Soạn bài Nam quốc sơn hà SGK Ngữ văn 8 tập 2 Chân trời sáng tạo - chi tiết

Tìm đọc thông tin về cuộc kháng chiến chống quân Tống của nhà Lý và trận chiến dọc phòng tuyến sông Như Nguyệt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt (năm 1077)

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 8 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - Khoa học tự nhiên

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chuẩn bị đọc

(trang 7, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Tìm đọc thông tin về cuộc kháng chiến chống quân Tống của nhà Lý và trận chiến dọc phòng tuyến sông Như Nguyệt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt (năm 1077).

Phương pháp giải:

Tìm hiểu qua sách báo, internet…

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn diễn ra ở một khúc sông Như Nguyệt (hay sông Cầu) vào năm 1077, là trận đánh có tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống-Việt, 1075-1077, và là trận đánh cuối cùng của nhà Tống trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng của quân đội Đại Việt và thiệt hại nhân mạng lớn của quân Tống, đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược Đại Việt của họ, buộc họ phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- (1077), trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn diễn ra ở một khúc sông Như Nguyệt (hay sông Cầu)

- Là trận đánh có tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống-Việt (1075-1077), và là trận đánh cuối cùng của nhà Tống trên đất Đại Việt.

- Trận chiến kết thúc bằng chiến thắng của quân đội Đại Việt và thiệt hại nhân mạng lớn của quân Tống

1. Diễn biến:

- Quách Quỳ cho quân vượt sông đánh phòng tuyến của ta nhưng bị quân ta phản công quyết liệt làm chúng không tiến vào được.

- Cuối xuân 1077 Lý Thường Kiệt cho quân vượt sông bắt ngờ đánh vào đồn giặc.

 2. Kết quả:

- Quân giặc “Mười phần chết đến năm sáu phần”.

- Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa và rút quân về nước.

3. Nguyên nhân - Ý nghĩa:

- Sự ủng hộ tinh thần đoàn kết của quân dân ta

- Tài chỉ huy của Lý Thường Kiệt

- Là trận đánh tuyệt vời trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

- Củng cố nền độc lập tự chủ của dân tộc.

- Đập tan mộng xâm lược Đại Việt của nhà Tống.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trải nghiệm cùng VB

(trang 8, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Em hiểu thế nào là “thiên thư”?

Phương pháp giải:

Xác định nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- “Thiên” có nghĩa là Trời

- “Thư” có nghĩa là Sách

=> “Thiên thư” được hiểu là sách trời

Xem thêm
Cách 2

 “Thiên thư” được hiểu là sách trời

Xem thêm
Cách 2

Cách 3

- Thiên – trời, thư – sách

=> Thiên thư: sách trời.

Xem thêm
Cách 4

“thiên thư” tức là sách trời là nói đến thuyết “Nhị thập bát tú” của một số quốc gia Á châu cổ đại, đặc biệt là Trung Hoa. “Nhị thập bát tú” là cách gọi của 28 chòm sao nằm trên bầu trời theo cách chia trong thiên văn học cổ đại. Hay còn có cách hiểu khách là sách trời, là bờ cõi được phân chia theo ý trời.

Xem thêm
Cách 4

Suy ngẫm và phản hồi 1

Câu 1 (trang 8, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Xác định bố cục của bài thơ.

Phương pháp giải:

Đọc và xác định mạch thơ

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Bố cục của bài thơ có thể được xác định theo hai cách:

- Cách 1: có thể chia bố cục bài thơ thành bốn phần

+ Khai (câu 1): giới thiệu vấn đề chủ quyền với giọng điệu rõ ràng, cương quyết.

+ Thừa (câu 2): bổ sung ý đã nhắc đến ở câu 1 và giữ mạch cảm xúc.

+ Chuyển (câu 3): chuyển ý sang vấn đề xâm lược lãnh thổ của quân giặc.

+ Hợp (câu 4): khẳng định kết cục không tốt đẹp của quân giặc khi xâm lược lãnh thổ nước Nam.

- Cách 2: có thể chia bố cục bài thơ thành hai phần

+ Câu 1 – 2: giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay đổi của chủ quyền đất nước.

