Viết bài văn Hiện nay xu hướng hội nhập toàn cầu phát triển rất mạnh Hãy viết bài văn nghị luận, nêu ý kiến của mình về việc: Học sinh với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý chi tiết

A. Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề: từ thực tế đời sống hoặc một trích dẫn, câu danh ngôn, …

- Nêu vấn đề nghị luận: Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

B. Thân bài

a. Giải thích

- Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa": Là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và từ vựng phong phú vốn có của dân tộc; tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài một cách có chọn lọc chứ không đồng nghĩa với việc để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc.

- Trách nhiệm của học sinh: Là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động của những người còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật.

b. Bàn luận

* Tại sao học sinh phải có trách nhiệm chủ động giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt trước xu hướng "ngoại hóa"?

- Thực trạng:

+ Hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung  vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng.

+ Tình trạng sính ngoại trong cách đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, dù hoàn cảnh giao tiếp hoàn toàn là người Việt.

+ Học sinh học lệch, đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản.

- Nguyên nhân:

+ Tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc.

+ Sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài (phim ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử) kết hợp với thuật toán của các nền tảng mạng xã hội khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ.

+ Cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

- Tác động: Nếu học sinh– coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa.

* Giải pháp:

- Về nhận thức: Học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế.

- Về thái độ: Xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa; hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ, văn học nước nhà.

- Về hành động cụ thể:

+ Nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta.

+ Chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài khi thảo luận, thuyết trình nếu tiếng Việt có từ tương đương để làm giàu thêm cách diễn đạt.

+ Tích cực tham gia hoặc tổ chức các hoạt động tôn vinh tiếng Việt tại trường học (như câu lạc bộ tranh biện bằng tiếng Việt, ngày hội viết chữ đẹp, viết bài chia sẻ về ca dao, tục ngữ).

* Dẫn chứng thực tế (gợi ý)

- Dự án học đường "Vẽ lại tranh dân gian và dịch nghĩa thơ Nôm" của một nhóm học sinh trường THPT chuyên tại Hà Nội, vừa bảo tồn ngôn ngữ cổ, vừa dùng tiếng Việt chuẩn mực để diễn giải cho thế hệ trẻ.

- Cuộc thi tranh biện tiếng Việt "Trường Teen" trên kênh VTV7 – nơi học sinh phổ thông khẳng định tư duy logic và khả năng sử dụng tiếng Việt sắc bén, giàu biểu cảm để giải quyết các vấn đề xã hội mà không cần lạm dụng từ mượn nước ngoài.

- Hoạt động của câu lạc bộ "Đại sứ tiếng Việt" tại các trường THPT, nơi học sinh chủ động sửa lỗi chính tả phổ biến và dịch các thuật ngữ công nghệ mới sang tiếng Việt một cách dễ hiểu nhất.

c. Phản đề

- Phê phán những học sinh có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ.

- Đồng thời, cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. 

d. Bài học và liên hệ bản thân

- Bài học: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày.

- Liên hệ bản thân: Là một học sinh, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ; chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

C. Kết bài

- Khẳng định lại vấn đề: Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài siêu ngắn

Nhà văn Alphonse Daudet từng khẳng định: "Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa mở cửa chốn lao tù". Lời nói ấy nhắc nhở ta về giá trị của ngôn ngữ. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế ngày nay khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Sự trong sáng này là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và từ vựng; tiếp thu tinh hoa nước ngoài có chọn lọc chứ không để bị đồng hóa, lai căng. Trách nhiệm của học sinh là ý thức học tập nghiêm túc, chủ động bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ từ học đường đến đời sống.

Thực tế hiện nay, nhiều học sinh đang lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn vào lời nói vô tội vạ. Tình trạng sính ngoại còn thể hiện ở việc đặt tên câu lạc bộ, dự án trường học hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài dù đối tượng giao tiếp là người Việt. Nhiều bạn đầu tư lớn cho chứng chỉ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Văn, viết sai chính tả căn bản. Nguyên nhân do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân và sự bao vây của các sản phẩm giải trí ngoại quốc. Nếu tiếp tục thờ ơ, tiếng Việt sẽ bị biến dạng, làm lung lay bản sắc và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc.

