Soạn bài Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học SGK Ngữ văn 9 tập 2 Chân trời sáng tạo

Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 9 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - KHTN

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Hướng dẫn phân tích VB 1

Trả lời Câu hỏi 1 Hướng dẫn phân tích kiểu văn bản trang 80 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.

Phương pháp giải:

Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.

Lời giải chi tiết:

Hướng dẫn phân tích VB 2

Trả lời Câu hỏi 2 Hướng dẫn phân tích kiểu văn bản trang 80 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Nhận xét về cách văn bản phân tích các khía cạnh nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản để nhận xét về cách văn bản phân tích các khía cạnh nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật.

Lời giải chi tiết:

Tác giả phân tích từng khía cạnh nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật, sau đó nêu lý lẽ và bằng chứng để chứng minh cho ý kiến đó. Đồng thời khi phân tích bài thơ, tác giả bám sát vào nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Hướng dẫn phân tích VB 3

Trả lời Câu hỏi 3 Hướng dẫn phân tích kiểu văn bản trang 80 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Theo em, phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm thơ khác gì so với tác phẩm truyện?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản và gợi nhớ kiến thức để đưa ra điểm khác nhau khi phân tích thơ với tác phẩm truyện.

Lời giải chi tiết:

- Về nội dung:

+ Tác phẩm thơ: Thường tập trung vào thể hiện cảm xúc, suy tư, quan niệm của tác giả về một vấn đề nào đó. Ngôn ngữ thơ thường hàm súc, giàu hình ảnh, sử dụng nhiều biện pháp tu từ.

+ Tác phẩm truyện: Thường tập trung vào kể lại một câu chuyện, miêu tả các sự kiện, hành động, tính cách của nhân vật. Ngôn ngữ truyện thường rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu. 

- Về hình thức:

+ Tác phẩm thơ: Có cấu trúc ngắn gọn, súc tích. Chú trọng vào nhịp điệu, vần điệu, thể thơ.

+ Tác phẩm truyện: Có cấu trúc đa dạng, có thể dài hoặc ngắn. Chú trọng vào cốt truyện, nhân vật, miêu tả, biểu cảm.

Hướng dẫn phân tích VB 4

Trả lời Câu hỏi 4 Hướng dẫn phân tích kiểu văn bản trang 80 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Từ văn bản trên, em rút ra kinh nghiệm gì khi viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm thơ: chủ đề, những nét đặc sắc về nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ của nó?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản và gợi nhớ kiến thức để rút kinh nghiệm khi viết bài văn nghị luận.

Lời giải chi tiết:

* Khi viết về một tác phẩm thơ, hãy nhớ những điều sau:

- Tìm hiểu về ý chính của bài thơ. Đó có thể là tình yêu, tự do, hoặc bất kỳ điều gì mà tác giả muốn truyền đạt.

- Phân tích các phương tiện tác giả sử dụng như ẩn dụ, so sánh, hoặc nhịp điệu để tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc.

- Đánh giá cách mà bài thơ làm cho bạn cảm thấy như thế nào. Nó có làm cho bạn cảm động, suy ngẫm, hoặc thú vị không?

Hướng dẫn

Trả lời Câu hỏi Hướng dẫn quy trình viết trang 80 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Hãy viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ mà em yêu thích, làm rõ chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ của nó.

Phương pháp giải:

Dựa vào phần kiến thức gợi mở để viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ mà em yêu thích.

Lời giải chi tiết:

* Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương

Chúng ta đang sống trong trong một xã hội bình đẳng, dân chủ - nơi mà con người được hưởng tất cả những quyền tự do, hạnh phúc. Nơi không có chiến tranh, không có áp bức, không có bất công hay phân biệt đối xử. Đó chính là một cuộc sống mà con người ta hằng mong ước. Nhưng đó lại là điều xa xỉ ở trong xã hội cũ. Con người khao khát bình đẳng, khao khát quyền làm chủ, đặc biệt là người phụ nữ. Điều đó lại càng thể hiện rõ hơn trong bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương.

