước. Cách phối màu của Nguyễn Trãi mang đậm phong cách hội họa phương Đông chú trọng vào cái thần và sự hài hòa tổng thể hơn là những chi tiết vụn vặt. Cảnh vật hiện lên sống động và rực rỡ như được phủ lên một lớp men ngọc quý giá thách thức sự bào mòn của nắng mưa và tuế nguyệt. Qua đó ta thấy được tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ lớn Ức Trai.

Mẫu 14

Mặc dù được viết bằng chữ Hán theo thể thơ Đường luật chặt chẽ nhưng Dục Thúy Sơn vẫn mang đậm hồn cốt và bản sắc văn hóa Việt Nam. Nguyễn Trãi đã vận dụng nhuần nhuyễn các quy tắc niêm luật đối ngẫu của thơ Đường để tạo nên nhạc điệu trầm bổng du dương cho tác phẩm. Tuy nhiên ông không hề bị gò bó bởi khuôn mẫu sáo mòn mà đã có những sáng tạo độc đáo trong việc sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ để miêu tả cảnh sắc quê hương. Hình ảnh ngọn núi Dục Thúy hiện lên không giống bất kỳ ngọn núi nào trong thơ ca Trung Quốc mà mang những nét đặc trưng riêng biệt của vùng non nước Ninh Bình. Tác giả đã khéo léo lồng ghép những địa danh và nhân vật lịch sử cụ thể của Việt Nam vào trong thơ làm cho tác phẩm mang đậm hơi thở của thời đại và dân tộc. Sự kết hợp giữa thi pháp cổ điển phương Bắc và cảm thức thẩm mỹ của người phương Nam đã tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo mang tên Nguyễn Trãi. Bài thơ vừa có vẻ trang trọng uyên bác của văn học bác học lại vừa có sự gần gũi chân thực của cảm xúc cá nhân sâu lắng. Ông đã Việt hóa thể thơ ngoại nhập để biến nó thành công cụ đắc lực phục vụ cho việc ca ngợi vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc nước nhà. Điều này khẳng định bản lĩnh văn hóa và lòng tự tôn dân tộc của Nguyễn Trãi trong việc xây dựng nền văn học độc lập tự chủ. Dục Thúy Sơn xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng thơ ca chữ Hán của dân tộc Việt Nam.

Mẫu 15

Trong Dục Thúy Sơn cảnh và tình không tách rời nhau mà hòa quyện làm một tạo nên sự thống nhất trọn vẹn của tác phẩm nghệ thuật. Cảnh vật thiên nhiên được miêu tả qua lăng kính tâm trạng của chủ thể trữ tình nên mang đậm màu sắc cảm xúc và tư tưởng của nhà thơ. Ngược lại tình cảm của tác giả lại được gửi gắm kín đáo qua từng nét vẽ cảnh vật khiến cho thiên nhiên trở nên có hồn và biết nói tiếng nói của con người. Khi vui cảnh vật hiện lên rực rỡ tươi sáng với hoa sen và trâm ngọc nhưng khi buồn cảnh vật lại trầm mặc u tịch với bia đá và rêu phong. Sự chuyển biến của cảnh sắc bên ngoài đồng điệu hoàn toàn với những cung bậc cảm xúc bên trong tâm hồn thi nhân tạo nên sự cộng hưởng mạnh mẽ. Nguyễn Trãi không tả cảnh chỉ để tả cảnh mà tả cảnh để ngụ tình để giãi bày nỗi lòng mình trước thế sự và cuộc đời. Cảnh đẹp thiên nhiên vừa là nguồn cảm hứng thẩm mỹ vừa là nơi nương tựa tinh thần giúp nhà thơ tìm lại sự cân bằng sau những sóng gió của chốn quan trường. Mối quan hệ biện chứng giữa tình và cảnh là đặc trưng cơ bản của thơ ca trung đại và ở bài thơ này nó đã đạt đến trình độ mẫu mực. Người đọc không chỉ thấy được vẻ đẹp của Dục Thúy Sơn mà còn cảm nhận được nhịp đập của một trái tim lớn luôn rung động trước cái đẹp và đau đáu nỗi niềm non nước. Chính sự hòa quyện sâu sắc này đã làm nên sức sống lâu bền và giá trị nhân văn cao cả của bài thơ qua nhiều thế kỷ.