Để khắc phục, học sinh cần hiểu giỏi ngoại ngữ là để ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định bản sắc. Chúng ta phải xóa bỏ tâm lý sính ngoại, tuân thủ đúng chính tả khi nói, viết và tích cực tham gia các ngày hội ngôn ngữ trường học. Cuộc thi tranh biện "Trường Teen" trên VTV7 là minh chứng khi học sinh dùng tiếng Việt sắc bén để giải quyết vấn đề mà không lạm dụng từ mượn. 

Tuy nhiên, cần phê phán tư duy coi thường tiếng mẹ đẻ, nhưng cũng không nên bài trừ từ mượn một cách cứng nhắc. Giữ gìn tiếng Việt là hành trình bền bỉ từ thói quen nhỏ nhất. Là học sinh, em sẽ đọc thêm sách văn học để trau dồi vốn từ và luôn nói viết chuẩn mực.

Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài tham khảo Bài 1

Nhà văn Alphonse Daudet trong truyện ngắn "Buổi học cuối cùng" đã viết một câu nói vô cùng thấm thía về sức mạnh của bản sắc dân tộc: "Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa mở cửa chốn lao tù". Lời khẳng định ấy từ thế kỷ trước vẫn vẹn nguyên giá trị, như một hồi chuông cảnh tỉnh về vai trò của ngôn ngữ đối với sự sinh tồn của một quốc gia. Trong thời đại ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến không ít thách thức lớn. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Để thực hiện tốt sứ mệnh đó, trước hết chúng ta cần hiểu rõ bản chất của vấn đề này. Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa" là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và một kho tàng từ vựng phong phú vốn có của dân tộc. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài một cách có chọn lọc chứ không phải để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay bị lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc. Gắn liền với nhiệm vụ này, trách nhiệm của học sinh được hiểu là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động của những người còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật. Việc định nghĩa rõ ràng như vậy sẽ giúp mỗi bạn trẻ xác định được những hành vi đúng đắn của mình trong thực tế giao tiếp.

Sự cần thiết của trách nhiệm này xuất phát trực tiếp từ những chuyển biến phức tạp trong đời sống học đường ngày nay. Phân tích sâu vào thực trạng, chúng ta dễ dàng nhận thấy hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng. Nhiều bạn học sinh vô tư nói những câu nửa Tây nửa Ta trong các cuộc trò chuyện bình thường, làm cho câu nói trở nên lủng củng và mất đi sự nhã nhặn vốn có. Thêm vào đó, tình trạng sính ngoại còn thể hiện rõ trong cách đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, dù hoàn cảnh giao tiếp và đối tượng hướng đến hoàn toàn là người Việt. Đáng buồn hơn cả, một bộ phận học sinh hiện nay đang học lệch, đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, dẫn đến việc viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản một cách hệ thống.

Đi tìm nguyên nhân của hiện tượng lệch chuẩn kể trên, ta có thể thấy nó bắt nguồn từ những yếu tố chủ quan của lứa tuổi học sinh lẫn những tác động khách quan của thời đại công nghệ. Trước hết, đó là do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc. Các em thường nghĩ rằng việc dùng từ nước ngoài sẽ khiến mình trông hiểu biết và cá tính hơn. Tiếp theo, sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài từ phim ảnh, âm nhạc đến trò chơi điện tử kết hợp với thuật toán lan truyền của các nền tảng mạng xã hội lớn khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ. Bên cạnh đó, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

Nếu thực trạng này không được ngăn chặn và học sinh cứ tiếp tục coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, những tác động tiêu cực đối với tương lai sẽ vô cùng sâu sắc. Tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa cùng tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa mãnh liệt.