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương sử dụng mô-típ quen thuộc “thân em” để có thể ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp đầy đặn, mặn mà. Chỉ bằng hình ảnh chiếc bánh trôi nước, nhưng gợi lên cho người đọc sự thuần khiết, tinh khôi của người phụ nữ - những người đáng ra phải nhận được sự quan tâm, chở che và bảo vệ.

Nhưng cuộc đời họ lại chịu nhiều cay đắng. Ở câu thơ thứ hai, tác giả đã sử dụng câu thành ngữ “bảy nổi ba chìm” một cách khéo léo, đầy tinh tế để gợi tả về số phận “bất hạnh” của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị chà đạp, bị những định kiến của xã hội làm cho cuộc đời bấp bênh, trôi nổi, không biết đến ngày mai. Cái thân phận yếu ớt, mảnh mai ấy làm sao có thể chịu được những sóng gió, vùi dập, cứ lênh đênh không có một bến bờ để neo đậu. Không cần dùng những câu nói hay những động từ có tác động mạnh đến người đọc, nhưng những hình ảnh ẩn dụ của Hồ Xuân Hương lại có ấn tượng mạnh mẽ đến vậy. Người phụ nữ trong xã hội ấy, họ không được định đoạt số phận, không được "quyền" quyết định hạnh phúc của mình mà cứ thế phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy. Đọc đến câu thơ này, nhiều người đọc sẽ phải thốt lên: "Làm sao có thể để cho người phụ nữ chân yếu tay mềm, yếu ớt nhưng vậy phải gánh chịu những bão bùng của cuộc đời, vậy phải chăng trên thế gian này không còn ai giống "Từ Hải" để có thể cứu giúp những thân phận người phụ nữ đầy bất hạnh như Thúy Kiều nữa?"

Cái thân phận yếu mềm, tủi nhục và không biết đến ngày mai ấy cứ phó mặc cho cuộc đời, phó mặc cho "kẻ nặn" cái quyền được "điều khiển" cuộc đời mình. Dù họ có vùng vẫy như thế nào đi chăng nữa thì cuộc đời họ cũng không thể thoát khỏi được. Vậy vì sao lại vậy? Vì sao họ lại tiếp tục căm chịu như vậy? Phải chăng do họ sợ? Không, bởi vì họ nhận thức sâu sắc rằng, dù họ có làm gì đi chăng nữa thì cũng không thể nào có thể chống lại những định kiến của xã hội, đã được bồi đắp hàng nghìn năm. Cái chế độ khiến con người ta đi vào bế tắc và không muốn phản kháng lại nữa. Vậy biết đến bao giờ họ mới có thể có một cuộc sống tự lập riêng cho chính mình, để họ có thể được sống theo ý mình, để họ có thể được làm chính họ?

Giọng thơ dù thể hiện nỗi đau, sự tủi nhục, cam chịu của người phụ nữ nhưng vẫn giữ thái độ kiên trì, bền vững "tấm lòng son" - một biểu hiện tượng trưng cho phẩm chất thủy chung, son sắt, một lòng một dạ với chồng với con. Dù cho họ bị vùi dập đến đâu, dù có đau khổ đến nhường nào họ vẫn sẽ là một người vợ, người mẹ, người con hiếu thảo, chịu thương chịu khó, hết mực với chồng với con. Đó chính là phẩm chất ngàn đời của người phụ nữ Việt không thể thay thế được. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ cảm xúc mạnh mẽ của tác giả: sự đồng cảm sâu sắc đối với những người phụ nữ đang là "tù nhân" của xã hội phong kiến và sự phẫn nộ đối với những "kẻ nặn" - những kẻ trực tiếp gây ra những nỗi đau cho chính những người phụ nữ đáng ra họ phải được hưởng nhiều hơn là cam chịu như vậy.

