(35+ mẫu) Kể lại một truyền thuyết hay nhất - Ngữ văn 6Bánh chưng là loại bánh truyền thống không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam vào ngày Tết Nguyên Đán hàng năm. Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - KHTN... Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Bài mẫu 1 Bánh chưng là loại bánh truyền thống không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam vào ngày Tết Nguyên Đán hàng năm. Vậy bạn có biết ý nghĩa, nguồn gốc của loại bánh này không? Ai là người đã tạo sáng tạo nên bánh chưng? Hãy cũng tôi vượt thời gian, trở về thời vua Hùng để tìm hiểu khám khá về nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy qua truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy nhé. Vào thời vua Hùng Vương, khi ấy nhà vua đang trị vì đất nước đã cao tuổi, muốn tìm một hoàng tử đủ đức, đủ tài, hiếu thảo để truyền ngôi. Ông muốn người kế vị cai quản, bảo vệ giang sơn, đất nước phải là người có tài đức, lý tưởng như ông chứ không nhất thiết phải làm con trưởng. Điều đó gây nên một trận xôn xao trong các hoàng tử. Cuối cùng nhà vua ra chỉ rằng: Vào ngày lễ tiên vương, ai làm ra được một món ăn vừa ngon, lại ý nghĩa, được lòng tất cả mọi người thì sẽ được nối ngôi. Chiếu chỉ vừa ra, tất cả các hoàng tử đều ra sức tìm kiếm những món ngon quý hiếm, sơn hào hải vị từ khắp nơi, chỉ mong làm hài lòng vua cha. Trong lúc ấy, chỉ có người con trai thứ mười tám của ngài - hoàng tử Lang Liêu là chẳng làm gì cả. Bởi chàng có cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn. Nhà chàng chỉ có thóc lúa là nhiều, chứ chẳng có gì cả. Vậy nên, chàng tự bỏ mình ra khỏi cuộc đua giành ngôi báu. Một hôm trong khi nằm mơ, chàng được một vị thần báo mộng, chỉ cho cách làm món bánh ngon, giàu ý nghĩa từ gạo nếp. Nghe theo lời dạy của thần, Lang Liêu chọn thứ gạo nếp thơm lừng, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn. Đến ngày lễ tiên vương, món bánh của Lang Liêu trở thành món bánh vua cha ưng ý nhất. Các cận thần cũng trầm trồ khen ngon. Đã thế món bánh còn rất giàu ý nghĩa, tượng trưng cho sự hòa hợp của đất trời. Vì vậy, thuận lí thành chương, Lang Liêu được vua Hùng chọn trở thành người kế vị. Cũng từ đó, cứ đến dịp Tết, nhân dân ta lại đem gạo nếp ra làm bánh chưng, bánh giầy để đặt lên mâm thờ tổ tiên. Tục lệ ấy đến bây giờ vẫn còn được giữ. Bởi món bánh ấy không chỉ ngon mà còn giàu ý nghĩa nữa. Nếu thiếu đi bánh chưng thì nghĩa là cái Tết ấy chẳng còn trọn vẹn nữa rồi. Bài mẫu 2 Hùng Vương thứ sáu muốn truyền ngôi cho một trong số những người con trai nên đã đưa ra điều kiện: - Không nhất định phải là con trưởng, chỉ cần làm vừa ý vua trong lễ Tiên vương sẽ được truyền ngôi cho. Các hoàng tử cho người đi đến khắp nơi tìm kiếm những của ngon vật lạ để đem về dâng lên vua cha. Lang Liêu là con vua, nhưng lại sống giản dị quen với việc chăm lo đồng áng, trồng lúa trồng khoai. Mẹ của Lang Liêu trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, sau đó mất đi để lại một mình chàng. So với các anh em, chỉ có Lang Liêu là thiệt thòi nhất. Chàng không biết lấy gì để dâng lên Tiên vương. Một đêm nọ, Lang Liêu nằm mơ và được thần mách bảo rằng: - Trong trời đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Hãy lấy gạo mà làm bánh lễ Tiên vương. Khi tỉnh dậy biết mình được thần báo mộng. Chàng lấy gạo nếp vo sạch, lấy đậu xanh thịt lợn làm nhân, gói bằng lá dong thành hình vuông, đem luộc một ngày một đêm. Và cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, đem giã nhuyễn rồi nặn thành hình tròn. Bánh hình vuông tượng trưng cho Trời đặt tên là bánh chưng, còn bánh hình tròn tượng trưng cho Đất đặt tên là bánh giầy. Đến ngày hẹn, các hoàng tử dâng lên biết bao của ngon vật lạ. Đến lượt Lang Liêu, chàng đem hai loại bánh dâng lên cúng Tiên vương. Vua Hùng rất hài lòng và quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Kể từ đó, hằng năm, cứ mỗi khi Tết đến, bánh chưng bánh giầy là món ăn không thể thiếu. Bài mẫu 3 Kho tàng văn