Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 9

I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – LỄ HỘI ĐỀN HÙNG Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước và được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại Khu Di tích Đền Hùng.

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo

Toán - Văn - Anh - Hoá - Sinh - Sử - Địa

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau:                  

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

              Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước và được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại Khu Di tích Đền Hùng. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành lễ hội mang tính văn hóa tâm linh lớn nhất nước ta; hàng năm đến ngày Giỗ Tổ và tổ chức Lễ Hội, con cháu trên mọi miền tổ quốc hành hương về với tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc tiền nhân của dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.

              Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng chủ yếu gồm hai phần: Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ được tiến hành với nghi thức trang nghiêm, trọng thể tại đền thượng; Phần Hội được diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc dưới chân núi Hùng.

              Trong phần Lễ: Nghi thức dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên đền Thượng. Từ chiều mồng 9, các làng rước kiệu dâng lễ bánh giày, bánh chưng đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán. Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đền trong tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước cửa đền Thượng (Kính thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung. Đồng chí lãnh đạo Tỉnh thay mặt cho nhân dân cả nước kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ. Toàn bộ nội dung hành lễ được truyền tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ diễn trường tạm ngừng các hoạt động để đảm bảo tính linh thiêng và nghiêm trang của Lễ Hội.

              Phần Hội: Diễn ra tưng bừng náo nhiệt xung quanh khu vực núi Hùng. Hội Đền Hùng ngày nay có thêm nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn. Trong khu vực Hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các trại văn hóa của 13 huyện, thành, thị, các hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi thể thao,... tạo ra nhiều màu sắc sinh động, náo nhiệt cho bức tranh ngày hội. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giày, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần... Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ quần chúng... phục vụ đồng bào về dự hội. Trên khu vực Công quán luôn âm vang tiếng trống đồng, tiếng giã đuống rộn ràng của các nghệ nhân dân gian người dân tộc Mường ở Thanh Sơn ra phục vụ Lễ hội.

             Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, con, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kỳ Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

                        ( Theo https://www.dulichphutho.gov.vn/MTE5dg.html)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định nội dung thông tin của văn bản trên?

Câu 2. Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống và đạo lý gì của dân tộc?

Câu 3. Nêu mục đích và thái độ của người viết được thể hiện qua văn bản.

Câu 4. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trình tự nào? Nêu hiệu quả của việc triển khai thông tin theo trình tự đó?

Câu 5. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng có còn cần thiết không? Vì sao?

II. PHẦN VIẾT

Học sinh chọn một trong hai câu sau:

Câu 1: Anh/ chị hãy viết bài văn thuyết minh về một hiện tượng trong tự nhiên.

Câu 2: Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng) mà anh/ chị yêu thích.

Đáp án

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương pháp:

- Căn cứ vào nhan đề và nội dung toàn bộ văn bản

Cách giải:

Nội dung thông tin của văn bản: Nguồn gốc, lịch sử ra đời và các nghi lễ, các hoạt động biểu diễn trong Lễ hội Đền Hùng.

Câu 2:

Phương pháp:

- Đọc kỹ đoạn cuối văn bản.

- Xác định câu văn trực tiếp nêu truyền thống, đạo lý.

Cách giải:

Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lí “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc.

Câu 3:

Phương pháp:

- Xác định mục đích của văn bản

- Xác định thái độ qua từ ngữ được dùng trong văn bản

Cách giải:

- Mục đích: Cung cấp cho người đọc những thông tin về trình tự các nghi lễ của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương – lễ hội đền Hùng.

- Thái độ của người viết:

 + Tưởng nhớ công lao dựng nước của các vua Hùng.

 + Trân trọng, tự hào những giá trị văn hóa tốt đẹp, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc thông qua lễ Lễ hội Đền Hùng.

Câu 4:

Phương pháp:

- Xác định các từ chỉ thời gian, trình tự

- Vận dụng kiến thức về trình tự triển khai thông tin

Cách giải:

- Thông tin được triển khai theo trình tự thời gian: từ nguồn gốc lịch sử, thời gian, địa điểm cho đến các nghi lễ, các hoạt động diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.

- Thông tin được trình bày đầy đủ, ngắn gọn, sinh động, chân thực giúp người đọc hình dung dễ dàng và cụ thể về các sự kiện diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.

Câu 5:

Phương pháp:

Gợi ý:

- Khẳng định việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng là rất cần thiết.

- Lý giải:

+ Giúp các thế hệ sau tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng

+ Từ đó có ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập, lao động xây dựng phát triển đất nước.

+ Góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ xưa đến nay thông qua các lễ hội, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa dân tộc.