Chính vì vậy, việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp đồng bộ là điều không thể chậm trễ. Về nhận thức, học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế. Về thái độ, thế hệ trẻ phải xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa, từ đó hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ, văn học nước nhà. Từ nhận thức đúng đắn đó, các hành động cụ thể cần được triển khai một cách tự giác. Học sinh cần nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, khi giao tiếp với thầy cô, bạn bè, đồng thời hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta. Khi thảo luận hay thuyết trình, chúng ta cần chủ động chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài nếu tiếng Việt có từ tương đương để làm giàu thêm cách diễn đạt. Việc tích cực tham gia hoặc tổ chức các hoạt động tôn vinh tiếng Việt tại trường học cũng là cách làm thiết thực.

Để chứng minh cho tinh thần chủ động này, chúng ta có thể nhìn vào sự thành công của cuộc thi tranh biện tiếng Việt "Trường Teen" trên kênh VTV7. Đây là một sân chơi trí tuệ lớn, nơi học sinh phổ thông trên khắp cả nước khẳng định tư duy logic và khả năng sử dụng tiếng Việt sắc bén, giàu biểu cảm để giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp mà không cần lạm dụng từ mượn nước ngoài. Cuộc thi đã tạo ra một hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, truyền cảm hứng cho hàng triệu học sinh về việc dùng tiếng mẹ đẻ một cách chuẩn mực và đầy thuyết phục.

Tuy nhiên, nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều, chúng ta cần phê phán những học sinh có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ. Tư duy này phản ánh một sự nông nổi và thiếu hiểu biết về cội nguồn. Song song đó, chúng ta cũng cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. Tiếng Việt từ xưa đến nay luôn có sự vận động và phát triển, việc tiếp thu các thuật ngữ khoa học, công nghệ mới của thế giới là cần thiết, nhưng quá trình đó phải diễn ra trên cơ sở tôn trọng và hòa hợp với quy luật ngôn ngữ dân tộc chứ không được để bị đồng hóa.

Từ những phân tích trên, bài học sâu sắc rút ra là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày. Là một học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ, chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

Lòng tự hào dân tộc không phải là điều gì đó quá xa xôi mà nó được biểu hiện ngay trong cách chúng ta nâng niu từng lời ăn tiếng nói hằng ngày. Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài tham khảo Bài 2

Trong đời sống tinh thần của mỗi quốc gia, ngôn ngữ luôn được ví như một tấm gương phản chiếu chân thực nhất chiều sâu văn hóa và tâm hồn của dân tộc đó. Thế nhưng, bước vào kỷ nguyên số với xu hướng hội nhập sâu rộng, một thực tế đáng suy ngẫm đang diễn ra khi nhiều bạn trẻ có thể viết rất đúng ngữ pháp một chứng chỉ quốc tế nhưng lại lúng túng và viết sai chính tả tiếng mẹ đẻ. Thực trạng này đặt ra những câu hỏi lớn về trách nhiệm của thế hệ tương lai đối với tiếng nói nước nhà. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Để có những hành động đúng đắn, trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm cốt lõi. Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa" được hiểu là việc duy trì các chuẩn mực về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và hệ thống từ vựng giàu giá trị biểu cảm của dân tộc. Quá trình này đòi hỏi chúng ta tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài một cách có chọn lọc chứ không đồng nghĩa với việc để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc. Từ góc độ đó, trách nhiệm của học sinh chính là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động của những người còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật.

Khi quan sát thực tế cuộc sống hiện nay, chúng ta thấy xuất hiện nhiều biểu hiện đáng lo ngại trong cách sử dụng từ ngữ của giới trẻ. Biểu hiện rõ nhất là hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng, làm mất đi sự trong trẻo vốn có của lời nói. Không chỉ trong giao tiếp nói, tình trạng sính ngoại còn thể hiện ở việc đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, ngay cả khi hoàn cảnh giao tiếp hoàn toàn là người Việt với nhau. Đáng báo động hơn, một bộ phận lớn học sinh đang học lệch, đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, dẫn đến việc viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản.

Nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng lệch chuẩn này đến từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi lẫn môi trường giáo dục. Trước hết là do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc. Các bạn trẻ thường có xu hướng chạy theo những gì mới lạ để chứng tỏ cái tôi của mình. Thêm vào đó, sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài từ phim ảnh, âm nhạc cho đến trò chơi điện tử kết hợp với thuật toán của các nền tảng mạng xã hội khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ. Mặt khác, cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

Nếu chúng ta không kịp thời nhận thức và thay đổi, tác động của xu hướng này đối với tương lai văn hóa nước nhà sẽ vô cùng nặng nề. Nếu học sinh coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa.

Để ngăn chặn nguy cơ đó, việc triển khai các giải pháp thiết thực từ nhận thức đến hành động là vô cùng cần thiết. Về nhận thức, học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế. Về thái độ, chúng ta phải xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa, hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ và văn học nước nhà. Về hành động cụ thể, học sinh cần nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta. Trong các buổi làm việc nhóm, học sinh nên chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài khi thảo luận, thuyết trình nếu tiếng Việt có từ tương đương. Ngoài ra, việc tích cực tham gia hoặc tổ chức các hoạt động tôn vinh tiếng Việt tại trường học cũng mang lại giá trị rất lớn.

Một ví dụ tiêu biểu cho tinh thần giữ gìn tiếng Việt bằng những hành động cụ thể chính là hoạt động của câu lạc bộ "Đại sứ tiếng Việt" tại một số trường trung học phổ thông hiện nay. Tại đây, chính các bạn học sinh đã chủ động lập ra những chuyên mục nhỏ để sửa lỗi chính tả phổ biến cho bạn bè, đồng thời tìm tòi và dịch các thuật ngữ công nghệ mới sang tiếng Việt một cách dễ hiểu nhất. Những hoạt động ý nghĩa này đã giúp môi trường học đường trở nên văn minh hơn, khơi dậy tình yêu ngôn ngữ dân tộc từ những điều giản dị.

Mặc dù cần khuyến khích học sinh chủ động hội nhập, chúng ta vẫn cần thẳng thắn phê phán những cá nhân có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ. Lối suy nghĩ sính ngoại một cách mù quáng này rất đáng lên án. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. Việc thu nhận những từ ngữ mới của thế giới một cách khoa học sẽ giúp tiếng Việt ngày càng phong phú, miễn là không làm mất đi bản sắc cấu trúc của tiếng mẹ đẻ.

Sự phát triển bền vững của một quốc gia luôn đi liền với việc bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần cốt lõi. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày. Là một học sinh, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ, chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

Nhà ngôn ngữ học Wilhelm von Humboldt từng khẳng định ngôn ngữ của một dân tộc chính là tinh thần của dân tộc đó. Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài tham khảo Bài 3

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng có một nhận định sâu sắc về ngôn ngữ nước nhà: "Tiếng Việt của chúng ta rất giàu, tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi khả năng diễn đạt mọi tình cảm, tư tưởng của con người. Đẹp bởi hệ thống thanh điệu phong phú như một thứ âm nhạc tinh tế". Lời ngợi ca ấy chứa đựng niềm tự hào to lớn nhưng cũng đồng thời đặt ra cho thế hệ trẻ hôm nay trách nhiệm nặng nề trước những biến động của thời đại mới. Trong bối cảnh giao lưu quốc tế sâu rộng, ngôn ngữ của chúng ta đang phải đối mặt với xu hướng lai căng đầy thử thách. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Để gánh vác được trách nhiệm thiêng liêng đó, việc hiểu rõ các khái niệm căn bản là bước đi đầu tiên. Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa" được hiểu là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và từ vựng phong phú vốn có của dân tộc. Điều này đòi hỏi quá trình tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài phải diễn ra một cách có chọn lọc chứ không đồng nghĩa với việc để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc. Bên cạnh đó, trách nhiệm của học sinh là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động của những người còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật.