học dân gian Việt Nam có rất nhiều những truyền thuyết hay, một trong số đó là truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. Truyền thuyệt này có nhiều những chi tiết sinh động trong cuộc đấu đầy gay cấn để lấy được nàng Mị Nuơng xinh đẹp giữa hai vị thần Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Ngày xưa, vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương. Nàng đẹp như hoa, tính nết lại dịu hiền nên được vua cha yêu thương hết mực. Năm đó, khi mà Mị Nương đã đến tuổi lấy chồng, nhà vua muốn kén được một chàng rể trí dũng, tài ba để xứng đáng với sắc đẹp của nàng. Nghe tin nhà vua kén rể, có rất nhiều chàng trai mong muốn lấy được nàng công chúa xinh đẹp này. Một ngày nọ, có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người đến từ vùng núi Tản Viên, người ta thường gọi chàng là Sơn Tinh. Chàng có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Một người kia đến từ miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Mọi người gọi chàng là Thuỷ Tinh. Cả hai người đều tài giỏi, xứng đáng trở thành rể của vua Hùng. Vua Hùng băn khoăn không biết lựa chọn ai nên cho mời các Lạc hầu và bàn bạc. Xong xuôi, vua phán rằng: - Hai chàng đều xứng đáng làm con rể ta, tuy nhiên ta lại chỉ có một người con gái nên không thể gả cho cả hai chàng được. Vì vậy, ngày mai ai đem sính lễ đến trước thì ta sẽ gả con gái cho. Sính lễ gồm có: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi". Ngày hôm sau, mới tờ mờ sáng Sơn Tinh đã mang đầy đủ các lễ vật đến để rước Mị Nương về. Mãi đến gần trưa Thuỷ Tinh mới đến, không lấy được vợ nên nổi giận, làm phép đuổi đánh Sơn Tinh đòi cướp lại Mị Nương. Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước. Thế nhưng Sơn Tinh không hề nao núng, chàng dùng phép thuật của mình để bốc từng dãy núi, ngọn đồi đắp lên thành một con đê khổng lồ, vững chắc để ngăn chặn dòng nước lũ. Cuộc chiến này kéo dài tưởng chừng không có hồi kết, thế nhưng sức Thuỷ Tinh đã đuối mà Sơn Tinh vẫn vững vàng nên đã vội rút quân về. Thuỷ Tinh vẫn mang một nỗi thù oán nặng sâu nên hằng năm vẫn dâng nước lên đánh Sơn Tinh mong cướp lại được Mị Nương về. Nhưng năm nào cũng vậy, Thuỷ Tinh đánh mãi cũng không thắng nổi Sơn Tinh nên lại rút quân về. Bài mẫu 4 Vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái. Nàng tên là Mị Nương, vốn xinh đẹp tuyệt trần lại nết na hiền dịu. Nhà vua hết mực yêu thương, nên muốn tìm cho nàng một người chồng xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Tên của chàng là Sơn Tinh. Người còn lại tài năng cũng chẳng hề thua kém: gọi gió gió đến, hô mưa mưa về. Tên của chàng là Thủy Tinh. Nhà vua thấy cả hai ngang sức, ngang tài thì vô cùng khó xử, không biết chọn ai. Vua cho gọi các Lạc hầu vào cung bàn bạc, rồi đưa ra quyết định: - Cả hai người đều vừa ý ta, nhưng ta lại chỉ có một người con gái. Vậy nên, ngày mai, ai mang sính lễ đến trước sẽ được ta gả con gái cho. Sơn Tinh và Thủy Tinh nghe xong, liền hỏi xem sính lễ cần gì. Vua Hùng nói rằng: - Sính lễ gồm có một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà gà chín cựa ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Nghe xong, Sơn Tinh và Thủy Tinh liền cáo từ. Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, được đón Mị Nương về. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, liền đem quân đuổi đánh Sơn Tinh. Thần nước hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời. Nước ngập khắp các đồng ruộng nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi sườn núi. Cả thành Phong Châu nổi lềnh bềnh trên một biển nước, dân chúng khắp nơi đều khổ sở. Sơn Tinh chẳng hề nao núng. Thần dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, chặn dòng nước lũ. Cứ thế, nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi lại dâng lên bấy nhiêu. Suốt mấy tháng trời, hai thần vẫn giao chiến. Cuối cùng, sức cùng lực kiệt, Thủy Tinh đành phải rút quân. Nhưng kể từ đó, mối thù càng tăng thêm. Năm nào, Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng vẫn phải nhận lấy thất bại. Bài mẫu 5 Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nổi tiếng là chăm chỉ, hiền lành và phúc đức. Hai ông bà đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con. Một lần, bà ra đồng thì trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân lên ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Đến khi về nhà, bà lại thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Kì lạ là, đứa trẻ lên ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, ai đặt đâu thì ngồi đấy. Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Thế giặc mạnh khiến nhà vua lo sợ. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng sứ giả bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, cậu liền bảo: “Ông về tâu với nhà vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, liền vội vàng về tâu với nhà vua. Kể từ sau hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no. Hai vợ chồng làm ra không đủ để nuôi con, phải nhờ cậy bà con hàng xóm. Ai cũng vui vẻ giúp đỡ vì đều mong cậu bé có thể đánh tan lũ giặc. Lúc bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước lúc này rất nguy. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Bỗng, chú bé vùng dậy, vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc. Giặc bị tiêu diệt hết lớp này đến lớp khác. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm lên nhau chạy trốn. Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Nhà vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Người ta còn kể rằng những bụi tre ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng, còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Người ta còn kể rằng ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy. Bài mẫu 6 Vào thời Hùng Vương, có hai vợ chồng đã cao tuổi nhưng vẫn chưa có con. Một hôm, bà ra đồng, thấy một vết chân to lớn bên đường, bà đặt chân vào đó, không ngờ bà mang thai. Chín tháng sau, bà sinh một cậu bé, nhưng kỳ lạ, suốt ba năm trời cậu bé không biết cười, không biết nói, chỉ nằm một chỗ. Bỗng một ngày, giặc Ân sang xâm lược đất nước ta. Vua Hùng ra chiếu tìm người tài giỏi giúp đất nước. Khi nghe tin sứ giả, cậu bé bỗng dưng nhổm dậy, lần đầu tiên lên tiếng nói: "Mẹ ơi, mời sứ giả đến cho con!". Sứ giả đến, cậu bé yêu cầu vua ban cho một bộ áo giáp sắt, ngựa sắt và roi sắt để ra trận đánh giặc. Từ khi được sứ giả ghé thăm, cậu bé bỗng dưng lớn nhanh như thổi, chỉ trong vòng vài ngày đã cao lớn như thanh niên tráng kiện. Khi đủ đồ, cậu bé khoác áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, tay cầm roi sắt, vùng vẫy xông trận. Cậu bé đánh đuổi giặc, roi gãy thì nhổ cả gốc tre bên đường làm vũ khí. Giặc Ân bị đánh tan tác, thảm bại không còn manh giáp. Sau khi thắng trận, Thánh Gióng dắt ngựa phi thẳng lên trời, để lại cho nhân gian đền thờ tưởng nhớ công ơn. Người dân ghi nhớ công lao to lớn của Thánh Gióng, lập nhiều đền, miếu thờ phụng khắp nơi. Truyền thuyết Thánh Gióng ca ngợi tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và sự kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Câu chuyện nhắc nhở mỗi người về lòng biết ơn tổ tiên và sự trân trọng những giá trị truyền thống quý báu. Bài mẫu 7 Lúc bấy giờ, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Chúng bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Ở vùng núi Lam Sơn, Lê Lợi đã thành lập nghĩa quân, ngày đêm rèn sức luyện tài để đợi ngày đánh giặc. Do nghĩa quân mới thành lập chưa lâu nên lực lượng còn non yếu lại gặp nhiều khó khăn. Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người tên là Lê Thận làm nghề đánh cá. Lê Thận khi kéo lưới thấy nặng tưởng rằng cá to. Hóa ra khi vớt lên chỉ thấy một thanh thanh sắt, liền vứt xuống sông. Liên tiếp ba lần như vậy, Lê Thận thấy kỳ lạ nên đã quyết định đem về nhà. Về sau, Lê Thận tham gia nghĩa quân Lam Sơn, chiến đấu vô cùng dũng cảm. Một lần nọ, Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Lê Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Trong một lần bị giặc đuổi, Lê Lợi cùng tùy tùng đi qua một khu rừng, nhặt được một cái chuôi. Ông trèo lên cây xem thử thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông liền mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in. Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên làm vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Một ngày nọ, nhà vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy một con Rùa Vàng nổi lên. Rùa không sợ người, còn nói với với vua: - Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân. Sau khi nghe Rùa Vàng nói, nhà vua bèn đem gươm báu trả lại rồi nói: - Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà. Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm (hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm). Bài mẫu 8 ấy giờ, giặc Minh đô hộ nước ta. Chúng coi nhân dân như cỏ rác, bọc lột đến tận xương tủy. Thiên hạ đều căm hận. Ở vùng Lam Sơn, có nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu lực lượng còn yếu, thiếu thốn đủ bề nên phải nhận thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân mới cho mượn gươm thần để họ đánh giặc. Ở Thanh Hoá, có người làm nghề đánh cá. Tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận đi thả lưới như thường lệ. Khi kéo lưới lên, thấy nằng nặng, Thận nghĩ rằng đánh được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, chàng chỉ thấy có một thanh sắt. Chàng vứt luôn thanh sắt xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Đến lần thứ hai cũng thấy nặng tay, Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại ném xuống sông. Lần thứ ba, vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Thấy lạ, Thận đưa thanh sắt lại cạnh mồi lửa nhìn xem. Chàng reo lên: - Thì ra là một lưỡi gươm! Sau này, Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tùng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lên xem và thấy có hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Nhưng vẫn không ai không hay biết gì. Đến một lần nọ, bị giặc phục kích, Lê Lợi và các tướng rút lui mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, ông bỗng thấy có ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. lê Lợi trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, ông rút lấy chuôi giắt vào lưng. Mấy ngày sau, Lê Lợi gặp lại mọi người, trong đó có Lê Thận. Lê Lợi đem chuyện chuôi gươm kể cho họ nghe. Rồi đem chuôi gươm tra vào lưỡi gươm thì vừa như in. Lê Thận quỳ xuống, nâng gươm lên rồi nói: - Đây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đi theo minh công, cùng với thanh gươm đền báo Tổ quốc. Kể từ khi có thanh gươm quý, nhuệ khí của nghĩa quân mỗi lúc một tăng. Quân Minh bại trận liên tiếp. Đất nước được độc lập. Chủ tướng Lê Lợi lên ngôi vua. Một năm sau, nhà vua cho cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân đó, đức Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại thanh gươm báu. Rùa Vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!”. Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Rùa liền há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Kể từ đó, hồ Tả Vọng được đổi tên thành hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm. Bài mẫu 9 Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Người anh tham lam, khi chia gia tài liền chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. Người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho mảnh vườn và cây khế. Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em ra quả rất sai. Từng chùm quả chín vàng nhưng nặng lúc lỉu trên cành. Người em nhìn cây khế mà vui mừng, tính đem bán để lấy tiền mua gạo. Một hôm, có con chim lạ từ đâu bay đến ăn khế. Thấy cây khế bị chim ăn xơ xác người em ôm mặt khóc. Chim bỗng cất lời: "Ăn một quả trả một cục vàng May túi ba gang, mang đi mà đựng" Người em nghe chim nói tiếng người lấy làm kinh ngạc, bèn về kể cho vợ nghe. Hai vợ chồng may một chiếc túi vừa đúng ba gang, chờ chim đến. Hôm sau, chim bay đến, bảo người em ngồi lên lòng mình. Chim bay rất xa, dên một hòn đảo đầy vàng bạc giữa biển khơi bao la. Người em lấy vàng bỏ đầy túi ba gang rồi lại theo chim trở về nhà. Từ đó, người em trở nên giàu có. Người anh nghe thấy em giàu liền sang chơi và lân la hỏi chuyện. Em không giấu giếm kể lại cho anh tường tận mọi điều. Người anh nằng nặc đòi đổi nhà cửa ruộng vườn của mình lấy mảnh vườn và cây khế, người em dù không muốn nhưng thấy anh cương quyết quá cũng đành đổi cho anh. Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu những quả vàng chín mọng, người anh khấp khởi mừng thầm, ngày ngày ngóng chờ con chim lạ tới. Thế rồi một hôm, chim tới ăn khế, người anh giả vờ khóc lóc, chim cũng nói: "Ăn một quả trả một cục vàng May túi ba gang, mang đi mà đựng" Người anh nghe vậy, mừng như mở cờ trong bụng, vội vã cùng vợ may một chiếc túi to thật là to. Hôm sau chim tới đưa người anh đi lấy vàng ở hòn đảo xa lạ nọ. Nhìn thấy vàng bạc châu báu trên đảo, người anh vội vàng nhét đầy túi to, lại còn giắt khắp người. Khi người anh leo lên lưng chim, chim phải vỗ cánh mấy lần mới bay lên được. Vì quá nặng nên chim bay chậm, mãi vẫn ở trên biển. Chim bảo người anh vứt bớt vàng bạc đi nhưng anh ta không chịu. Chim nặng quá, nghiêng cánh, thế là người anh tham lam cùng túi vàng rơi xuống biển sâu, không bao giờ trở về được nữa. Bài mẫu 10 "Cây tre trăm đốt" là một trong những truyện cổ tích nổi tiếng của Việt Nam mà tôi yêu thích nhất. Truyện xoay quanh hành trình của anh nông dân nghèo khổ, chăm chỉ được bụt giúp đỡ để đối phó với phú hộ tham lam và cưới được vợ hiền. Hãy cùng tôi khám phá hành trình đầy thú vị và ý nghĩa này trong câu chuyện "Cây tre trăm đốt" nhé. Truyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê nhỏ, có chàng trai tên Khoai nổi tiếng hiền lành, chăm chỉ. Khoai thường xuyên đi cày thuê, cuốc mướn cho nhà ông phú hộ giàu có trong làng. Hai vợ chồng phú hộ rất keo kiệt, luôn tìm cách lợi dụng anh Khoai. Một hôm, ông phú hộ hứa với Khoai rằng nếu anh chịu khó làm lụng cho họ trong ba năm, ông sẽ gả con gái xinh đẹp của mình cho anh. Thế nhưng, ba năm trôi qua, ông phú hộ đã quên lời hứa và dự định gả con gái cho một chàng trai giàu có khác trong làng. Khi Khoai đến hỏi về hôn sự, ông phú hộ đã đưa ra một điều kiện khó khăn: “ “Mày muốn lấy con gái của tao thì phải lên rừng, tìm ngay cho tao một cây tre có trăm đốt để làm nhà cưới vợ, thì tao mới gả con gái tao cho mày”. Khoai buồn bã đi tìm cây tre trăm đốt nhưng mãi không thấy. Trong lúc tuyệt vọng, anh ngồi ôm mặt khóc thì bỗng có một ông lão râu tóc bạc phơ xuất hiện và hỏi: “Tại sao con khóc?” Khoai kể lại câu chuyện của mình. Ông lão nghe xong liền chỉ bảo rằng: “Con hãy chặt đủ 100 đốt tre rồi đọc câu thần chú ‘Khắc nhập’ ba lần, thì chúng sẽ tự động kết nối lại thành một cây tre đủ trăm đốt.” Làm theo lời dặn, Khoai chặt đủ 100 đốt tre. Khi đọc câu thần chú, một cây tre trăm đốt hiện ra trước mắt anh. Tuy nhiên, cây tre quá dài khiến anh không thể mang về. Ông lão lại bảo anh đọc: “Khắc xuất, khắc xuất” ba lần để tách các đốt ra. Khoai gánh các khúc tre về nhà nhưng khi đến nơi, anh phát hiện hai họ đang ăn uống vui vẻ chuẩn bị rước dâu cho người khác. Anh không nói gì mà chờ đến lúc nhà trai đốt pháo cưới, rồi lặng lẽ xếp 100 khúc tre dưới đất và đọc: “Khắc nhập, khắc nhập.” Ngay lập tức, cây tre trăm đốt xuất hiện. Ông phú hộ không tin vào mắt mình và sờ tay vào cây tre để kiểm tra. Nhưng khi Khoai đọc tiếp: “Khắc nhập, khắc nhập,” ông ta bị dính vào cây tre không thể thoát ra. Thấy vậy, ông thông gia cũng chạy đến định giúp nhưng cũng bị dính theo. Cuối cùng, cả hai ông đều van xin Khoai thả họ ra và hứa sẽ giữ lời hứa gả con gái cho anh. Khoai đồng ý và đọc: “Khắc xuất, khắc xuất” để giải thoát cho họ. Từ đó trở đi, anh nông dân và con gái ông phú hộ sống hạnh phúc bên nhau suốt đời. Truyện cổ tích Cây tre trăm đốt không chỉ mang lại những phút giây thư giãn, mà còn nhắn gửi đến người