+ Duy trì các lễ hội truyền thống cũng là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xu hướng hội nhập “hòa nhập chứ không hòa tan”.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ hội Đền Hùng là vô cùng cần thiết. Bởi lễ hội không chỉ giúp các thế hệ sau tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao dựng nước của các vua Hùng, mà còn khơi dậy ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm và ra sức học tập, lao động để xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời, việc duy trì lễ hội góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ bao đời nay, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập, duy trì các lễ hội truyền thống cũng chính là thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta: hòa nhập nhưng không hòa tan, giữ vững bản sắc giữa dòng chảy văn hóa quốc tế.

II. PHẦN VIẾT

Đề 1:

Phương pháp:

* Giới thiệu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh.

Nêu thông tin khái quát về sự vật, hiện tượng đó.

* Triển khai vấn đề nghị luận:

- Chọn lọc, sắp xếp và triển khai các ý đã tìm được theo một trình tự sau:

  + Làm rõ hiện tượng tự nhiên được thuyết minh là hiện tượng gì?

  + Cung cấp thông tin về hiện tượng được thuyết minh theo trình tự  phù hợp với đối tượng thuyết minh.

(Trình tự không gian, cấu trúc nguyên nhân – hệ quả - giải pháp, theo diễn biến trong thời gian)

   + Việc nhận thức đầy đủ về hiện tượng được thuyết minh có ý nghĩa như thế nào với mỗi người?

- Cần xác định yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận nào có thể đưa vào vị trí thích hợp để làm tăng hiệu quả biểu đạt và sức hấp dẫn của bài viết.

* Khái quát ý nghĩa của sự vật, hiện tượng được thuyết minh; gợi mở những ý tưởng có thể tiếp nối.

Cách giải:

Bài viết tham khảo:

Trong thế giới tự nhiên bao la, có những hiện tượng khiến con người không khỏi trầm trồ trước vẻ đẹp của tạo hóa. Một trong số đó chính là cầu vồng. Sau mỗi cơn mưa, nếu đứng ở đúng vị trí, ta sẽ thấy một dải lụa bảy màu hiện ra trên bầu trời, đẹp như một bức tranh sơn dầu của một họa sĩ tài ba. Cầu vồng không chỉ là một hiện tượng vật lý thú vị mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca, nghệ thuật và đời sống tinh thần của con người.

Trước hết, cầu vồng là một hiện tượng quang học. Nó xảy ra khi ánh sáng mặt trời gặp những giọt nước mưa còn lơ lửng trong không khí. Ánh sáng trắng của mặt trời bị khúc xạ, phản xạ và tán sắc qua các giọt nước, phân tách thành bảy dải màu liên tục: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Đây chính là quy luật khoa học mà nhà bác học Newton đã phát hiện ra từ thế kỷ XVII. Màu đỏ nằm ở rìa ngoài cùng, còn màu tím ở rìa trong cùng.

Cầu vồng thường xuất hiện vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn, khi mặt trời ở độ cao thấp. Nơi dễ bắt gặp nhất là sau những cơn mưa rào mùa hạ, hoặc gần thác nước, vòi phun nước, bất cứ nơi nào có nhiều hạt nước nhỏ trong không khí. Về hình dạng, cầu vồng lý tưởng là một vòng tròn hoàn chỉnh. Tuy nhiên, do bị đường chân trời che khuất, chúng ta thường chỉ nhìn thấy một nửa hình vòng cung bắc ngang bầu trời. Có đôi khi ta còn bắt gặp cầu vồng đôi, nghĩa là hai chiếc cầu vồng cùng lúc. Cầu vồng chính rực rỡ hơn, còn cầu vồng phụ mờ hơn và có thứ tự màu sắc ngược lại, nằm bên ngoài cầu vồng chính.

Không chỉ dừng lại ở một hiện tượng khoa học, cầu vồng còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đời sống văn hóa, nhiều dân tộc trên thế giới coi cầu vồng là chiếc cầu nối giữa trời và đất, là biểu tượng của hòa bình và hy vọng. Trẻ nhỏ thường thích thú, reo hò khi nhìn thấy cầu vồng sau trận mưa. Người lớn cũng tìm thấy sự thanh bình trong khoảnh khắc kỳ diệu ấy. Trong thơ ca, cầu vồng xuất hiện như một hình ảnh lãng mạn, gợi lên những điều tốt đẹp và trong sáng.

Việc tìm hiểu về cầu vồng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho mỗi người. Trước hết, nó giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới tự nhiên xung quanh, thấy được rằng thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn vận hành theo những quy luật lý thú. Hiểu về cầu vồng cũng là biết cách quan sát, biết trân trọng những khoảnh khắc đẹp đẽ vụt qua trong cuộc sống thường nhật. Hơn hết, cầu vồng sau mưa như một lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa: sau những khó khăn, bão giông, nhất định sẽ có những điều tốt đẹp đến. Đó là bài học về niềm tin và sự kiên nhẫn mà thiên nhiên đã ban tặng.