Khi nhìn thẳng vào thực tế đời sống học đường, chúng ta không khó để nhận ra những biểu hiện lệch chuẩn đang diễn ra hằng ngày. Hiện trạng đầu tiên là hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng, làm nghèo nàn đi khả năng diễn đạt vốn có của tiếng Việt. Thêm vào đó là tình trạng sính ngoại trong cách đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, dù hoàn cảnh giao tiếp hoàn toàn là người Việt với nhau. Nghiêm trọng hơn, rất nhiều học sinh đang học lệch khi đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, dẫn đến việc viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản.

Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn này bắt nguồn từ cả tâm lý chủ quan lẫn các yếu tố khách quan từ môi trường sống. Về mặt chủ quan, đó là do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc. Các em thường nhầm tưởng rằng việc sử dụng từ ngữ nước ngoài sẽ làm tăng giá trị cho bản thân. Về mặt khách quan, sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài từ phim ảnh, âm nhạc cho đến trò chơi điện tử kết hợp với thuật toán của các nền tảng mạng xã hội khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ. Ngoài ra, cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

Hậu quả của sự thờ ơ này đối với thế hệ trẻ và văn hóa dân tộc là không thể coi nhẹ. Nếu học sinh coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa.

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, việc đề ra các giải pháp đồng bộ và khả thi là điều vô cùng cấp bách. Về nhận thức, học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế. Về thái độ, chúng ta cần xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa, hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ, văn học nước nhà. Về hành động cụ thể, học sinh cần nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta. Khi làm bài tập nhóm hay thuyết trình, học sinh nên chủ động chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài nếu tiếng Việt có từ tương đương để làm giàu thêm cách diễn đạt. Đồng thời, việc tích cực tham gia hoặc tổ chức các hoạt động tôn vinh tiếng Việt tại trường học cũng cần được khuyến khích.

Chúng ta có thể thấy một minh chứng rõ nét cho tinh thần sáng tạo này qua dự án học đường "Vẽ lại tranh dân gian và dịch nghĩa thơ Nôm" của một nhóm học sinh trường trung học phổ thông chuyên tại Hà Nội. Các bạn trẻ này đã không chỉ bảo tồn ngôn ngữ cổ của cha ông mà còn dùng tiếng Việt chuẩn mực, giàu chất thơ để diễn giải ý nghĩa cho thế hệ học sinh ngày nay, giúp những giá trị xưa cũ trở nên sống động và gần gũi hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, bên cạnh việc biểu dương những hành động tích cực, chúng ta cần thẳng thắn phê phán những học sinh có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ. Đây là biểu hiện của lối sống mất gốc, quay lưng với văn hóa cội nguồn. Song, cũng cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. Việc dung hợp các thuật ngữ thế giới một cách thông minh, đúng quy tắc sẽ giúp tiếng Việt ngày càng phát triển, đáp ứng được những yêu cầu phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại.

Mỗi lời nói, mỗi dòng chữ chúng ta viết ra hằng ngày đều góp phần định hình diện mạo ngôn ngữ của quốc gia. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày. Là một học sinh, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ, chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

Ngôn ngữ chính là linh hồn của non sông, là sợi dây kết nối các thế hệ người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử. Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài tham khảo Bài 4

Từ ngàn đời xưa, cha ông ta đã đúc kết bài học về sự lịch sự, tế nhị trong giao tiếp qua câu ca dao quen thuộc: "Người thanh tiếng nói cũng thanh / Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu". Tiếng nói không chỉ là công cụ truyền đạt thông tin mà còn là thước đo văn hóa, tư cách của mỗi con người. Thế nhưng, trong dòng chảy mãnh liệt của xu hướng hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay, nét thanh lịch ấy đang phải đối mặt với nguy cơ bị biến dạng bởi lối ứng xử ngôn từ lai căng của một bộ phận giới trẻ. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Để định hướng đúng đắn cho mọi hành động, việc làm rõ nội hàm khái niệm là điều vô cùng cần thiết. Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa" là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và từ vựng phong vũ vốn có của dân tộc. Điều đó đồng nghĩa với việc tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài một cách có chọn lọc chứ không có nghĩa là để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc. Đối với lứa tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường, trách nhiệm của học sinh là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật.