đọc bài học sâu sắc về tính trung thực và sự công bằng, rằng người sống gian dối sẽ phải nhận trái đắng từ hành động của mình. Bài mẫu 11 Từ ngày còn bé em đã rất yêu thích những câu chuyện cổ tích. Trong đó, em thích nhất là Sự tích cây khế, câu chuyện kể về hai anh em nhà nghèo cùng chú chim thần ăn khế trả vàng. Qua đó gửi đến bài học sâu sắc về lòng tham lam của con người. Hôm nay, em xin kể cho mọi người cùng nghe câu chuyện Sự tích cây khế nhé! Ngày xưa ngày xưa, ở một làng nọ, có gia đình cha mẹ mất sớm, để lại hai anh em mồi côi bơ vơ, phải sống nương tựa vào nhau. Ngày qua ngày, hai anh em lớn dần lên. Thế rồi người anh cũng đi lấy vợ. Vợ chồng người anh tham lam, giành hết của cải với lí do phải lo hương hỏa cho cha. Họ chỉ chia cho em khoảnh đất nhỏ có trồng một cây khế. Người em hiền lành và siêng năng, ngày ngày chăm chút cho cây. Đến ngày thu hoạch, người em buồn rầu vì một đàn chim lạ đến ăn gần hết những quả khế ngọt mà chàng đã dày công vun trồng. Đang ngồi bó gối ủ rũ, giọt ngắn giọt dài khóc lóc cho số phận hẩm hiu của mình, người em nghe văng vẳng tiếng nói phát ra từ trên cành khế: “Chúng tôi không phải chim thường đâu. Ăn khế trả vàng. May túi ba gang, mang theo mà đựng”. Y lời hẹn, sáng sớm hôm sau, Chim Thần dịu anh trên lưng và bay ra một hòn đảo xa tít ngoài khơi. Trên đảo không một bóng người, không có dấu hiệu của sự sống, chỉ toàn vàng bạc châu báu. Bản chất thật thà, người em làm đúng lời dặn của Chim Thần. Chim mang chàng về nhà với túi ba gang đầy vàng bạc đủ sống cả đời. Cuộc sống người em thay đổi. vẫn lao động chăm chỉ, thêm của cải trời cho, chẳng bao lâu, người em trở nên giàu có nhất vùng. Người anh hay tin tìm đến để rõ ngọn nguồn. Sau khi nghe em kể đầu đuôi câu chuyện, người anh đề nghị đổi cả gia tài để lấy mảnh đất nhỏ có cây khế. Người anh cũng gặp và được Chim Thần hứa trả vàng sau khi ngồi khóc than, kể lể. Vốn tính tham lam, thêm nghe lời vợ xúi, người anh đã may ba bao, mỗi bao dài bảy gang, trái hẳn với lời dặn của Chim Thần. Dọc đường bay về, vì số của cải quá nặng, Chim Thần kêu người anh bỏ bớt nhưng vì tham lam, tiếc của, hắn không nghe. Kết quả, chim đuối sức, chao cánh và kẻ tham lam bị rơi xuống biển cùng số của cải. Kẻ tham lam và tàn nhẫn với máu mủ ruột thịt có một kết cục bi đát. Một câu chuyện thật hay, để lại cho chúng ta một bài học quý giá trong cuộc đời, đó là “Tham thì thâm”. Bài mẫu 12 Câu tục ngữ Ở hiền gặp lành có giá trị nhân văn cao đẹp, là bài học về đạo lý làm người được ông cha ta truyền dạy cho con cháu tự ngàn đời nay. Đạo lý ấy cũng thấm đượm trong những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích mà mẹ và bà vẫn thường kể cho em nghe. Trong đó tiêu biểu câu chuyện Thạch Sanh đã để lại cho em nhiều bài học hay. Thạch Sanh là truyện kể về người anh hùng mang sức mạnh phi thường, có tấm lòng nhân hậu, chiến đấu chống cái ác, bảo vệ bình yên cho người dân. Câu chuyện bắt đầu từ thời xa xưa, trong một ngôi làng tại quận Cao Bình có đôi vợ chồng nghèo khó sống qua ngày bằng công việc lên rừng đốn củi đổi lấy gạo. Với tính cách hiền lành, thật thà luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người xung quanh, nhưng lạ thay mãi mà họ vẫn chưa có một đứa con. Thấy thế Ngọc Hoàng thương cảm bèn sai thái tử xuống đầu thai làm con cho gia đình đó. Người vợ mang thai không được bao lâu thì người chồng qua đời, rồi người vợ cũng theo chồng mình từ giã cõi đời chỉ sau một thời gian ngắn sinh con. Cậu bé sống trong một túp lều cũ bên gốc đa, mồ côi cha mẹ nên mọi người gọi là Thạch Sanh. Mỗi ngày cậu bé đều dùng chiếc lưỡi búa của cha để lại lên rừng đốn củi kiếm sống. Một ngày nọ, Lý Thông – chàng trai con nhà cất rượu đã ghé qua gốc đa nghỉ mát thì gặp Thạch Sanh, thấy chàng khỏe mạnh, chăm chỉ nên Lý Thông đã nảy sinh mưu đồ lợi dụng. Hắn muốn kết nghĩa anh em và Thạch Sanh cảm động vì được quan tâm nên đã đồng ý theo hắn ta về nhà. Một con Chằn tinh hung ác ăn thịt người, có phép lạ lúc bấy giờ xuất hiện