Như vậy, cầu vồng không đơn thuần chỉ là một hiện tượng vật lý khô khan. Nó là bức tranh thiên nhiên kỳ diệu, là nguồn cảm hứng vô tận, và cũng là biểu tượng đẹp đẽ của hy vọng. Mỗi khi sau cơn mưa bỗng thấy ánh nắng le lói và một dải cầu vồng hiện ra, hãy trân trọng khoảnh khắc ấy. Bởi lẽ, thiên nhiên luôn dành cho con người những món quà bất ngờ, chỉ cần chúng ta biết mở rộng đôi mắt và trái tim để đón nhận. Và hơn thế, cầu vồng còn nhắc nhở chúng ta rằng, sau tất cả những vất vả, lo toan, cuộc sống vẫn luôn rực rỡ sắc màu.

Đề 2:

Phương pháp:

* Nêu được các thông tin cơ bản về tác phẩm ( tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, sự đón nhận của công chúng...)

* Triển khai vấn đề nghị luận:

 - Khái quát về tác phẩm:

+ Với tác phẩm văn học, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tác phẩm.

+ Với tác phẩm điện ảnh ( bộ phim) cần tóm tắt được cốt truyện theo kịch bản;

+ Với ca khúc, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tiết tấu, giai điệu, ca từ của ca khúc;

+ Với tác phẩm thuộc nghệ thuật tạo hình ( hội họa, điêu khắc) diễn tả bằng lời văn về hình tượng đã được thể hiện bằng chất liệu riêng của tác phẩm tạo hình ( bức tranh, pho tượng ).

- Phân tích từng khía cạnh nổi bật của tác phẩm (Điểm đặc sắc của tác phẩm về nội dung và hình thức) với lí lẽ và bằng chứng rõ ràng, đầy đủ.

- Rút ra được thông điệp và ý nghĩa của thông điệp toát ra từ tác phẩm nghệ thuật)

 * Đánh giá chung về tác phẩm:

- Thành công và những hạn chế của tác phẩm nghệ thuật theo quan điểm nhìn nhận của người viết.

- Nêu hướng tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm.

Cách giải:

Bài văn tham khảo:

Trong dòng chảy của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, có những bài thơ đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành biểu tượng bất hủ về tình cảm con người. Một trong số đó là bài thơ "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu. Được sáng tác vào năm 1948, trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bài thơ đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng bởi những vần thơ chân thành, giản dị nhưng thấm đượm tình đồng đội thiêng liêng. Cho đến hôm nay, “Đồng chí” vẫn được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về người lính trong thời kỳ kháng chiến.

Trước hết, cần khái quát về tác phẩm. “Đồng chí” được Chính Hữu viết tại Chiến khu Việt Bắc, dựa trên những trải nghiệm thực tế của ông khi chiến đấu trong hàng ngũ của Trung đoàn Thủ đô. Không gian của bài thơ là những chặng đường hành quân, là những khu rừng hoang, giá lạnh, nơi những người lính cùng nhau kề vai sát cánh. Nhà thơ đã mở đầu bằng những câu thơ giản dị như một lời kể: “Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Chủ đề của bài thơ ca ngợi tình đồng chí, đồng đội, thứ tình cảm được hình thành từ những con người xa lạ, có chung cảnh ngộ và lý tưởng. Ấn tượng ban đầu khi đọc bài thơ là một cảm giác gần gũi, ấm áp. Người đọc như thấy hiện ra trước mắt hình ảnh những anh Vệ quốc quân với dáng vẻ lam lũ, nghèo khó nhưng trái tim tràn đầy nhiệt huyết.

Về nội dung, bài thơ "Đồng chí" có ba khổ, mỗi khổ thể hiện một khía cạnh khác nhau của tình đồng chí. Khổ thơ đầu giải thích cơ sở hình thành tình cảm cao đẹp ấy. Những người lính xuất thân từ những vùng quê nghèo khác nhau: "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá". Họ xa lạ, chẳng hề quen biết từ trước. Thế nhưng, họ đã gặp nhau trong đội ngũ, cùng chung lý tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chính sự tương đồng về cảnh ngộ và mục đích đã biến những con người xa lạ trở nên gắn bó, thân thiết. Câu thơ "Súng bên súng, đầu sát bên đầu" đã diễn tả một cách hình ảnh và cảm động sự đồng lòng, đồng chí hướng của họ.