Mẫu 16

Bên cạnh hình ảnh và màu sắc yếu tố nhạc điệu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ Dục Thúy Sơn. Nhịp thơ thay đổi linh hoạt theo diễn biến của cảm xúc lúc thì khoan thai chậm rãi khi miêu tả vẻ đẹp tĩnh lặng của núi non lúc thì dồn dập gấp gáp khi bộc lộ nỗi niềm hoài cổ. Sự phối hợp bằng trắc nhịp nhàng trong từng câu thơ tạo nên những âm hưởng trầm bổng như tiếng nhạc du dương êm ái đi vào lòng người. Các từ ngữ có độ vang và độ ngân được tác giả lựa chọn kỹ lưỡng để mô phỏng âm thanh của sóng nước và tiếng gió thổi qua vách núi. Bài thơ khi đọc lên nghe như một khúc ca ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện trong một không gian nghệ thuật trang trọng. Nhịp điệu của bài thơ cũng chính là nhịp điệu của tâm hồn Nguyễn Trãi một tâm hồn luôn dao động giữa niềm vui thẩm mỹ và nỗi buồn nhân thế. Sự hài hòa về mặt âm thanh giúp cho việc truyền tải cảm xúc trở nên hiệu quả và sâu sắc hơn tác động trực tiếp vào thính giác và cảm giác của người đọc. Tính nhạc trong thơ Nguyễn Trãi không ồn ào phô trương mà thâm trầm sâu lắng như chính con người và phong cách sống của ông. Nó góp phần tạo nên vẻ đẹp cổ điển và sang trọng cho tác phẩm đồng thời giúp người đọc dễ dàng ghi nhớ và thuộc lòng những vần thơ tuyệt tác này. Dục Thúy Sơn thực sự là một bản hòa tấu ngôn từ tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người.

Mẫu 17

Dục Thúy Sơn không tồn tại độc lập mà là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các tác phẩm văn học viết về danh thắng này tạo nên tính liên văn bản sâu sắc. Khi viết bài thơ này Nguyễn Trãi đã đặt mình vào thế đối thoại tư tưởng với các bậc tiền nhân đi trước đặc biệt là Trương Hán Siêu người đã có những vần thơ bất hủ khắc trên vách đá. Tác phẩm là sự tiếp nối và hồi đáp của hậu thế đối với những trăn trở và suy tư mà người xưa gửi lại cho non sông đất nước. Qua việc nhắc đến bia khắc của Trương Hán Siêu tác giả đã thiết lập một cầu nối vô hình giữa quá khứ và hiện tại để cùng bàn luận về sự hưng thịnh và suy vong. Cuộc đối thoại này không diễn ra bằng lời nói trực tiếp mà thông qua sự đồng điệu của hai tâm hồn lớn trước cùng một cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ. Nguyễn Trãi không chỉ kế thừa cảm hứng của người đi trước mà còn mở rộng biên độ cảm xúc bằng những chiêm nghiệm riêng của thời đại mình đang sống. Nếu người xưa nhìn núi để vịnh cảnh thì Nguyễn Trãi nhìn núi để soi mình và ngẫm về thế thái nhân tình đầy biến động. Mối liên hệ văn bản này cho thấy dòng chảy văn hóa liên tục và không bao giờ đứt đoạn của dân tộc Việt Nam qua các triều đại phong kiến. Bài thơ chứng minh rằng văn chương có khả năng vượt qua rào cản của thời gian để kết nối những con người chưa từng gặp mặt nhưng có chung một tấm lòng yêu nước. Sự trân trọng của Nguyễn Trãi đối với di sản văn học quá khứ chính là nền tảng vững chắc để ông sáng tạo nên những giá trị mới mẻ và độc đáo.

