Soạn bài Văn hóa hoa – cây cảnh SGK Ngữ văn 9 tập 2 Kết nối tri thứcYêu thiên nhiên là một tình cảm tự nhiên và đặc biệt của con người. Theo em, tình yêu đó có những biểu hiện nổi bật nào? Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Trước khi đọc 1 Trả lời Câu hỏi 1 Trước khi đọc trang 96 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Yêu thiên nhiên là một tình cảm tự nhiên và đặc biệt của con người. Theo em, tình yêu đó có những biểu hiện nổi bật nào? Phương pháp giải: Từ những hiểu biết của bản thân để chia sẻ. Lời giải chi tiết: Cách 1 Những biểu hiện nổi bật: - Luôn muốn được sống và làm việc xung quanh những nơi có nhiều cây cối. - Chăm sóc bảo vệ thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Tình yêu thiên nhiên là một tình cảm cao đẹp, được thể hiện qua nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Dưới đây là một số biểu hiện nổi bật: 1. Trân trọng và gìn giữ vẻ đẹp thiên nhiên:
2. Tìm đến thiên nhiên để thư giãn và giải trí:
3. Tìm hiểu và học hỏi về thiên nhiên:
Xem thêm
Cách 2
Trước khi đọc 2 Trả lời Câu hỏi 2 Trước khi đọc trang 96 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Trong bối cảnh đời sống hiện đại, việc tạo ra một không gian cư trú gần gũi, thân thiện với thiên nhiên có thể gặp phải những thách thức gì? Phương pháp giải: Từ những hiểu biết của bản thân để chia sẻ. Lời giải chi tiết: Những thách thức: - Điều kiện kinh tế không cho phép. - Không đảm bảo về sức khỏe khi không gian thiên nhiên bên ngoài hiện tại có nhiều vấn đề. - Có thể gây ảnh hưởng đến người khác.
Xem thêm
Cách 2
Những thách thức trong việc tạo ra một không gian cư trú gần gũi, thân thiện với thiên nhiên trong bối cảnh đời sống hiện đại:
Xem thêm
Cách 2
Đọc văn bản 1 Trả lời Câu hỏi 1 Đọc văn bản trang 96 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Tác giả đang khơi gợi sự chú ý về vấn đề gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để đưa ra sự chú ý về vấn đề. Lời giải chi tiết: Khơi gợi sự chú ý về vấn đề: Thiên nhiên phong phú và đa dạng còn chứa ẩn nhiều điều kì thú và kì vĩ.
Xem thêm
Cách 2
Vấn đề về thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Đọc văn bản 2 Trả lời Câu hỏi 2 Đọc văn bản trang 97 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Đâu là điều kiện then chốt dẫn đến sự xuất hiện của “thiên nhiên thứ hai”? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để chỉ ra điều kiện then chốt. Lời giải chi tiết: Điều kiện then chốt đó là yếu tố con người.
Xem thêm
Cách 2
Thoạt kỉ thuỷ, con người lệ thuộc gần như hoàn toàn và nặng nề vào môi sinh tự nhiên, các hệ sinh thái tự nhiên, nhưng về bản thể, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức, có mô hình hành động được lựa chọn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình, do vậy mà con người không thích nghi thụ động với hoàn cảnh tự nhiên, mà là ứng biển – thích ứng và biến đổi nó – xây dựng các hệ sinh thái – nhân văn.
Xem thêm
Cách 2
Đọc văn bản 3 Trả lời Câu hỏi 3 Đọc văn bản trang 97 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Cách tác giả đưa thông tin về “truyền thống sống hài hoà với tự nhiên” của người Việt Nam có điểm gì độc đáo? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn để nhận xét về thông tin đáng tin cậy. Lời giải chi tiết: Cách 1 Tác giả đã đưa thông tin về truyền thống sống hài hòa với tự nhiên của người Việt Nam một cách độc đáo thông qua việc sử dụng hình ảnh hoa và cây cảnh như là biểu tượng cho mối quan hệ gắn bó và tôn trọng thiên nhiên. Điều này phản ánh quan niệm sâu sắc về việc con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên mà còn phải chăm sóc và bảo tồn nó.