Bài thơ dù rất ngắn nhưng lại khắc họa được hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam thông qua hình ảnh bánh trôi nước. Tác giả mong muốn thông qua bài thơ, góp một tiếng lòng, sự đồng cảm sâu sắc đối với những người phụ nữ và thức tỉnh những “kẻ nặn” - hãy biết trân trọng và thương yêu những người phụ nữ ở bên cạnh mình.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Truyện thơ Nôm đóng một vai trò quan trọng trong nền văn học Việt Nam, thể hiện tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc. Bên cạnh nhiều tác phaamr truyện thơ Nôm khác thì Lục Vân Tiên, tác phẩm truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, nổi bật như một biểu tượng văn hóa. Truyện thơ này không chỉ kể về những đau thương, bất hạnh trong cuộc đời của Lục Vân Tiên mà còn là bức tranh toàn cảnh về sự đối lập giữa cái thiện và cái ác. Đoạn trích 'Lục Vân Tiên gặp nạn' đã làm nổi bật sự tương phản này.

Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên nhận được tin mẹ mất và quyết định quay trở về quê nhà để đón mẹ lần cuối. Tuy nhiên, do quá buồn và tiếc thương, anh ta đã mất đi khả năng nhìn. Giữa hành trình, anh ta gặp phải một tình huống không may và không có nơi nương tựa. Anh ta chỉ mong muốn sớm trở về nhà để thắp nén hương cho mẹ. Tuy nhiên, đáng tiếc, tên kẻ xấu Trịnh Hâm đã độc ác và hành động như một người vô đạo đức và đầy xảo quyệt.

Trái ngược với tính cách hào hiệp của Lục Vân Tiên “giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”, Trịnh Hâm lại ích kỷ và hẹp hòi. Trong lúc gặp khó khăn, Lục Vân Tiên đã nghĩ rằng anh có thể nhờ bạn của mình – Trịnh Hâm để giúp anh trở về quê nhà. Tuy nhiên, “lời nói bay giáo”, lời hứa đã không được thực hiện mà thay vào đó là sự lừa dối có tính toan tính của hắn.

Vì ghen ghét và đố kị với tài năng và đức độ của Vân Tiên từ lâu, Trịnh Hâm trở nên tàn bạo và vô nhân tính. Chính lòng ghen ghét đã thấm sâu vào cơ thể của hắn và biến hắn thành kẻ độc ác và dã man. Hắn cực kỳ ác độc khi tính toán kỹ lưỡng cho hành động của mình. Hắn lợi dụng đêm khuya để đẩy Lục Vân Tiên xuống sông:

Đêm khuya lặng lẽ như tờ,

Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay.

Trịnh Hâm khi ấy ra tay,

Vân Tiên bị ngã xô ngay xuống vời.

Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời,

Cho người thức dậy lấy lời phui pha.

Vừa hãm hại chàng lại còn giả vờ, đóng kịch và ra vẻ đáng thương, một kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng” cáo già giả dạng nai tơ la làng để lấy lời “phui pha” từ những người xung quanh. Đó chính là bản chất của một kẻ rành đời và xảo trá.

May mắn, ông Ngư và gia đình đã cứu chàng. Tác giả nhấn mạnh không chỉ có một người tốt bụng như ông Ngư, mà có rất nhiều người như vậy. Đối lập với sự độc ác của Trịnh Hâm là gia đình lão Ngư, một gia đình nghèo khó nhưng có lòng tốt và nhân ái. Ông Ngư là một chài lưới bao dung, tốt bụng và đầy nhân ái.

Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ.

Hối con vầy lửa một giờ,

Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.

Vân Tiên vừa ấm chơn tay,

Ngẩn ngơ hồn phách như say mới rồi.

Sau khi vớt Vân Tiên lên bờ và cứu sống anh, ông Ngư đã cưu mang và giúp đỡ anh, mặc dù gia đình ông nghèo khó và bữa cơm chỉ có vị tương cà nhưng tình người trong gia đình đầy yêu thương. Ông giúp đỡ Vân Tiên mà không mong đợi lòng biết ơn hay sự đền đáp “Dốc lòng nhân nghĩ há chớ trả ơn”. Nếu Trịnh Hâm hẹp hòi và ích kỉ thì ông Ngư rộng lượng và hào phóng. Nếu cuộc sống của Trịnh Hâm là sự ganh đua, tị nạnh, nhỏ nhen và ích kỉ thì cuộc sống của ông Ngư là một cuộc sống thanh cao, không quan tâm đến tiền bạc và danh lợi. Ông sống một cuộc sống tự tại, phóng khoáng, tự do và trong sạch.