+ Câu 3 – 4: cảnh cáo việc quân giặc sang xâm lược và khẳng định kết cục không tốt đẹp của quân giặc khi xâm lược lãnh thổ nước Nam.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

 

Bố cục của bài thơ có thể được xác định theo hai cách

Cách 1

- Khai (câu 1): giới thiệu vấn đề chủ quyền với giọng điệu rõ ràng, cương quyết.

- Thừa (câu 2): bổ sung ý đã nhắc đến ở câu 1 và giữ mạch cảm xúc.

- Chuyển (câu 3): chuyển ý sang vấn đề xâm lược lãnh thổ của quân giặc.

- Hợp (câu 4): khẳng định kết cục không tốt đẹp của quân giặc khi xâm lược lãnh thổ nước Nam.

Cách 2

- Câu 1 – 2: giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay đổi của chủ quyền đất nước.

- Câu 3 – 4: cảnh cáo việc quân giặc sang xâm lược và khẳng định kết cục không tốt đẹp của quân giặc khi xâm lược lãnh thổ nước Nam.

2 phần:

- Câu 1,2: Giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay

đổi của chủ quyền đất nước.

- Câu 3,4: cảnh cáo việc quân giặc sang xâm lược và khẳng định kết cục không tốt đẹp của chúng khi xâm lược lãnh thổ nước Nam.

- Bố cục:

Câu 1: Khai – mở vấn đề: Nước Nam là một nước có chủ quyền, có vua.

Câu 2: Thừa – tiếp tục phát triển ý của câu 1: Điều đó được ghi rõ ở sách trời.

Câu 3: Chuyển: hỏi tội kẻ thù.

Câu 4: Hợp – khép lại, khẳng định vấn đề: Chúng bay mà sang xâm lược thì sẽ chịu kết cục thảm hại.

⟹ Bố cục của bài thơ rất chặt chẽ, khiến cho những luận cứ đưa ra đều rất thuyết phục.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Suy ngẫm và phản hồi 2

Câu 2 (trang 8, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Theo em, bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt luật Đường như thế nào?

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức về thơ Đường, đặc biệt là thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Luật: Tuân thủ theo luật trắc vần bằng

- Số câu: 4

- Số chữ trong câu: 7

- Niêm: Chữ thứ hai của câu 1 là “trắc” niêm với chữ thứ hai của câu 4 cũng là “trắc”, chữ thứ hai của câu 2 là “bằng” niêm với chữ thứ hai của câu 3 cũng là “bằng”.

- Vần: chỉ hiệp theo một vần ở các câu 1, 2 và 4 (cư – thư – hư)

- Đối: thơ tứ tuyệt không có quy định đối cụ thể và khắt khe như thất ngôn bát cú

=> Kết luận: Bài thơ tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt luật trắc vần bằng theo luật Đường.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

- Luật: luật trắc vần bằng

- Số câu: 4

- Số chữ: 7 chữ/câu

- Niêm: Chữ thứ hai của câu 1 là “trắc” niêm với chữ thứ hai của câu 4 cũng là “trắc”, chữ thứ hai của câu 2 là “bằng” niêm với chữ thứ hai của câu 3 cũng là “bằng”.

- Vần: 1 vần (cư – thư – hư)

- Đối: không cụ thể

– Số câu: 4.

– Số chữ trong câu: 7.

– Niêm: Chữ thứ hai của câu 1 là “trắc” niệm với chữ thứ hai của câu 4 cũng là “trắc”, chữ thứ hai của câu 2 là “bằng” niệm với chữ thứ hai của câu 3 cũng là “bằng”.

− Vần: chỉ hiệp theo một vần ở các câu 1, 2 và 4 (cư – thư – hư).

– Đối: Thơ tứ tuyệt không có quy định đổi cụ thể và khắt khe như thất ngôn bát cú.

– Kết luận: Bài thơ tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt luật trắc vần bằng theo luật Đường.

Bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của một bài thơ thất ngôn tứ tuyết luật Đường: bài thơ có 4 câu, mỗi câu 7 chữ.