Xem thêm
Cách 2
Cách tác giả đưa thông tin về “truyền thống sống hài hoà với tự nhiên” của người Việt Nam độc đáo ở việc lựa chọn sử dụng hình ảnh hoa và cây cảnh như sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Đọc văn bản 4 Trả lời Câu hỏi 4 Đọc văn bản trang 98 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Bề rộng của những thông tin được trình bày trong văn bản có mối liên hệ như thế nào với khái niệm “văn hóa” xuất hiện ở nhan đề? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn và nhận xét về mối liên hệ. Lời giải chi tiết: Cách 1 Mối liên hệ: Bề rộng với thông tin được trình bày có mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm văn hóa. Từ đó thể hiện truyền thống lâu đời về nền văn hóa ở Việt Nam.
Xem thêm
Cách 2
Bề rộng của thông tin được trình bày trong văn bản không chỉ giới hạn ở việc trồng trọt và chăm sóc cây cảnh mà còn mở rộng ra các khía cạnh khác của văn hóa Việt Nam, như tinh thần cộng đồng, sự sáng tạo trong nghệ thuật, và thái độ tôn trọng đối với mọi sinh vật. Điều này liên hệ mật thiết với khái niệm “văn hóa” xuất hiện ở nhan đề, bởi “văn hóa” không chỉ là những sản phẩm vật thể mà còn là cách thức con người tương tác với thế giới xung quanh, bao gồm cả môi trường tự nhiên. Như vậy, thông qua việc trồng hoa và cây cảnh, người Việt đã thể hiện và duy trì một phần của văn hóa sống hài hòa với tự nhiên, đồng thời cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Đây chính là điểm độc đáo và sâu sắc mà tác giả Trần Quốc Vượng muốn truyền tải trong tác phẩm của mình.
Xem thêm
Cách 2
Đọc văn bản 5 Trả lời Câu hỏi 5 Đọc văn bản trang 99 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Vấn đề “mức sống” được đề cập ở đây gợi cho em nghĩ tới thực tế nào? Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn văn và kết hợp với thực tế. Lời giải chi tiết: Cách 1 Vấn đề mức sống gợi cho em nghĩ đến thực tế hiện nay mọi người đều quan niệm thú chơi hoa chỉ dành cho người giàu và thực sự là thế thật chỉ có người có của ăn của để mới không phải lo nghĩ gì mà dành thời gian cho việc chơi hoa, chơi cây.
Xem thêm
Cách 2
Những người sống thường chỉ kiếm đủ tiền để trang trải cho các chi phí sinh hoạt cơ bản như ăn uống, ngủ nghỉ và đi lại. Họ không dành nhiều tiền cho những thứ xa xỉ hoặc không cần thiết.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 1 Trả lời Câu hỏi 1 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Nêu nhận xét về việc sách giáo khoa đặt văn bản “Văn hóa hoa – cây cảnh” bên cạnh văn bản “Yên Tử, núi thiêng”. Phương pháp giải: Đọc kĩ nhan đề hai văn bản để nhận xét Lời giải chi tiết: Cách 1 Tác giả trực tiếp thể hiện đối tượng được nhắc đến trong văn bản: Văn hóa hoa cây cảnh và núi thiêng Yên Tử.
Xem thêm
Cách 2
Việc sách giáo khoa đặt văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh của Trần Quốc Vượng cạnh văn bản Yên Tử, núi thiêng là một cách tiếp cận sáng tạo và có ý nghĩa, bởi cả hai văn bản đều phản ánh sự gắn kết sâu sắc giữa con người và thiên nhiên, cũng như tầm quan trọng của văn hóa tâm linh trong đời sống tinh thần của người Việt.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 2 Trả lời Câu hỏi 2 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Tìm hiểu bố cục của văn bản, qua đó đánh giá cách tác giả triển khai ý tưởng và trình bày thông tin. Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bộ văn bản chỉ ra bố cục và nhận xét về cách tác giả triển khai ý tưởng. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Bố cục: + Đoạn 1: Giới thiệu về vấn đề. + Đoạn 2, 3: Điều kiện then chốt dẫn đến sự xuất hiện của thiên nhiên thứ hai. + Đoạn 4 – 9: Truyền thống sống hài hòa với tự nhiên của người Việt Nam. + Đoạn 10 – 13: Bề rộng văn hóa của Việt Nam. + Đoạn 14 – 16: Thú chơi hoa – cây cảnh của con người. - Tác giả triển khai ý tưởng và trình bày thông tin theo trình tự chặt chẽ đưa người đọc đến các vấn đề liên quan đến văn hóa hoa, cây cảnh.