trong làng khiến ai cũng khiếp sợ. Mỗi năm đều đặn phải khấn cho nó một mạng để có thể sống yên ổn qua ngày. Lần này đến lượt Lý Thông nạp mình, hai mẹ con hắn đã mưu kế lừa Thạch Sanh đến thay mình. Tuy nhiên con Chằn tinh đã bị hạ gục, hiện hình là một con trăn lớn nhờ vào sức mạnh của chàng cùng vũ khí là chiếc búa. Thạch Sanh trở về đem theo bộ cung bằng vàng của con yêu quái đó. Không dừng lại ở đây, Lý Thông tiếp tục lừa gạt Thạch Sanh rồi đến tâu vua mình đã hạ thủ Chằn Tinh nên đã được phong làm đô đốc. Dù đã đến tuổi lấy chồng mà công chúa mãi chưa tìm thấy chàng trai vừa ý. Thế là nhà vua bèn tổ chức một ngày hội lớn, cơ hội cho các hoàng tử nước láng giềng và con trai trong thiên hạ đến, công chúa sẽ từ trên lầu cao ném quả cầu may, ai nhặt được thì vua sẽ gả công chúa cho người đó. Con Đại bàng – một con yêu tinh trên núi tình cờ bay qua và mang theo công chúa đi. Ngồi dưới gốc đa Thạch Sanh đã nhìn thấy lần theo được tới chỗ ở của quái vật qua vết máu khi chàng bắn vào con quái vật. Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, hứa sẽ gả cho hắn và truyền ngôi. Thế là hắn bèn tìm đến Thạch Sanh nhờ giúp đỡ. Khi công chúa được Thạch Sanh giải cứu an toàn thì Lý Thông dở trò, nhốt luôn chàng ở trong hang. Con Đại bàng cũng bị tiêu diệt sau một trận đánh kịch liệt, cùng lúc đó chàng đã tìm thấy và cứu thoát con trai của Vua Thủy. Thạch Sanh được vua ban ơn cho rất nhiều vàng ngọc nhưng chàng chỉ xin lấy cây đàn thần rồi trở lại gốc đa. Vì oán hận nên hôn của chằng tinh và đại bàng đã quay lại trả thù khiến Thạch Sanh bị bắt vào ngục. Từ khi được cứu trở về thì công chúa không nói cũng chẳng cười khiến nhà vua lo lắng. Khi tiếng đàn của Thạch Sanh cất lên đã hóa giải, giúp công chúa trở lại bình thường. Nhà vua lúc này đã biết được hết sự thật về công lao của Thạch Sanh và bộ mặt tàn ác của mẹ con Lý Thông. Vua cho chàng xử tội nhưng chàng đã tha cho hai mẹ con nhà Lý Thông quay về làm ăn. Quả nhiên trên đường trở về họ đã bị sét đánh chết. Về sau vì không có con nên vua đã truyền lại ngôi cho Thạch Sanh. Bài mẫu 13 Mỗi tối, những câu chuyện kể thú vị của bà, của mẹ đưa em vào giấc ngủ ngọt lành. Và trong đó em thích nhất là truyện cổ tích Tấm Cám với bà tiên, phép thuật cùng những bài học ý nghĩa, sâu xa. Tấm và Cám là hai chị em nhưng là cùng cha khác mẹ. Mẹ Cám chỉ biết quan tâm, lo lắng và chiều chuộng con gái mình, ngược lại luôn hành hạ, sai khiến và chửi mắng Tấm, bắt Tấm làm mọi việc trong nhà. Cả buổi chiều Tấm hì hụi lội bùn bắt được một giỏ đầy tép lại bị Cám cướp trắng chỉ còn lại một chú cá bống nhỏ. Đó là con cá bống mà bụt ban cho Tấm, Tấm đem cá về nuôi dưới giếng, hàng ngày cho cá ăn. Một hôm hai mẹ con Cám đã lừa tấm làm thịt cá bống vứt tro vào bếp. Nhờ có Bụt mà Tấm tìm được đống xương cá trong tro bếp sau đó bỏ vào bốn cái lọ chôn dưới chân giường. Ngày nọ, vua cho mở hội linh đình, ai nấy đều sắm sửa đi trẩy hội, Tấm cũng muốn đi nhưng lại bị mụ dì ghẻ bắt ở nhà. Khi ấy bụt lại hiện lên, khiến đàn chim sẻ nhặt thóc và gạo thành hai đống khác nhau lại còn biến hóa đống xương cá thành áo lụa, giày thêu, ngựa và yên cương đẹp đẽ. Tấm trên đường đi trẩy hội đã làm rơi chiếc giày. Nhà vua khi đi vi hành đã vô tình nhặt được, bèn ra lệnh nếu ai đi vừa chiếc giày này sẽ làm vợ vua. Thế là Tấm được trở thành hoàng hậu, sống hạnh phúc bên nhà vua anh tuấn. Tuy nhiên ngay sau đó mẹ con Cám đã hãm hại, lừa Tấm trèo lên cây cau cao rồi chặt cây khiến Tấm chết. Về sau Tấm hóa thân thành nhiều thứ khác nhau để luôn được bên cạnh vua lại có thể trừng phạt mẹ con Cám. Lúc thì hóa thân thành con chim vàng anh hót bên cạnh nhà vua, lúc lại là hai cây xoan đào che mát, lúc là khung cửi và cuối cùng là quả thị. Quả thị được bà lão hàng nước đem về để trong nhà. Hàng ngày Tấm bước ra từ quả thị dọn dẹp nhà cửa nấu cơm cho bà lão. Bà lão khi phát hiện ra Tấm liền không cho Tấm trở lại vào quả thị nữa. Nhờ miếng trầu têm của Tấm mà nhà vua phát hiện ra vợ mình sau đó đón