Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7Đề thi giữa kì 2 Văn 12 bộ sách chân trời sáng tạo đề số 7 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Đề thi ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: THÁNG NĂM CỦA BÀ Tháng năm có đàn chim ngói về ăn hạt trên cánh đồng bà ngoại Trời thì xanh như không thể biếc hơn Cháu đội nón đôi chân trần trên đất Gặt về phơi cả ba tháng nhọc nhằn.
Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu Mồ hôi xuống như mưa là tháng sáu Lưng bà còng bông lúa trĩu như nhau.
Bà ngoại trồng lúa, bà ngoại nhai trầu Suốt một đời không đi ra ngoài mái đình bến nước Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được Như hạt thóc nảy mầm trổ bông.
Tháng năm này cánh đồng bà có nhiều chim ngói không Lưng bà mỗi ngày lại gần hơn mặt đất Cháu mong lắm được trở về đi gặt Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau. (Bình Nguyên Trang, Chỉ em và chiếc bình pha lê biết, NXB Hội nhà văn, 2003, tr. 87, 88) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản. Câu 2. Liệt kê những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà. Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ: Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được Như hạt thóc nảy mầm trổ bông Câu 4. Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Câu 5. Từ bài thơ Tháng năm của bà, anh/chị hãy lí giải vì sao hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của con người. (Trình bày 5 – 7 dòng) II. PHẦN VIẾT Câu 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ sau: Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời Dẫu phải khi cay đắng dập vùi Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu Cây khế chua có đại bàng đến đậu Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!... (Nguyễn Khoa Điềm, trích Đất Nước, in trong Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr.185) Chú thích: Đất Nước – thuộc chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng dài 110 câu thơ. Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về đất nước trong cội nguồn sâu xa văn hoá – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai (68 câu) là cảm hứng chủ đạo về đất nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện đất nước trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V- Đất Nước là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc. Câu 2 Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm: Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi. ------------- HẾT -------------- Đáp án I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: - Vận dụng kiến thức về đặc điểm thể thơ hiện đại. - Quan sát số chữ trong dòng thơ, cách gieo vần, nhịp điệu. Cách giải: - Văn bản được viết theo thể thơ tự do. - Dấu hiệu nhận biết: + Các dòng thơ không đều số chữ mỗi dòng. + Gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt
Câu 2: Phương pháp: - Đọc kĩ văn bản. - Tìm các chi tiết, hình ảnh gợi tả trực tiếp sự nhọc nhằn, lam lũ. Cách giải: Những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà: bàn chân bà tứa máu, mồ hôi xuống như mưa, lưng bà còng Câu 3: Phương pháp: - Xác định biện pháp tu từ và chỉ ra biểu hiện - Phân tích hiệu quả biểu đạt. Cách giải: - Biện pháp tu từ so sánh: Nỗi vất vả ấy như hạt thóc nảy mầm trổ bông - Tác dụng: + Tăng tính sinh động, gợi hình, gợi cảm. + Làm rõ nỗi vất vả, khổ cực của bà trong cuộc sống + Từ đó tác giả bộc lộ niềm thương cảm cũng như thái độ trân trọng, biết ơn dành cho người bà đáng kính của mình. Câu 4: Phương pháp: - Xác định nội dung xuyên suốt. - Chú ý mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình. Cách giải: Cảm hứng chủ đạo: nỗi xót xa và lòng biết ơn của người cháu đối với những vất vả, nhọc nhằn cùng sự hy sinh thầm của bà. Câu 5: Phương pháp: Gợi ý: - Bài thơ là nỗi nhớ về một thời tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn bên bà ngoại và ước mong được trở về để đỡ đần bà của người