- Quy định về thanh điệu, vần luật: các câu 1,2,4 hoặc các câu 2, 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối. Trong bài này, vần “ư” được hiệp ở cả ba câu 1, 2, 4.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Cách 4

Suy ngẫm và phản hồi 3

Câu 3 (trang 8, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Qua hai câu đầu, tác giả muốn khẳng định điều gì? Từ đó, cho biết:

a. Tác dụng của cách dùng từ, ngắt nhịp trong câu: Nam quốc sơn hà Nam đế cư.

b. Tác dụng của việc nói đến “thiên thư” (sách trời) trong câu thơ thứ hai.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ hai câu thơ đầu, chú ý câu này có 3 câu hỏi cần trả lời

Lời giải chi tiết:

Hai câu đầu giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay đổi của chủ quyền đất nước.

a. Câu đầu có thể ngắt theo nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. Cách ngắt nhịp trong câu theo nhịp 4/3 “Nam quốc sơn hà/ Nam để cư” hoặc “Nam quốc/ sơn hà/ Nam đế cư”: tỏ rõ hai vấn đề quan trọng nhất là “sông núi nước Nam”, và “vua nước Nam” đi liền với nhau ngay trong câu mở đầu của bài thơ. Đây là cách ngắt nhịp tiêu biểu của thơ thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, tạo âm điệu chậm rãi, trang nghiêm.

b. Việc nói đến “thiên thư” (sách trời) trong câu thơ thứ hai cho thấy “tính pháp lí” của chủ quyền chủ quyền đã được ghi rõ, quy định rõ bằng văn bản của “nhà trời”, không phải chuyện người thường muốn mà thay đổi được và cũng không thể thay đổi được bằng hành vi xâm lược.

Suy ngẫm và phản hồi 4

Câu 4 (trang 8, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Ở hai câu cuối, tác giả nói về điều gì, nói với ai và bằng thái độ, tình cảm như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ hai câu cuối và hình dung thái độ, tình cảm của tác giả

Lời giải chi tiết:

Hai câu cuối: “Chúng bay hãy chờ xem chúng bay sẽ thất bại như thế nào!”. Tác giả đang nói với kẻ thù với một tinh thần tự tôn dân tộc và thái độ kiên quyết, mạnh mẽ, khẳng định chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân.

Suy ngẫm và phản hồi 5

Câu 5 (trang 9, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nêu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

Phương pháp giải:

Từ nội dung rút ra chủ đề và cảm hứng

Lời giải chi tiết:

Văn bản thể hiện niềm tin về sức mạnh của chính nghĩa và được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược. Tuy nhiên qua từng câu chữ, ta vẫn bắt gặp những dòng cảm xúc, tâm trạng của tác giả. Đó là tình cảm yêu nước mãnh liệt, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc và ý thức về chủ quyền của dân tộc.

Suy ngẫm và phản hồi 6

Câu 6 (trang 9, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nam quốc sơn hà thường được xem là một “bản tuyên ngôn độc lập” bằng thơ trong văn học Việt Nam và còn được gọi là bài thơ “Thần”. Hãy phát biểu ý kiến của em về điều này.

Phương pháp giải:

Vận dụng những hiểu biết cá nhân

Lời giải chi tiết:

Nam quốc sơn hà thường được xem là một “bản tuyên ngôn độc lập” bằng thơ trong văn học Việt Nam và còn được gọi là bài thơ “Thần”. Bài thơ đã cho thấy niềm tự hào và tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bảo vệ đất nước từ ngàn đời nay.

Suy ngẫm và phản hồi 7

Câu 7 (trang 9, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nêu một số dẫn chứng lấy từ lịch sử hoặc từ văn chương cho thấy tinh thần và ý chí về độc lập chủ quyền đã trở thành một truyền thống vẻ vang của dân tộc.

Phương pháp giải:

Vận dụng kiến thức thực tế

Lời giải chi tiết:

Văn bản “Bình Ngô đại cáo”

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập

Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Để khẳng định tiền đề lý luận vững chắc, Nguyễn Trãi tiếp tục tận dụng chân lý về độc lập dân tộc. Chỉ qua một đoạn thơ ngắn gọn, Nguyễn Trãi đã đưa ra sự đánh giá toàn diện với đầy đủ nhân tố gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Trong đoạn này, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi để khẳng định “Đại Việt và Trung Hoa là hai dân tộc song song tồn tại”. Những gì đất nước Đại Việt có được không kém gì với bề dày lịch sử của Trung Hoa.

Quảng cáo

Tham Gia Group Dành Cho 2K10 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

close