Khi nhìn nhận thẳng thắn vào thực tế cuộc sống, chúng ta thấy xuất hiện nhiều biểu hiện đáng lo ngại trong cách giao tiếp hằng ngày của học sinh. Trước hết là hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng, làm mất đi sự mạch lạc và thẩm mỹ của lời nói. Bên cạnh đó, tình trạng sính ngoại còn thể hiện ở việc đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, dù hoàn cảnh giao tiếp và đối tượng hướng đến hoàn toàn là người Việt. Đáng quan ngại hơn, không ít học sinh học lệch, đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, dẫn đến việc viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản.

Những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa này bắt nguồn từ các nguyên nhân sâu xa thuộc về nhận thức và môi trường xã hội. Nguyên nhân đầu tiên là do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc. Các em thường lầm tưởng rằng việc dùng từ nước ngoài sẽ khiến câu nói của mình trở nên cao cấp hơn. Thêm vào đó, sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài như phim ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử kết hợp với thuật toán của các nền tảng mạng xã hội khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ. Hơn nữa, cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

Nếu tình trạng thờ ơ này tiếp tục kéo dài, những hậu quả để lại cho tương lai văn hóa nước nhà sẽ vô cùng nghiêm trọng. Khi học sinh coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Một khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa.

Để khắc phục thực trạng này, việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp thiết thực là trách nhiệm không của riêng ai, đặc biệt là thế hệ học sinh. Về nhận thức, học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế. Về thái độ, chúng ta cần xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa, từ đó hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ và văn học nước nhà. Về hành động cụ thể, học sinh cần nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta. Khi thảo luận hay thuyết trình, học sinh nên chủ động chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài nếu tiếng Việt có từ tương đương để làm giàu thêm cách diễn đạt. Việc tham gia tích cực vào các hoạt động tôn vinh tiếng Việt tại trường học cũng mang lại hiệu quả rất lớn.

Học sinh hoàn toàn có thể tự mình tạo ra những thay đổi tích cực bằng những hành động nhỏ hằng ngày. Một minh chứng điển hình là hoạt động của trang mạng xã hội "Tiếng Việt giàu đẹp" do một nhóm học sinh đam mê ngôn ngữ sáng lập. Trang tin này chuyên đăng tải các bài viết nghiên cứu sâu sắc nhưng gần gũi về nguồn gốc từ ngữ, cách dùng từ cổ và hướng dẫn sửa các lỗi chính tả phổ biến, thu hút hàng chục ngàn lượt theo dõi của học sinh, thanh niên trên toàn quốc, tạo nên một không gian học tập văn minh.

Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích sự sáng tạo, chúng ta cần thẳng thắn phê phán những học sinh có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ. Lối suy nghĩ sính ngoại mù quáng này cần phải bị phê phán để tránh làm lệch lạc nhận thức của cả một thế hệ. Song, chúng ta cũng cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. Việc tiếp thu những từ ngữ khoa học kỹ thuật mới của thế giới một cách có hệ thống sẽ giúp tiếng Việt ngày càng phong phú và phát triển mạnh mẽ hơn.