cháu. - Hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của con người bởi: + Bà là người luôn dành tình yêu thương chúng ta khi còn thơ bé. + Bà là người tảo tần, lam lũ, giàu đức hi sinh. Bà đã đánh thức niềm yêu thương, lòng biết ơn trong tâm hồn chúng ta ngay từ thời thơ ấu. Những tình cảm đó hẳn sâu trong kí ức mỗi chúng ta và bất biến theo thời gian. + Bà còn là hiện thân cho quê hương, cho nguồn cội. Vì thế, bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của chúng ta. Cách giải: Bài thơ là nỗi nhớ da diết về một thời tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn bên bà ngoại và ước mong được trở về để đỡ đần bà của người cháu. Hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ bởi bà là người dành cho ta tình yêu thương dịu dàng, ấm áp ngay từ những năm tháng đầu đời. Bà tảo tần, lam lũ, giàu đức hi sinh, âm thầm chăm lo cho con cháu mà không hề toan tính. Chính sự hi sinh ấy đã nuôi dưỡng trong ta lòng biết ơn và tình yêu thương sâu sắc. Hơn thế, bà còn là hiện thân của quê hương, của nguồn cội thân thương. Vì vậy, mỗi khi nhớ về tuổi thơ, ta lại nhớ đến bóng dáng bà - một kí ức thiêng liêng và bền bỉ theo năm tháng. II. PHẦN VIẾT
Câu 1: Phương pháp: Gợi ý: - Nêu đoạn trích, xuất xứ của đoạn trích; khái quát về ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ đã nêu. - Chỉ ra những chất liệu của văn học dân gian và cách sử dụng chúng trong đoạn thơ đã nêu (gọi tên các thể loại của văn học dân gian như ca dao, cổ tích; nêu quan điểm của nhân dân thể hiện trong các câu chuyện cổ tích; nêu tên một số nhân vật trong các câu chuyện cổ tích; sử dụng một số từ ngữ ở các câu tục ngữ;...). - Nêu ý nghĩa của việc sử dụng các chất liệu dân gian trong đoạn thơ đã nêu (thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về văn học dân gian; gợi cho người đọc nhớ lại những thể loại và tác phẩm văn học dân gian đặc sắc, gần gũi, phổ biến với mọi người; coi đó là ví dụ để khẳng định quan điểm của tác giả về nhân dân – đề cao và ca ngợi nhân dân với những phẩm chất và thái độ sống cao đẹp: thông minh, khát khao hạnh phúc và công bằng, sống có niềm tin và hi vọng,...). - Đánh giá khái quát hoặc nêu ấn tượng sâu đậm của bản thân về những chất liệu của văn học dân gian được sử dụng trong đoạn thơ đã nêu. Cách giải: Đoạn văn tham khảo Đoạn trích “Tháng Năm của bà” đã thể hiện đặc sắc tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” thông qua việc vận dụng sáng tạo chất liệu văn học dân gian. Trong đoạn thơ, tác giả nhắc đến các thể loại quen thuộc như ca dao, cổ tích; gợi lại những câu chuyện gắn bó với tuổi thơ bao thế hệ như cô Tấm hiền lành cuối cùng được làm hoàng hậu, hay truyện Cây khế với hình ảnh chim ăn khế trả vàng. Những chi tiết ấy không chỉ tái hiện thế giới cổ tích mà còn gửi gắm quan niệm của nhân dân về công bằng, về ước mơ “ở hiền gặp lành”, về khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào điều thiện. Bên cạnh đó, cách diễn đạt mộc mạc, giàu màu sắc dân gian khiến đoạn thơ vừa gần gũi vừa sâu sắc. Việc sử dụng chất liệu dân gian cho thấy sự am hiểu sâu rộng của tác giả về truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc sáng tạo và gìn giữ đất nước. Đọc đoạn thơ, ta không chỉ bắt gặp những hình ảnh thân thương của tuổi thơ mà còn cảm nhận được niềm tự hào và xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam được kết tinh qua bao thế hệ. Câu 2: Phương pháp: 1. Mở bài - Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề 2. Thân bài: * Giải thích: Khi ta trao cho người khác tình yêu thương, thì tình yêu thương đó sẽ mãi tồn tại trong lòng ta, trong lòng người được trao gửi, và người được trao gửi cũng sẽ đáp lại ta bằng tình yêu thương. * Bàn luận về tính đúng đắn của quan niệm: Quan niệm trên là đúng đắn, bởi vì: - Khi ta trao cho người khác tình yêu thương, ta sẽ thấy tâm hồn mình trở nên trong sáng và tươi đẹp. Sự trao đi đó để lại một dư âm êm dịu, đẹp đẽ và bền lâu trong lòng ta, đúng như có