Xem thêm
Cách 2
- Bố cục:
=> Đánh giá: Trần Quốc Vượng đã thành công trong việc truyền đạt niềm đam mê và sự hiểu biết sâu sắc của mình về đề tài. Ông đã không chỉ cung cấp thông tin mà còn phản ánh quan điểm và tình cảm của mình đối với văn hóa hoa và cây cảnh, qua đó góp phần nuôi dưỡng tình yêu và niềm tự hào văn hóa trong mỗi người đọc. Điều này làm cho văn bản không chỉ có giá trị thông tin mà còn có giá trị giáo dục, đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ đang học hỏi và hình thành nhận thức về văn hóa dân tộc.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 3 Trả lời Câu hỏi 3 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Xác định tính đa dạng của các thông tin được tác giả nêu lên xoay quanh việc làm sáng tỏ vấn đề: Người Việt thực sự có một văn hóa ứng xử riêng với thiên nhiên. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để xác định tính đa dạng trong cách đưa ra các thông tin. Lời giải chi tiết: Cách 1 Tính đa dạng thể hiện ở việc: Tác giả đưa ra rất nhiều minh chứng khác nhau ở nhiều mặt trong văn hóa Việt Nam: Lịch sử; văn học (thơ ca, ca dao, truyền thuyết); tín ngưỡng; không gian (từ nông thôn đến thành thị);... => Từ đó tác giả đã làm sáng tỏ: Người Việt có một văn hóa ứng xử riêng với thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Tính đa dạng của các thông tin được thể hiện qua việc tác giả đã khám phá và phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của văn hóa ứng xử với thiên nhiên của người Việt. Tác giả đã sử dụng một loạt các cứ liệu từ văn học, ngôn ngữ, tục ngữ, ca dao, đến những quan sát thực tế về cách người Việt trồng trọt và chăm sóc cây cảnh. Điều này làm sáng tỏ rằng người Việt không chỉ coi trọng việc sống hài hòa với thiên nhiên mà còn coi đó là một phần không thể tách rời của bản sắc văn hóa và tâm hồn dân tộc.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 4 Trả lời Câu hỏi 4 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Tại sao nói về một vấn đề của văn hóa, tác giả lại hết sức quan tâm tìm hiểu, tập hợp các cứ liệu văn học và ngôn ngữ? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để đưa ra nhận xét. Lời giải chi tiết: Cách 1 Tác giả hết sức quan tâm tới văn học và ngôn ngữ vì giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giữa ngôn ngữ và văn học thì việc có mối liên hệ không cần phân tích nhiều. Vậy còn văn học với văn hóa thì sao. Văn học là sự tự ý thức văn hóa. Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc. Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ.
Xem thêm
Cách 2
Tác giả quan tâm đến việc tìm hiểu và tập hợp các cứ liệu văn học và ngôn ngữ bởi vì những nguồn này chứa đựng giá trị văn hóa lâu đời và sâu sắc của dân tộc. Văn học và ngôn ngữ là kho tàng lưu giữ tri thức, quan niệm, và cảm xúc của con người qua nhiều thế hệ. Chúng giúp tác giả chứng minh và làm nổi bật vấn đề mà ông muốn truyền đạt: văn hóa ứng xử với thiên nhiên của người Việt không chỉ là hành động bề ngoài mà còn là biểu hiện của quan điểm sống, tư duy và tình cảm.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 5 Trả lời Câu hỏi 5 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Nêu nhận xét của em về mạch liên kết giữa các thông tin trong văn bản. Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để nhận xét về mạch liên kết. Lời giải chi tiết: Cách 1 Tác giả đã sử dụng những cách liên kết về nội dung và hình thức tạo nên một văn bản thông tin liên kết chặt chẽ. - Hình thức: Sử dụng các phép liên kết: Phép thế, nối, lặp… - Nội dung: Trình bày các thông tin liên quan chặt chẽ với nhau theo trình tự cụ thể.