Mẫu 18

Không gian nghệ thuật trong bài thơ được kiến tạo chủ yếu theo trục dọc nối liền từ đáy nước thẳm sâu lên đến tận bầu trời cao rộng. Hình ảnh ngọn núi vút lên như chiếc trâm ngọc và bóng tháp lộn ngược xuống dòng sông đã tạo nên một trục đối xứng hoàn hảo của vũ trụ. Sự vận động của điểm nhìn từ trên cao xuống dưới thấp và ngược lại giúp mở rộng kích thước của không gian đến mức tối đa và vô tận. Trục dọc này đóng vai trò như chiếc cột chống trời giữ cho sự cân bằng của cả bức tranh thủy mặc và tạo nên vẻ vững chãi uy nghiêm cho cảnh vật. Trong không gian chiều dọc ấy con người trở nên vô cùng nhỏ bé và khiêm nhường trước sự bao la hùng vĩ của tạo hóa thiên nhiên. Nguyễn Trãi đã khai thác triệt để chiều sâu của không gian để diễn tả chiều sâu của tư tưởng và cảm xúc đang trào dâng trong lòng. Sự phản chiếu giữa trời và nước qua trục dọc này khiến cho ranh giới của không gian bị xóa nhòa và vạn vật như hòa quyện vào nhau trong một thể thống nhất. Cấu trúc không gian này cũng gợi lên khát vọng vươn tới những giá trị cao cả và thanh khiết của tâm hồn thi nhân muốn thoát khỏi những ràng buộc trần tục. Bầu trời và mặt nước không chỉ là phông nền mà còn là hai cực của vũ trụ bao bọc lấy ngọn núi thiêng ở chính giữa. Chính sự sắp đặt không gian tài tình này đã mang lại cho bài thơ một vẻ đẹp kiến trúc hoành tráng và lộng lẫy hiếm thấy.

Mẫu 19

Một trong những chủ đề triết học cốt lõi của bài thơ là sự tương phản gay gắt giữa sự hữu hạn của đời người và sự vô cùng của thiên nhiên tạo vật. Nguyễn Trãi đã đặt hình ảnh con người nhỏ bé và những dấu tích văn hóa mong manh bên cạnh khối đá núi sừng sững tồn tại vĩnh hằng. Bia đá có thể bị rêu phong phủ mờ và nét chữ có thể bị thời gian bào mòn nhưng dáng hình của núi non thì muôn đời vẫn vậy. Sự đối lập này gợi lên trong lòng người đọc một nỗi thức tỉnh sâu sắc về giá trị của từng khoảnh khắc sống hiện tại trong dòng chảy vô tận của thời gian. Tác giả nhận thức rõ quy luật khắc nghiệt của tạo hóa nhưng không vì thế mà rơi vào bi lụy hay tuyệt vọng chán chường. Ngược lại chính sự hữu hạn của kiếp người lại càng làm tôn lên vẻ đẹp vĩnh cửu và tráng lệ của non sông đất nước mà ông đang chiêm ngưỡng. Cái vô cùng của thiên nhiên trở thành điểm tựa tinh thần để con người gửi gắm khát vọng bất tử hóa tên tuổi của mình qua các tác phẩm nghệ thuật. Bài thơ là tiếng nói dũng cảm của con người dám đối diện với sự thật về sự ngắn ngủi của kiếp nhân sinh để từ đó sống ý nghĩa hơn. Nguyễn Trãi đã biến nỗi buồn siêu hình thành động lực sáng tạo nghệ thuật để để lại cho đời một kiệt tác vượt thời gian. Sự căng thẳng giữa hai thái cực hữu hạn và vô cùng chính là đòn bẩy tạo nên sức nặng tư tưởng cho toàn bộ tác phẩm.