Hoàn toàn khác biệt với những tính toán và sẵn sàng chà đạp cả danh dự và lương tri để đạt được mục đích và âm mưu của mình. Cuộc sống của ông Ngư, mặc dù nghèo khó về vật chất, nhưng tràn đầy niềm vui và niềm tin vào cuộc sống. Ông sống một cuộc sống hài hòa giữa tình người và với thiên nhiên đẹp đẽ nên thơ.

Nước trong rửa ruột sạch trơn,

Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

Rày voi mai vịnh vui vầy,

Ngày kia hứng gió đêm này chơi trăng.

Một mình thong thả làm ăn,

Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.

Nghêu ngao nay chích mai đầm.”

Truyện Lục Vân Tiên đặc biệt là đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn là một trong những tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam, mang đến sự trải nghiệm đặc biệt và những bài học đáng quý về lòng nhân ái, đạo đức và tình yêu quê hương. Nó là một tuyệt phẩm văn học đáng đọc và truyền cảm hứng cho mọi người.

Tố Hữu là nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại Việt Nam. Với bảy tập thơ lớn, thơ ông được xem là biên niên sử bằng thơ của cách mạng Việt Nam. Đối với Tố Hữu, con đường thơ ca cũng là con đường cách mạng. Thơ ông song hành với con đường cách mạng và phản ánh những chặng đường cách mạng quan trọng của dân tộc. Bài thơ Nhớ đồng là nỗi niềm thương nhớ đồng quê, cảnh vật con người, đồng bào đồng chí của người tù cộng sản trẻ tuổi trong những ngày tháng bị giam ở nhà lao Thừa Thiên Huế.

     Tháng 7 năm 1939 Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và giam tại nhà tù Thừa Thiên Huế. Tuy bị giam cầm trong tù ngục nhưng ông vẫn làm thơ. Bài thơ Nhớ đồng được sáng tác trong hoàn cảnh đó và được trích trong tập thơ: Từ ấy trong phần xiềng xích. Đây là một bài thơ tiêu biểu của tập thơ Từ ấy.

     “Cô đơn thay là cảnh thân tù/ Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực..” đó là cảm giác rõ nhất khi Tố Hữu bị bắt, cách biệt với cuộc sống bên ngoài. Vì vậy một âm thanh, một tiếng động nào bên ngoài dội vào cũng gợi lên trong lòng nhà thơ một nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Không phải là tiếng chim tu hú khắc khoải gọi hè như trong bài thơ Khi con tu hú, mà là một tiếng hò quen thuộc của đồng quê:

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!

     Bài thơ gợi từ tiếng hò thân thuộc trở thành điệp khúc trở đi trở lại: Nỗi thương nhớ; nỗi hiu quạnh. Bằng cách lặp đi lặp lại 4 lần hình ảnh một tiếng hò nhà thơ đã nói lên được sự đồng cảm với tâm trạng cô đơn, cảm giác lạnh lẽo của người tù.

     Tiếng hò như một điểm nhấn gợi nhớ, khiến cho bao nhiêu hình ảnh quen thuộc của đồng quê hiện về:

Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi

Đâu ruồng che mát thở yên vui

Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn

Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?

     Âm thanh tiếng hò gợi nhớ về quê hương. Thế giới bên ngoài là đồng quê, hình ảnh con người, mùi hương, màu sắc, âm thanh. Đó là những hình ảnh thân thuộc, da diết của quê hương, xứ sở. Trong xa cách, nỗi nhớ của nhà thơ dường như da diết hơn. Trong xa cách, hình ảnh, mùi vị, âm thanh, màu sắc của quê hương càng trở nên gần gũi lạ thường.

     Nỗi nhớ đồng quê ấy còn là nỗi nhớ con người lao động – những người dân quê cần cù, chất phác, quen “dãi gió dầm mưa”,”hiền như đất”, “rất thật thà”:

Đâu những lưng cong xuống luống cày

Mà bùn hy vọng nức hương ngây

Và đâu hết những bàn tay ấy

Vãi giống tung trời những sớm mai?