Khổ thơ thứ hai đi sâu vào biểu hiện cụ thể của tình đồng chí. Đó là sự sẻ chia những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống chiến đấu. Họ chia cho nhau những bát cơm, những chiếc chăn trong những đêm rừng giá lạnh. Họ cùng nhau chịu đựng những cơn sốt rét rừng, những bàn chân giày vò bởi những chặng đường hành quân dài bất tận. Những câu thơ "Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh / Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi" không chỉ tả thực mà còn gợi lên sự cảm thông sâu sắc. Đặc biệt, hình ảnh "Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá" đã khắc họa chân thực sự nghèo khổ, thiếu thốn của người lính. Nhưng giữa cảnh vật chất thiếu thốn ấy, tình cảm con người lại thật ấm áp. Miệng cười buốt giá, tay nắm lấy bàn tay, những chi tiết nhỏ nhưng rất đỗi xúc động, cho thấy tình đồng chí là sức mạnh tinh thần giúp họ vượt qua mọi khắc nghiệt.

Khổ thơ cuối là đỉnh cao của bài thơ, kết tinh trong hình tượng thơ đặc sắc: "Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo". Ba câu thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Khung cảnh hiện thực là đêm rừng hoang vắng, lạnh lẽo, sương muối phủ đầy, người lính phục kích chờ giặc. Nhưng giữa không gian tĩnh mịch và khắc nghiệt ấy, họ "đứng cạnh bên nhau". Hai chữ "cạnh bên" thật gần gũi, ấm áp. Và trên cao kia, vầng trăng như treo trên đầu súng. Hình ảnh "đầu súng trăng treo" vừa thực, bởi đúng là lúc đó, súng hướng lên trời, trăng như treo trên đầu súng, vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Súng tượng trưng cho chiến tranh, gian khổ, cho nhiệm vụ chiến đấu. Trăng tượng trưng cho hòa bình, mơ mộng, cho vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống. Giữa chiến tranh và hòa bình, giữa hiện thực và lãng mạn, người lính vẫn hướng về nhau, vẫn giữ trong tim một niềm tin tươi sáng. Đó chính là vẻ đẹp toát ra từ tình đồng chí.

Về hình thức nghệ thuật, Chính Hữu đã sử dụng thể thơ tự do, câu ngắn câu dài linh hoạt, phù hợp với cảm xúc. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lính nông dân. Ông cũng khéo léo sử dụng các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ "anh với tôi", hình ảnh đối lập, ẩn dụ. Chính những yếu tố đó đã tạo nên giọng điệu thơ vừa chân thành, tha thiết vừa hào hùng, lãng mạn.

Từ bài thơ "Đồng chí", một thông điệp sâu sắc được gửi gắm: tình đồng chí, đồng đội là sức mạnh vô song, là điểm tựa tinh thần giúp con người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Trong thực tế lịch sử, đã có biết bao câu chuyện cảm động về tình đồng đội trong chiến tranh. Chẳng hạn như câu chuyện về các chiến sĩ Trường Sơn chia nhau từng ngụm nước, từng miếng cơm trong những ngày khốc liệt. Hay như hình ảnh những người lính đợi nhau trên đỉnh Điện Biên sau chiến dịch. Ở thời bình hôm nay, thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị. Tình bạn, tình đồng nghiệp, sự sẻ chia và nâng đỡ lẫn nhau vẫn là điều quý giá trong cuộc sống. Khi học tập, khi gặp khó khăn, nếu có bạn bè cùng chung tay, chúng ta sẽ vững vàng hơn.

Đánh giá chung về tác phẩm, có thể thấy "Đồng chí" thành công rực rỡ về cả nội dung và nghệ thuật. Bài thơ đã khắc họa chân thực, cảm động và hào hùng hình tượng người lính cách mạng trong những ngày đầu kháng chiến. Một điểm hạn chế nhỏ có thể kể đến là bài thơ khá ngắn, có thể khiến người đọc chưa thỏa mãn khi muốn tìm hiểu sâu hơn về từng số phận. Tuy nhiên, đó cũng chính là điểm mạnh, bởi sự cô đọng đã làm tăng sức gợi và sức lan tỏa. Hướng tiếp cận phù hợp với tác phẩm này là tiếp cận từ góc nhìn lịch sử và đời sống dân gian. Người đọc nên đặt bài thơ trong bối cảnh những năm kháng chiến chống Pháp để hiểu được nguồn gốc và biểu hiện của tình đồng chí. Đồng thời, hãy liên hệ với đời sống hôm nay để thấy những giá trị vượt thời gian của tác phẩm.

Tóm lại, "Đồng chí" của Chính Hữu là một bài thơ hay, một bức tượng đài nghệ thuật về tình cảm người lính. Đọc bài thơ, ta thêm yêu mến và khâm phục thế hệ cha anh đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, tình cảm riêng tư cho độc lập tự do của Tổ quốc. Và cũng từ đó, mỗi người trẻ chúng ta hôm nay càng trân trọng hơn những giá trị của hòa bình, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội.

 

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close