Mẫu 20

Hình ảnh ngọn tháp soi bóng xuống dòng nước là một chi tiết đắt giá thể hiện sự quan sát tinh tường và khả năng miêu tả bậc thầy của Nguyễn Trãi. Ông không tả ngọn tháp đang đứng trên núi mà tả cái bóng của nó lộn ngược trong nước tạo nên một ảo giác quang học đầy thú vị và bất ngờ. Hình ảnh này khiến người đọc liên tưởng đến sự đảo lộn của trật tự thế giới trong cái nhìn nghệ thuật đầy sáng tạo của nhà thơ. Bóng tháp dưới nước vừa thực lại vừa ảo gợi lên sự mong manh và hư huyễn của vạn vật khi nhìn qua lăng kính của sự phản chiếu. Chi tiết này cũng mang ý nghĩa biểu tượng về sự thâm nhập của yếu tố tâm linh vào chiều sâu của lòng đất và lòng người. Ngọn tháp như một cây bút khổng lồ đang viết lên trang giấy mặt nước những dòng thơ vô hình về vẻ đẹp của tạo hóa. Sự kết hợp giữa kiến trúc nhân tạo và gương nước tự nhiên đã tạo nên một cảnh tượng kỳ thú làm say lòng bao thế hệ độc giả. Nguyễn Trãi đã đóng băng khoảnh khắc ấy bằng ngôn từ để lưu giữ mãi mãi vẻ đẹp lung linh huyền ảo của Dục Thúy Sơn. Cách miêu tả gián tiếp này hiệu quả hơn nhiều so với việc miêu tả trực diện vì nó kích thích trí tưởng tượng phong phú của người thưởng ngoạn. Đây là minh chứng cho thấy tư duy nghệ thuật của Nguyễn Trãi đã vượt xa những quy ước thông thường của thơ ca trung đại.

Mẫu 21

Nước hay yếu tố Thủy đóng vai trò chủ đạo trong việc kiến tạo nên không khí và tinh thần của bài thơ Dục Thúy Sơn. Sự xuất hiện của nước không chỉ làm nền cho núi mà còn là dung môi hòa tan mọi ưu phiền và bụi bặm của trần thế. Dòng nước trong xanh bao quanh ngọn núi gợi lên cảm giác về sự thanh lọc và gột rửa tâm hồn đối với bất kỳ ai đặt chân đến nơi đây. Nước trong thơ Nguyễn Trãi mang đặc tính tĩnh lặng và sâu thẳm phản ánh trí tuệ và sự trầm tĩnh của bậc hiền triết. Hình ảnh đóa sen nổi trên mặt nước cũng nhấn mạnh sự liên kết mật thiết giữa yếu tố Thủy và vẻ đẹp tinh khiết không vướng bụi trần. Nước cũng là tấm gương trung thực nhất phản chiếu bộ mặt của lịch sử và những thăng trầm của thế sự qua bao thế kỷ. Sự chuyển động nhẹ nhàng của sóng nước tạo nên nhịp điệu êm đềm cho bài thơ xoa dịu những nỗi đau và mất mát trong quá khứ. Nguyễn Trãi đã nhìn thấy trong nước sức mạnh của sự mềm mại và khả năng bao dung vạn vật của mẹ thiên nhiên. Yếu tố Thủy làm cho bức tranh phong cảnh trở nên mềm mại uyển chuyển và tràn đầy sinh khí hơn là những khối đá khô khốc. Qua đó ta thấy được tâm hồn nhà thơ luôn hướng về sự trong sáng và khao khát được hòa mình vào dòng chảy bất tận của tự nhiên.