Xem thêm
Cách 2
Mạch liên kết giữa các thông tin trong văn bản được tác giả xây dựng một cách chặt chẽ và logic. Từ việc giới thiệu khái niệm “văn hóa hoa - cây cảnh”, tác giả dẫn dắt người đọc qua các ví dụ cụ thể, phân tích sâu sắc, và cuối cùng là kết luận về tầm quan trọng của việc này đối với đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt. Sự chuyển tiếp giữa các phần thông tin một cách mượt mà giúp người đọc dễ dàng theo dõi và hiểu rõ ý đồ của tác giả, đồng thời cảm nhận được sự phong phú và đa dạng của văn hóa ứng xử với thiên nhiên trong đời sống của người Việt.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 6 Trả lời Câu hỏi 6 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Việc tác giả huy động kiến thức đa lĩnh vực (văn hóa, văn học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lí) khi đưa thông tin về vấn đề đã tạo nên đặc điểm gì của văn bản? Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản để nhận xét về đặc điểm của văn bản. Lời giải chi tiết: Cách 1 Việc tác giả huy động kiến thức đa lĩnh vực (văn hóa, văn học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lí) khi đưa thông tin về vấn đề đã tạo nên đặc điểm đa dạng, phong phú của văn bản thông tin
Xem thêm
Cách 2
Đặc điểm nổi bật của văn bản là cách tác giả đã kết hợp hài hòa giữa các kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề, qua đó thể hiện được sự hiểu biết sâu rộng và tầm nhìn toàn diện về văn hóa ứng xử với thiên nhiên của người Việt. Điều này không chỉ giúp người đọc nhận thức được giá trị của việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống mà còn khuyến khích họ tiếp tục tìm hiểu và tôn trọng môi trường sống xung quanh mình.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 7 Trả lời Câu hỏi 7 Sau khi đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Thông điệp có ý nghĩa nhất mà em tiếp nhận được từ văn bản là gì? Phương pháp giải: Từ nội dung rút ra thông điệp Lời giải chi tiết: Thông điệp có ý nghĩa nhất mà em tiếp nhận được từ văn bản là sự gắn bó keo sơn không thể tách rời giữa con người với thiên nhiên xung quanh. Qua đó ta cũng có biết được cách mà mình nên đối xử với thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Thông điệp: sự gắn kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên, cũng như việc ứng xử với thiên nhiên.
Xem thêm
Cách 2
Viết kết nối đọc Trả lời Câu hỏi Viết kết nối với đọc trang 100 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Từ những điều được văn bản Văn hóa hoa – cây cảnh gợi lên, viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu ấn tượng, suy nghĩ của em về hiện tượng “đưa thiên nhiên vào nhà” rất phổ biến trong đời sống hiện nay. Phương pháp giải: Dựa vào những hiểu biết của bản thân để trình bày thành đoạn văn. Lời giải chi tiết: Cách 1 Giữa con người và môi trường sống có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời. Môi trường tạo ra các điều kiện sống cần thiết để con người tồn tại và phát triển. Con người có vai trò khai thác và cải tạo môi trường phù hợp với các điều kiện sống và hoạt động sản xuất của mình, đồng thời tôn trọng, bảo vệ và gìn giữ lấy môi trường ấy. Hiện tượng “đưa thiên nhiên vào nhà” hiện nay đang được rất nhiều người hưởng ứng. Việc đưa thiên nhiên vào nhà không cần điều gì quá to lớn chỉ cần bạn trồng thêm một cây xanh, một cây hoa ở nhà và chăm sóc chúng đã là đưa thiên nhiên vào nhà rồi đó. Hãy luôn biết trân trọng bảo vệ thiên nhiên vì nếu thiếu đi thiên nhiên con người chúng ta cũng không sống tiếp được.
Xem thêm
Cách 2
Hiện tượng “đưa thiên nhiên vào nhà” không chỉ là một xu hướng trang trí mà còn là biểu hiện của nhu cầu tìm về nguồn cội, kết nối với thiên nhiên trong cuộc sống hiện đại bận rộn. Việc này không chỉ giúp không gian sống trở nên tươi mới, bình yên mà còn thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe tinh thần và thể chất. Cây xanh trong nhà như một lá phổi mini, giúp lọc không khí, cân bằng độ ẩm và tạo ra không gian sống hài hòa. Đối với tôi, mỗi loại cây cảnh không chỉ mang một vẻ đẹp riêng mà còn chứa đựng ý nghĩa tâm linh, văn hóa sâu sắc. Chúng như những người bạn thầm lặng, góp phần làm dịu đi những căng thẳng và áp lực hàng ngày. Qua đó, “đưa thiên nhiên vào nhà” còn là cách để mỗi người chúng ta thể hiện trách nhiệm và tình yêu với môi trường, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững.