Tấm trở về cung. Lần này Tấm về, Cám bèn xin cách làm sao lại càng trẻ đẹp ra như thế. Tấm liền chỉ cách tắm nước sôi, thế là Cám chết. Sau đó Tấm gửi lọ mắm về cho mụ dì ghẻ, mụ ta khi biết hũ mắm được làm từ con gái liền lăn ra chết. Kết thúc chuyện chúng ta thấy được chân lý "ở hiền gặp lành, ác giả ác báo" không bao giờ sai. Làm người phải luôn nhớ gieo nhân nào sẽ gặp quả đó. Bài mẫu 14 Bánh chưng, bánh giầy là hai loại bánh truyền thống của Việt Nam, tượng trưng cho lòng biết ơn của con cháu đối với ông bà tổ tiên và quê hương xứ sở. Vậy bạn có biết nguồn gốc của Bánh chưng, bánh giầy không? Hãy cùng tôi ngược dòng thời gian, trở về quá khứ nơi truyền thuyết về Bánh chưng, bánh giầy bắt đầu! Ngày xửa ngày xưa, ở đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho". Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng. Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào. Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành" Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Giầy. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Giầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18. Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì người dân Việt Nam đều làm bánh Chưng và bánh Giầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. Bài mẫu 15 Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao người Việt Nam lại tự gọi mình là Con Rồng cháu Tiên, con cháu Vua Hùng? Mái tóc đen, màu da vàng, dòng máu đỏ ấm nóng của chúng ta được thừa hưởng từ ai? Và truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên sẽ giải đáp cho chúng ta xuất thân của chính bản thân mình. Chuyện kể rằng ngày xưa ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, sức khoẻ vô địch và có nhiều phép lạ. Thần thường sống dưới nước, thỉnh thoảng lên cạn diệt trừ yêu quái giúp dân và dạy dân chăn nuôi trồng trọt… Bấy giờ ở vùng núi cao phương Bắc có nàng Âu Cơ thuộc dòng dõi Thần Nông. Biết vùng Lạc Việt nhiều hoa thơm cỏ lạ nên nàng đến thăm. Tại đây, nàng gặp Lạc Long Quân. Họ yêu nhau, kết duyên đôi lứa, sống tại cung điện Long Trang trên cạn. Không lâu sau, Âu Cơ có mang. Mọi người mừng rỡ chờ ngày nàng nở nhụy khai hoa. Nhưng thật kì lạ, đến kì sinh nở, nàng sinh ra một bọc trăm trứng, sau trăm trứng lại nở ra trăm người con hồng hào bụ bẫm. Đàn con chẳng cần bú mớm, lớn nhanh như thổi, đứa nào đứa nấy mặt mũi khôi ngô, sức khoẻ vô địch. Một ngày nọ, Lạc Long Quân bỗng nhớ biển cồn cào, chàng bèn về thuỷ cung, để lại Âu Cơ và đàn con đêm ngày nhớ mong buồn tủi. Mãi rồi một hôm, Âu Cơ đành phải gọi Lạc Long Quân lên, nàng than thở: - Sao chàng lại bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con? Lạc Long Quân ngậm ngùi: - Ta thuộc nòi rồng, quen sống dưới vùng nước thẳm, nàng là tiên nữ, quen sống chốn non cao. Kẻ trên cạn, người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở với nhau lâu dài được. Nay ta đem năm mươi người con xuống biển, nàng đem năm mươi người con lên núi, chia nhau cai quản đất đai, khi có việc cần thì giúp đỡ nhau. Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng: - Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót. Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ: - Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau. Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói: - Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau. Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi: - Nàng đừng làm mủi lòng ta. Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta. Âu Cơ mang năm mươi người con lên rừng. Người con trưởng của Âu Cơ lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Triều đình có đủ tướng văn tướng võ. Con trai được gọi là Lang, con gái gọi là Mị Nương. Khi cha chết, ngôi báu được truyền cho con trưởng. Cứ thế, mười mấy đời vua Hùng đã thay nhau trị vì đất nước, không hể thay đổi hiệu Hùng Vương. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên, coi tổ tiên mình là vua Hùng. |
Danh sách bình luận