Mẫu 22

Ẩn sau những dòng thơ miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên là bóng dáng của một cái tôi trữ tình đầy cô đơn và trăn trở trước cuộc đời. Nguyễn Trãi đứng trước Dục Thúy Sơn không chỉ như một du khách thưởng ngoạn mà như một con người đang đối diện với chính bản ngã của mình. Sự cô đơn của ông không phải là sự lẻ loi bi lụy mà là sự cô độc kiêu hãnh của một nhân cách lớn không tìm thấy người tri âm trong thời cuộc nhiễu nhương. Ông tìm đến thiên nhiên như một người bạn tâm giao duy nhất có thể thấu hiểu và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín trong lòng. Cảm giác cô đơn này càng làm nổi bật tầm vóc vĩ đại và bản lĩnh kiên cường của nhà thơ trước những sóng gió của số phận. Giữa thiên nhiên rộng lớn con người càng cảm thấy mình nhỏ bé nhưng tư tưởng và tâm hồn của họ lại có thể bao trùm cả vũ trụ. Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Trãi là nỗi buồn mang tầm vóc sử thi gắn liền với vận mệnh của đất nước và nhân dân. Cái tôi ấy không lẩn tránh hiện thực mà đối diện với nó bằng một tâm thế bình tĩnh và ung dung tự tại. Bài thơ là lời tự bạch chân thành của một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm nhưng cũng đầy nghị lực và khát vọng cống hiến. Sự cô đơn đã được thăng hoa thành nghệ thuật để lại cho đời những vần thơ tuyệt tác rung động lòng người.

Mẫu 23

Nguyễn Trãi đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật tiên cảnh hóa để biến một địa danh thực tế trần tục thành một chốn bồng lai tiên cảnh thoát tục. Các hình ảnh như hoa sen, trâm ngọc hay bóng tháp đều là những vật liệu thẩm mỹ được dùng để tô điểm cho vẻ đẹp thần tiên của ngọn núi. Tác giả đã phủ lên cảnh vật một lớp sương khói huyền ảo khiến cho người đọc cảm thấy như đang lạc vào một thế giới khác xa lạ với cõi trần. Việc so sánh núi Dục Thúy với núi Tiên không chỉ là biện pháp tu từ mà còn thể hiện quan niệm thẩm mỹ của nhà thơ về cái đẹp lý tưởng. Thiên nhiên trong mắt ông phải đạt đến độ hoàn mỹ và thanh khiết tuyệt đối mới xứng đáng được ca ngợi bằng những ngôn từ trang trọng nhất. Thủ pháp này giúp nâng tầm giá trị của danh thắng quốc gia và khẳng định niềm tự hào về non sông gấm vóc đất Việt sánh ngang với bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên dù miêu tả theo hướng thoát tục nhưng cảnh vật vẫn giữ được những nét hồn cốt rất thực và rất Việt Nam. Sự kết hợp giữa bút pháp lãng mạn và cảm quan hiện thực đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho bài thơ. Nguyễn Trãi đã mượn cảnh tiên để nói tình người và gửi gắm ước mơ về một xã hội thanh bình thịnh trị. Bức tranh Dục Thúy Sơn vì thế vừa lung linh hư ảo lại vừa gần gũi thân thương.

Mẫu 24

Bài thơ là một cuộc suy ngẫm triết học sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi vô thường và sự tồn tại hằng thường trong vũ trụ. Những dấu tích của con người như bia đá hay công trình kiến trúc đều chịu sự chi phối của quy luật vô thường nên sẽ hư hoại và biến mất theo thời gian. Ngược lại thiên nhiên với đại diện là ngọn núi và dòng sông lại mang tính hằng thường tồn tại vĩnh cửu bất chấp mọi biến thiên của lịch sử. Nguyễn Trãi đã nhận diện rõ ràng hai mặt đối lập này để từ đó tìm ra thái độ ứng xử phù hợp của bậc quân tử trước cuộc đời. Ông không than khóc cho sự mất mát mà chấp nhận nó như một lẽ tất yếu của tạo hóa để trân trọng hơn những gì đang hiện hữu. Sự giác ngộ về lẽ vô thường giúp tâm hồn nhà thơ trở nên thanh thản và an nhiên hơn trước những được mất bại thành của kiếp người. Đồng thời ông cũng khẳng định rằng chỉ có những giá trị tinh thần cao đẹp như văn chương và đạo đức mới có khả năng chống lại sự tàn phá của thời gian. Bài thơ nhắc nhở chúng ta về sự khiêm tốn cần thiết khi đứng trước thiên nhiên hùng vĩ và lịch sử lâu đời của dân tộc. Triết lý này được chuyển tải một cách nhẹ nhàng nhưng thấm thía qua những hình ảnh thơ giàu sức gợi cảm và suy tưởng. Đó là chiều sâu trí tuệ làm nên tầm vóc văn hóa của Ức Trai tiên sinh.