Xem thêm
Cách 2
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Văn hóa hoa - cây cảnh (Trần Quốc Vượng)
+
VĂN HÓA HOA – CÂY CẢNH - Trần Quốc Vượng - Thiên nhiên, về bản chất là phong phú và đa dạng, mãi mãi còn tiềm ẩn nhiều kì thú và kì vĩ, kì bí,… không hẳn là “bất khả tri” nhưng cho dù con người, qua lịch sử, đã thu thập được một kho tri thức về tự nhiên song chưa bao giờ đã hiểu biết hết tự nhiên. Luôn luôn, tự nhiên, cũng như người đàn bà xinh đẹp, duyên dáng, đằm thắm và sâu sắc, lưu giữ một chất “huyền” nào đó, vẫy gọi, kích thích con người tiếp cận ... nhưng bao giờ cũng là cảnh tình “tuy xa mà gần, tuy gần mà xa ... ". Thiên nhiên Đông Nam Á và Việt Nam - xứ sở châu Á gió mùa nhiệt ẩm - lại càng phong phú và đa dạng hơn bất cứ nơi đâu, vừa gắn với đại lục, vừa thông với đại dương, đủ dạng địa hình, hệ thực vật có trên 7 000 loài có hạt, xếp vào 267 họ, xấp xỉ 2 000 chi ... Nhà bác học Lê Quý Đôn của xứ Sơn Nam Hạ nói giản dị: Cây cỏ miền nhiệt đới hương nồng thắm hơn, sắc nhiều màu hơn cây cỏ xứ lạnh .. Con người - loài người là một sản phầm của tự nhiên trên diễn trình lịch sử vũ trụ và là một thành phần của tự nhiên từ hàng triệu năm về trước đến ngày nay. Thoạt kì thuỷ, con người lệ thuộc gần như hoàn toàn và nặng nề vào môi sinh tự nhiên, các hệ sinh thái tự nhiên; nhưng về bản thể, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức, có mô hình hành động được lựa chọn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình, do vậy mà con người không thích nghi thụ động với hoàn cảnh tự nhiên, mà là ứng biến - thích ứng và biến đổi nó - xây dựng các hệ sinh thái - nhân văn mà nhiều người gọi là thiên nhiên thứ hai, xây dựng các nền văn hoá với những ứng xử khác nhau, với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình ... [ ... ] Phương Đông - trong đó có Việt Nam - trên đại thể có truyền thống sống hài hoà với tự nhiên. Người Việt Nam dựa vào tự nhiên mà làm ăn và đánh giặc. “Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm ... ". Theo thuyết tính linh, vạn vật đều có hồn: Hồ Gươm - Hồ Tây, núi Nùng, sông Nhị, nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm” (Nguyễn Đình Thi); “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du); vui “tình cá nước", "hoa cười”, cây “ngả nghiêng chào”; ứng xử tế nhị “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa"; thậm chí tín mê “thần cây đa, ma cây gạo ... ” với tục thờ cây cối ... [ ... ] Văn minh lớn Trung Hoa, đến thời Hán, vài thế kỉ trước sau Công nguyên thì nghề xây dựng hoa viên, trồng hoa, cây cảnh đã trở thành một ngành nghệ thuật lớn và tinh tế, một nghệ thuật cung đình và quý tộc, tất nhiên: thượng uyển, thượng lâm ... Bon-sai (nguyên nghĩa: cây trồng trong chậu cạn), với thế kỉ XII, gắn liền với Zen (Thiền) và Sin-tô (Thần đạo), đã trở thành một nghệ thuật tuyệt vời của người Nhật Bản: Như tự nhiên ư? Vậy mà không phải vậy ... Văn học Trung Hoa Đường - Tống có tư duy duy mĩ với thiên nhiên: Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ. (Thơ xưa nghiêng chuộng thiên nhiên đẹp.) (Hồ Chí Minh) Người Việt Nam mang chở “tinh người” phổ quát, biết ngưỡng mộ cái Đẹp của thiên nhiên thứ nhất, [ ... ] biết chọn non nước “sơn thuỷ hữu tình” (Dục Thuý Sơn - Ninh Bình, Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng, Hương Sơn - Hà Tĩnh, Hà Tây, ... ) mà dựng xây đền - chùa - tháp - miếu ... Từ nơi dân dã: “cây gạo đầu làng”, “cây đa bến nước” ... đến chốn thị thành: Khen ai khéo vẽ dư đồ Trước sông Nhị Thuỷ, sau hồ Hoàn Gươm. (Ca