Bảo vệ ngôn ngữ chính là bảo vệ thành trì văn hóa vững chắc nhất của một quốc gia độc lập. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày. Là một học sinh, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ, chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để tư duy mà còn là di sản thiêng liêng mà cha ông đã đánh đổi bằng xương máu qua hàng ngàn năm lịch sử để gìn giữ. Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


Bài tham khảo Bài 5

Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ ngày nay, không ít người đang tỏ ra lo ngại khi chứng kiến thứ ngôn ngữ giàu đẹp là tiếng Việt của ta đang bị làm cho nghèo nàn, lai căng trong giao tiếp hằng ngày của giới trẻ. Giữa bối cảnh giao lưu quốc tế khiến tiếng Việt đối mặt với nguy cơ bị "ngoại hóa", mỗi học sinh cần nhận thức rõ tầm quan trọng và đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Để gánh vác được sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa ấy, việc hiểu rõ các khái niệm cốt lõi là điều không thể thiếu. Sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ "ngoại hóa" chính là việc duy trì các chuẩn mực cốt lõi về phát âm, chữ viết, ngữ pháp và từ vựng phong phú vốn có của dân tộc. Điều đó yêu cầu chúng ta tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ nước ngoài một cách có chọn lọc chứ không đồng nghĩa với việc để tiếng Việt bị đồng hóa, bị lai căng hay lấn át bởi các ngôn ngữ ngoại quốc. Gắn liền với điều đó, trách nhiệm của học sinh là ý thức học tập nghiêm túc, hành động tự giác và chủ động của những người còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm bảo vệ sự thuần khiết của tiếng mẹ đẻ ngay trong môi trường học đường và cuộc sống thường nhật.

Khi quan sát thực tế đời sống số và môi trường học đường hiện nay, chúng ta thấy xuất hiện nhiều mảng màu tối đáng lo ngại trong cách sử dụng ngôn từ của giới trẻ. Trước hết là hiện tượng lạm dụng việc chèn thuật ngữ, từ lóng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung vào lời nói hằng ngày một cách vô tội vạ, tạo nên lối giao tiếp lai căng, thiếu tự nhiên. Thêm vào đó, tình trạng sính ngoại còn thể hiện ở việc đặt tên các dự án học đường, câu lạc bộ học sinh, hoặc các bài đăng trên mạng xã hội bằng tiếng nước ngoài hoàn toàn, dù hoàn cảnh giao tiếp hoàn toàn là người Việt với nhau. Đáng buồn hơn cả là thực trạng nhiều học sinh đang học lệch, đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc cho các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế nhưng lại bỏ bê môn Ngữ văn, dẫn đến việc viết sai chính tả, sai cấu trúc câu tiếng Việt căn bản.

Sự lệch chuẩn này không ngẫu nhiên diễn ra mà nó bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa từ tâm lý cá nhân và áp lực từ môi trường xung quanh. Nguyên nhân đầu tiên là do tâm lý muốn chứng tỏ bản thân sành điệu, hiện đại và bắt kịp xu hướng thời thượng của lứa tuổi học sinh dẫn đến việc bắt chước ngôn ngữ ngoại quốc một cách máy móc. Các em thường bị cuốn theo những trào lưu nhất thời mà quên đi các chuẩn mực chung. Thêm vào đó, sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa giải trí nước ngoài từ phim ảnh, âm nhạc đến trò chơi điện tử kết hợp với thuật toán của các nền tảng mạng xã hội khiến ngôn ngữ ngoại quốc bao vây không gian sống của giới trẻ. Đồng thời, cách thức giáo dục tiếng Việt trong nhà trường đôi khi còn nặng tính học thuật, chưa tạo được sự hấp dẫn, khơi gợi lòng tự hào nội tại về cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.

Nếu thế hệ học sinh tiếp tục giữ thái độ thờ ơ, hệ lụy đối với nền văn hóa nước nhà sẽ vô cùng to lớn. Khi học sinh coi nhẹ tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ dần bị biến dạng, nghèo nàn hóa về kho tàng từ vựng và méo mó về ngữ pháp. Khi tiếng nói bị "ngoại hóa" và mất gốc, bản sắc văn hóa và tinh thần tự tôn độc lập của dân tộc cũng sẽ lung lay trước làn sóng toàn cầu hóa.