     Đó là những người dân cày quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Đó người nông dân với luống cày vất vả, gian nan, lưng còng theo năm tháng. Thế nhưng, ở họ, toát lên một vẻ đẹp sáng ngời của phẩm chất trong sáng, dù có ở trong bùn đen nhưng vẫn nức hương. Chính họ, chính những người lao động chân chất thôn quê ấy còn là những người gieo những tia hi vọng vào tương lai.

     Nhà thơ tiếp tục nỗi nhớ của mình với các hình ảnh: sương, lúa, tiếng xe lùa nước, giọng hò. Tất cả đều là hình ảnh, âm thanh thân thuộc của đồng quê. Và nhà thơ nhớ da diết những hình ảnh ấy. Từ nỗi nhớ ấy, nghĩ về cảnh tù đày của bản thân, một chút chạnh lòng chợt len lỏi trong tâm khảm nhà thơ cách mạng:

Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi

Sao mà cách biệt, quá xa xôi

Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ

Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!

     Tất cả những gì quen thuộc nhất, thân thương nhất, nhưng giờ đây “đâu cả rồi“. Một câu hỏi lớn vang lên không lời đáp như là một nhát dao đâm vào lòng người tù, trở nên đau đớn, xót xa. Giờ đây, khi ở trong lao, mọi thứ đã cách biệt và trở nên xa xôi hơn bao giờ hết. Chao ôi thương nhớ, điệp khúc lặp lại hai lần trong câu thơ đã thể hiện nỗi nhớ da diết khôn nguôi của nhà thơ. Và trong nỗi nhớ thương ấy, hiện lên hình ảnh người mẹ già – người mà tác giả nhớ nhất trong nỗi nhớ của mình.

     Mạch thơ tiếp diễn với nỗi nhớ thương da diết, dâng trào. Khi người ta nhớ, người ta thương mà không được nhìn, không được ngắm, không được trở về để yêu thương thì càng khiến con người thêm day dứt, thêm cồn cào ruột gan. Và sau những thoáng buồn thương cho cảnh ngộ của mình trong tù, người chiến sĩ thiết tha yêu cuộc sống lại kiên trì – đấu tranh với những giây phút yếu mềm để vượt lên. Anh nhớ lại hình ảnh của chính mình của “những ngày xưa”, từ cái thời “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”, “theo mãi vòng quanh quẩn” để có ngày đến với cách mạng, gặp gỡ lí tưởng cộng sản. Và thế là người tù lại khát khao tự do, thèm muốn được thoát khỏi lao tù để lại được dấn thân vào trường tranh đấu vì sự nghiệp cách mạng.

Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi

Nhẹ nhàng như con chim cà lơi

Say hương đồng vui ca hát

Trên chín tầng cao bát ngát trời

     Hình ảnh con chim sơn ca như là một biểu tượng cho ước muốn được tung bay trên bầu trời tự do bát ngát, được trở lại với hoạt động trong lòng dân, được trở về với cuộc sống con người tự do. Đây là tâm trạng vui nhất của người chiến sĩ trong tù.

     Diễn biến tâm trạng của tác giả trong bài thơ được thể hiện khá chân thực, trọn vẹn và liền mạch. Nỗi nhớ được đánh thức từ một “tiếng hò đưa hố não nùng“. Tiếng hò gợi dậy thế giới đồng quê bên ngoài từ cảnh sắc đến những dáng hình quen thuộc. Rồi nhớ về những ngày còn được thỏa sức hoạt động cho cách mạng, cuối cùng lại trở lại thực tại đau thương của cảnh nhà tù và khát vọng muốn được tự do, được cống hiến. Cả bài thơ thấm đượm nỗi nhớ thương da diết, khôn nguôi; khiến độc giả thêm cảm phục hình ảnh người chiến sĩ cách mạng – nhà thơ Tố Hữu.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 9 - Ôn Thi Vào Lớp 10 Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close