Mẫu 25

Một thông điệp ngầm nhưng vô cùng mạnh mẽ trong Dục Thúy Sơn là sự khẳng định sức sống mãnh liệt và khả năng bất tử hóa của văn chương nghệ thuật. Bia đá có thể mòn nhưng những vần thơ mà Trương Hán Siêu và Nguyễn Trãi để lại sẽ còn mãi với non sông đất nước. Chính văn chương đã lưu giữ vẻ đẹp của ngọn núi và tâm hồn của người xưa để truyền lại cho các thế hệ mai sau cùng chiêm ngưỡng. Nguyễn Trãi ý thức rất rõ về sứ mệnh của người cầm bút trong việc gìn giữ ký ức lịch sử và bồi đắp tâm hồn cho dân tộc. Bài thơ của ông không chỉ tả cảnh mà còn là một tượng đài bằng ngôn ngữ được xây dựng để thách thức sự lãng quên của thời gian. Thông qua tác phẩm này ngọn núi Dục Thúy đã trở thành một địa chỉ văn hóa bất hủ trong tâm thức người Việt Nam. Sức mạnh của ngôn từ đã chiến thắng sức mạnh hủy diệt của vật chất để tôn vinh những giá trị tinh thần vĩnh cửu. Đây là niềm tin và cũng là niềm kiêu hãnh của những người nghệ sĩ chân chính trọn đời cống hiến cho cái đẹp và sự thật. Tác phẩm là minh chứng hùng hồn cho chân lý nghệ thuật nằm ngoài quy luật sinh tử của đời thường.

Mẫu 26

Dục Thúy Sơn như một sự kết tinh hoàn hảo của ba giá trị cốt lõi Chân Thiện và Mỹ. Cái Chân nằm ở sự miêu tả chân thực và chính xác vẻ đẹp địa lý và lịch sử của ngọn núi Dục Thúy ở vùng đất Ninh Bình. Cái Thiện thể hiện ở tấm lòng yêu nước thương dân và thái độ trân trọng di sản văn hóa tiền nhân của tác giả Nguyễn Trãi. Cái Mỹ tỏa sáng qua những hình ảnh thơ tráng lệ ngôn từ trau chuốt và nhạc điệu du dương của thể thơ Đường luật. Ba yếu tố này hòa quyện vào nhau tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật toàn bích không có chi tiết thừa hay khiếm khuyết. Bài thơ không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người đọc mà còn bồi dưỡng tâm hồn và nâng cao nhận thức về tình yêu quê hương đất nước. Sự tổng hòa này cho thấy tài năng toàn diện và nhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi một danh nhân văn hóa thế giới. Dục Thúy Sơn xứng đáng được coi là một trong những bài thơ hay nhất viết về thiên nhiên trong lịch sử văn học Việt Nam. Tác phẩm mãi mãi là một viên ngọc quý tỏa sáng lấp lánh trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc.

Bố cục

Bài thơ chia thành 2 phần: 

- 6 câu thơ đầu: Khung cảnh núi Hương sơn

- 2 câu cuối: Cảm hoài của Nguyễn Trãi

Nội dung chính

Bài thơ miêu tả vẻ đẹp của núi Dục Thúy. Từ đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và nhớ công đức người xưa của tác giả Nguyễn Trãi.

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

close