Chính vì vậy, chúng ta cần nhanh chóng triển khai các giải pháp thiết thực để bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc. Về nhận thức, học sinh cần hiểu rằng giỏi ngoại ngữ là để mở rộng cánh cửa ra thế giới, nhưng giỏi tiếng Việt mới là gốc rễ khẳng định vị thế và bản sắc riêng của bản thân trong môi trường quốc tế. Về thái độ, chúng ta cần xóa bỏ tư duy sính ngoại hay tâm lý tự ti văn hóa, từ đó hình thành thái độ tôn trọng, yêu thích vẻ đẹp của ngôn từ, văn học nước nhà. Về hành động cụ thể, mỗi học sinh cần nói và viết tiếng Việt đúng ngữ pháp, đúng chính tả khi làm bài tập, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, hạn chế tối đa việc lạm dụng từ chèn nửa Tây nửa Ta. Khi tham gia thuyết trình hay làm bài tập nhóm, học sinh nên chủ động chuyển ngữ hoặc giải thích rõ ràng các thuật ngữ nước ngoài nếu tiếng Việt có từ tương đương để làm giàu thêm cách diễn đạt. Việc tích cực tham gia các hoạt động văn hóa tại trường học cũng cần được thúc đẩy.

Chúng ta có thể thấy một ví dụ rất ý nghĩa cho tinh thần này qua cuốn sách "Tiếng Việt ân tình" của tác giả trẻ Lê Trọng Nghĩa. Bằng tình yêu tha thiết với tiếng mẹ đẻ, anh đã dành nhiều năm tìm tòi, hệ thống hóa và viết lại các câu chuyện về vẻ đẹp độc đáo của từ vựng tiếng Việt qua các vùng miền. Tác phẩm nhỏ này đã khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ ngôn ngữ cho hàng ngàn độc giả học sinh, chứng minh rằng tiếng Việt luôn có một sức hút nội tại to lớn nếu chúng ta biết trân trọng.

Song song với việc biểu dương các điểm sáng, chúng ta cần thẳng thắn phê phán những học sinh có tư duy cực đoan, coi thường tiếng mẹ đẻ, cho rằng tiếng Việt lạc hậu và không có giá trị thương mại bằng ngoại ngữ. Tư duy sính ngoại coi thường gốc rễ này cần phải được phê phán mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý giữ gìn sự trong sáng không có nghĩa là bài trừ tuyệt đối từ mượn một cách cứng nhắc. Việc mượn từ một cách khoa học khi tiếng Việt chưa có từ tương đương là quy luật phát triển tất yếu, giúp tiếng Việt không ngừng giàu đẹp và hiện đại hơn.

Tương lai của ngôn ngữ dân tộc nằm ngay trong lòng bàn tay và ý thức ứng xử hằng ngày của thế hệ trẻ. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước làn sóng ngoại hóa là một cuộc hành trình bền bỉ, cần được nuôi dưỡng từ những thói quen giao tiếp văn minh, chuẩn mực nhỏ nhất mỗi ngày. Là một học sinh, em tự rèn luyện thói quen đọc sách văn học Việt Nam để trau dồi vốn từ, chủ động sử dụng tiếng Việt chuẩn xác trong các bài đăng mạng xã hội và luôn nhắc nhở bản thân sử dụng ngoại ngữ đúng nơi, đúng chỗ.

Khi bước ra thế giới, điều khiến chúng ta không bị hòa lẫn vào đám đông chính là bản sắc văn hóa và tiếng nói dân tộc duy nhất mình mang theo. Việc bảo vệ tiếng Việt khỏi xu hướng "ngoại hóa" lai căng là nhiệm vụ sống còn để bảo tồn hồn cốt dân tộc. Đối với mỗi học sinh, giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ chính là viên gạch đầu tiên và vững chắc nhất để xây dựng lòng tự tôn dân tộc khi bước ra biển lớn toàn cầu.


BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close