người nói: Bàn tay trao tặng hoa hồng cũng phảng phất hương thơm. - Khi ta trao đi yêu thương, người được trao gửi sẽ cảm nhận được tấm lòng yêu thương của ta, từ đó họ cũng sẽ trao lại ta tình yêu mến của họ. Đó là điều kiện để duy trì mối quan hệ bền lâu và tốt đẹp, giúp cho tình yêu thương được vững bền. - Khi ta trao yêu thương cho người khác, người khác cũng sẽ nhận ra họ cần phải biết yêu thương những người khác nữa. Tình yêu thương do đó được lan tỏa. * Phê phán những quan điểm sai lệch: - Phê phán những người sống vị kỉ, không biết yêu thương người khác. - Phê phán những người không hiểu đúng nghĩa của hai chữ yêu thương: họ quy lụy, nuông chiều người khác, khiến cho người khác không biết tỉnh ngộ để thay đổi. 3. Kết bài. - Nhận thức được tính đúng đắn của quan niệm: Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi. - Học cách sống biết yêu thương người khác. Cách giải: Bài viết tham khảo: Trong hành trình sống của con người, yêu thương luôn là giá trị cốt lõi làm nên ý nghĩa cuộc đời. Có người từng nói: “Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi.” Đó không chỉ là một lời nhắn nhủ giản dị mà còn là một triết lí sống sâu sắc. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan niệm ấy, bởi tình yêu thương khi được trao đi bằng sự chân thành sẽ không mất đi mà còn được nhân lên, lan tỏa và bền vững theo thời gian. Yêu thương cho đi nghĩa là ta sẵn sàng trao gửi sự quan tâm, sẻ chia, giúp đỡ người khác mà không toan tính thiệt hơn. Khi ấy, tình cảm ấy không chỉ tồn tại trong lòng người nhận mà còn ở lại trong chính tâm hồn người trao. Thực tế cho thấy, mỗi khi ta giúp đỡ ai đó vượt qua khó khăn, ta cảm nhận được niềm vui, sự thanh thản và hạnh phúc. Cảm xúc ấy giống như “bàn tay trao tặng hoa hồng cũng phảng phất hương thơm” tức là người cho cũng được nhận lại sự ấm áp tinh thần. Trong những năm gần đây, khi đất nước đối diện với thiên tai, lũ lụt ở miền Trung hay đại dịch Covid-19, biết bao cá nhân, tổ chức đã tự nguyện quyên góp tiền bạc, nhu yếu phẩm, tham gia hoạt động thiện nguyện. Những “ATM gạo”, những chuyến xe chở thực phẩm miễn phí, những bác sĩ tình nguyện nơi tuyến đầu… đã minh chứng rõ ràng rằng yêu thương khi được trao đi sẽ thắp sáng niềm tin và hi vọng trong cộng đồng. Người được giúp đỡ không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn ghi nhớ tấm lòng ấy, để rồi khi có điều kiện, họ tiếp tục trao đi yêu thương cho người khác. Không chỉ dừng lại ở cá nhân, yêu thương còn là nền tảng tạo nên các mối quan hệ bền vững. Trong gia đình, sự quan tâm giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau chính là sợi dây gắn kết lâu dài. Ngoài xã hội, một lời động viên đúng lúc, một hành động giúp đỡ chân thành có thể xây dựng nên tình bạn đẹp, tình đồng nghiệp gắn bó. Khi con người sống biết yêu thương, xã hội sẽ trở nên nhân ái và văn minh hơn. Yêu thương vì thế không hề mất đi, mà được lưu giữ trong kí ức, trong lòng biết ơn và trong những giá trị tốt đẹp được tiếp nối. Tuy nhiên, cũng cần phê phán những người sống ích kỉ, chỉ biết nhận mà không biết cho đi. Lối sống thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác sẽ khiến tâm hồn con người trở nên khô cằn. Bên cạnh đó, cũng có những người hiểu sai về yêu thương, biến nó thành sự nuông chiều mù quáng, dung túng cho cái sai. Yêu thương chân chính phải đi kèm với sự tỉnh táo và trách nhiệm, giúp người khác tiến bộ chứ không làm họ ỷ lại. Nhận thức được ý nghĩa sâu sắc của quan niệm “Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi”, mỗi chúng ta đặc biệt là người trẻ cần học cách sống sẻ chia từ những việc nhỏ nhất: giúp đỡ bạn bè, kính trọng ông bà cha mẹ, tham gia hoạt động vì cộng đồng. Khi biết trao đi yêu thương, ta không chỉ làm cho cuộc đời này ấm áp hơn mà còn làm giàu có chính tâm hồn mình. Bởi lẽ, yêu thương là thứ duy nhất càng cho đi lại càng đầy thêm, và chỉ khi biết cho đi, ta mới thực sự giữ được nó mãi mãi.
|
Danh sách bình luận