dao Hà Nội cổ) Mà người Việt Nam cũng biết tạo dựng một thiên nhiên thứ hai hài hoà với thiên nhiên thứ nhất, từ làng quê với “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” với “Trúc xinh trúc mọc bờ ao”, với “ngõ trúc quanh co” (Yên Đổ), với “bóng cau với con thuyền một dòng sông” (Văn Cao) ... đến cửa nhà quan: Hé cửa đêm chờ hương quế lọt Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan. (Nguyễn Trãi) đến nơi ở của Chủ tịch nước: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa ... (Hồ Chí Minh) Nếu nước Việt phương Nam truyền thống là “tổng” của các làng, thì có làng ruộng, làng vườn, làng nghề, làng buôn ... mà cũng có làng hoa: “đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp”, làng đào Nhật Tân, “đồng Bông” làng quất Nghi Tàm của Kẻ Chợ - Thăng Long, Vị Khê, Trình Xuyên, Phụ Long của Nam Định, Kim Long của Huế, làng hoa Đà Lạt của Lâm Đồng ... Thăng Long Lý - Trần - Lê, ngoài Hoàng thành và Tử Cấm thành, có 36 phố phường buôn bán - thủ công, có thập tam trại rau - hoa - quả, trong đó có trại Hàng Hoa và chợ Hoàng Hoa, được sử biên niên ghi lại từ đầu thế kỉ XVI: - Con gái ở trại Hàng Hoa Ăn cơm nửa bữa, ngủ nhà nửa đêm ... - Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. [ ... ] Ở xứ Bắc, thời Lý có Hoa Lâm (rừng hoa) bên bờ sông Thiên Đức (Đuống). Ở Thành Nam, quê hương Tức Mặc nhà Trần, với hành cung Thiên Trường rồi với biệt cung Trùng Quang của các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông thì cũng mọc dựng những Hoa Nha, Liễu Nha ... vườn hoa, bến liễu, rặng quất vàng! [ ... ] Đến thăm quê cũ nhà Trần, ngoài tháp chùa Phổ Minh, đền Trần, đền Bảo Lộc, ... ta còn bắt gặp các địa danh Hoa Nha, Liễu Nha vang bóng một thời “hào khí Đông A”. Song nơi đó giờ đây không còn bến liễu, vườn hoa ... và dòng sông xưa nay đã hoa nên đồng. Song văn hoa hoa - cây cảnh vẫn được bảo tồn ở Vị Khê - Nam Điền, ở Trình Xuyên (vốn là Trần Xuyên - dòng sông nhà Trần), ở Phụ Long bên bờ Đại Hoàng giang nay mang tên chung sông Cái - Nhị Hà - Hồng Hà. Đấy là những làng vườn hoa - cây cảnh cổ truyền nay được phục hồi một phần ở đầu xóm thôn Tức Mặc, vừa mang giá trị cổ truyền, vừa mang bản sắc mới văn hóa kinh doanh trong cơ chế thị trường ... *** Thú chơi hoa - cây cảnh cần có sự thung dung thong dong của con người không vướng bụi trần [ ... ]. Cần ngày càng nhiều lên một tầng lớp trung lưu, với mức sống có “bát ăn bát để”, nếp sống trung lưu và lối sống đan xen lao động căng tràn và thư giãn buông xả ... Ngày xưa, những nếp nhà ở Kẻ Chợ - Thăng Long, ở phố Hiến Nam, ở Vị Xuyên - Vị Hoàng ... có hình ống: Nhà thị thành là kết quả xoay dọc đầu hồi ra ngoài đường phố của các nếp nhà thôn dã. Lớp nhà trên cách nếp nhà dưới một khoảng sân con. Ở đó, trong ngôi nhà trung lưu nho nhã thường có non bộ, một vài chậu cây cảnh, một gốc đinh lăng, một khóm sói, khóm hồng hay một gốc chi mai ... Nhà ông nội, ông ngoại tôi - những cụ tú, cụ cử quê gốc xứ Nam - thường là vậy: Một ngôi nhà 3 - 5 gian, hàng hiên có tường hoa đặt vài chậu địa lan, trước cửa giữa nhà là đôi sấu, bên cạnh đó là gốc ngâu, gốc mộc. Sân vây “tường hoa", quanh sân đào các hốc trồng đào, mai, tường vi, lửa lựu ... và xếp nhiều chậu bồn cây cảnh đỗ quyên, quất, hồng, ... vườn hoa nhỏ trước sân là vạn tuế, tùng, bách, mẫu đơn, trạng nguyên, quân tử, ... Nay thì cây cảnh - cây hoa phả vào bao lơn các nhà tầng và ngự trị cả ở phòng khách cơ quan cùng vài góc phòng văn của nhà văn hoá ...
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận