Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 6Tải về SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ Tóm tắt bối cảnh: Sống mãi với Thủ đô là tiểu thuyết lịch sử viết về 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội năm 1946, ca ngợi tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Đề thi I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ Tóm tắt bối cảnh: Sống mãi với Thủ đô là tiểu thuyết lịch sử viết về 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội năm 1946, ca ngợi tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân Thủ đô. Phần đầu tác phẩm tái hiện không khí căng thẳng của Hà Nội trước và trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Nhân vật Trần Văn, một giáo viên trẻ, quyết định ở lại Hà Nội tham gia đội tự vệ chiến đấu. Đoạn văn bản sau kể về cuộc đối thoại giữa Trần Văn và Loan, một học sinh tỉnh lẻ, trước khi Loan tập trung về tổ tác chiến. - Loan đi nhé. Loan có thấy vui không? - Em vui lắm. - Loan cố vẽ cho xong cái bản đồ. Bình thường thì đây không phải là việc của một người học sinh. Nhưng lúc này việc gì đến tay thì ta làm nấy. Chúng ta sẽ không ngần ngại một việc gì. - Em không ngần ngại gì cả. Mấy hôm trước, em còn lo cho việc học của em, nhưng từ lúc đến đây, thì em yên trí lắm rồi. Em cũng cần nói rõ là em muốn cầm súng giết giặc, chứ không muốn làm cái công việc tuyên truyền viết lách. Nhưng lúc này, em vui vẻ nhận làm công việc này. Trần Văn chìa tay nắm chặt bàn tay lạnh giá của Loan: - Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều. Loan khoẻ mạnh luôn nhé. Loan quyến luyến không muốn chia tay. Anh muốn nói lên lòng biết ơn của mình đối với Trần Văn. Đến đây, không những Loan có một công tác nhất định, mà còn được yên tâm về mặt sinh kế. Thế là Loan được ở lại để góp phần của một người tỉnh nhỏ vào việc bảo vệ cái thủ đô mà chỉ riêng cái tên cũng làm anh rung động. Nhưng anh vẫn thấy bịn rịn khi phải xa Trần Văn. Cuộc chia tay lúc này có một cái gì đột ngột, choáng váng đối với Loan. Anh vẫn cần có những người thân giúp đỡ trong bước đầu bỡ ngỡ. - Loan nghĩ gì thế? - Trần Văn hỏi - Từ lúc đến đây, Loan thấy thế nào? - Em thấy mọi người đều sốt sắng. Tất cả Hà Nội chuẩn bị đánh giặc. Một em bé đánh giày cũng xin ở lại. Một người không lương thiện như Long đen mà còn biết nghĩ, huống chi mình. Em có cảm tưởng rằng rồi đây, dân tộc mình sẽ trong sạch ra, mạnh mẽ thêm lên. - Tôi cũng tin như vậy. - Nhưng Long đen giận bỏ đi thì làm thế nào? Có thể nguy hiểm được. - Trên thì vẫn chưa thật tin anh ta. Mà cũng đúng thôi, những người như thế thì làm sao bỗng chốc mà tin ngay được. Nhưng đây là lúc cái lương tâm của một con người đang được thức dậy. Phải có một lòng yêu chân thành mới làm cho những đống tro ấy cháy lại. Sự lạnh lẽo của tình cảm không bao giờ cứu vớt được một con người. Tôi sẽ gặp lại anh ta. Họ còn đáng quý hơn rất nhiều người lạnh nhạt với thời cuộc, những người chẳng nghĩ gì ngoài cái thân của họ. Trần Văn cười một cái mỉa mai. Anh muốn ám chỉ vợ chồng Trinh. Câu nói khinh bạc của Trinh sáng ngày ở nhà ga vẫn còn làm cho anh bực tức. Anh nhún vai: - Cái giá trị của con người đang được định lại hết, Loan ạ. Rồi đây, ai là người thiết tha với thủ đô, ai là người chỉ có cái vỏ thủ đô, sẽ rõ cả ra. Nhưng đấy là chuyện khác. Còn chúng ta thì công việc đã rõ ràng rồi. Chúng ta ở lại. Giờ quyết liệt đã đến. Chúng ta sắp đi vào một con đường mà sống chết chỉ là một. Không biết Loan nghĩ thế nào, chứ riêng tôi, tôi không băn khoăn rằng tôi sẽ sống hay chết trong cuộc chiến đấu này. Điều quan trọng là chúng mình có mặt. Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn năm không còn bóng giặc. Chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hi sinh lần cuối cùng cho tự do của Tổ quốc. Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên. Tôi thấy rất rõ. Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta. Tôi đã nhiều lúc vắng mặt rồi. Rất buồn cho những kẻ đứng ngoài. (Nguyễn Huy Tưởng*, Sống mãi với Thủ đô, NXB Văn học, 2016, Chương 9, tr 63-64) *Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Ông là nhà văn, nhà viết kịch chuyên khai thác đề tài lịch sử. Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Đêm hội Long Trì (tiểu thuyết lịch sử, 1942), Vũ Như Tô (kịch lịch sử, 1943), An Tư (tiểu thuyết lịch sử, 1944)... Tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” được viết sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), khi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng theo đoàn quân kháng chiến trở về Hà Nội. Tác phẩm được xuất bản lần đầu năm 1961. Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản. Câu 2. Trong khi vui vẻ nhận làm công việc tuyên truyền, nhân vật Loan vẫn mong muốn làm gì? Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng các từ trái nghĩa trong câu văn sau: Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên. Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về nghĩa của câu Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta trong văn bản? Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa? - Sự lạnh lẽo của tình cảm không bao giờ cứu vớt được một con người. (Sống mãi với Thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng) - Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người, sống để yêu nhau (Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu) II. VIẾT Câu 1 Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Trần Văn trong văn bản được dẫn ở phần Đọc hiểu. Câu 2 Có ý kiến cho rằng: Trưởng thành là khi biết sống có trách nhiệm. Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên. Đáp án I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: - Vận dụng kiến thức về các loại ngôi kể trong tác phẩm. - Căn cứ vào đại từ xưng hô, điểm nhìn trần thuật để xác định. Cách giải: Ngôi kể được sử dụng trong văn bản: ngôi kể thứ ba. Câu 2: Phương pháp: - Đọc kỹ đoạn đối thoại của nhân vật Loan trong văn bản - Tìm kiếm chi tiết thể hiện mong muốn của nhân vật. Cách giải: Loan mong muốn được cầm súng giết giặc. Câu 3: Phương pháp: - Xác định các cặp từ trái nghĩa - Phân tích tác dụng của chúng trong việc diễn đạt nội dung, tư tưởng của câu văn, đặc biệt là việc thể hiện quan niệm của nhân vật và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Cách giải: - Các từ trái nghĩa: nô lệ - tự do; cuối cùng - đầu tiên. - Hiệu quả: + Nhấn mạnh niềm tin của nhân vật Trần Văn vào ý nghĩa lớn lao của sự hi sinh của những người yêu nước: đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc, tạo ra bước ngoặt lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước. + Tác giả ngợi ca vẻ đẹp của nhân vật Trần Văn cũng như những thanh niên yêu nước lúc bấy giờ, những con người có lí tưởng sống cao đẹp. + Làm tăng tính gợi hình, gợi cảm, sinh động, hấp dẫn cho đoạn văn. Câu 4: Phương pháp: - Giải thích nghĩa của câu nói. - Liên hệ đến quan niệm về lẽ sống, trách nhiệm của con người với đất nước và cộng đồng. Cách giải: - Câu nói khẳng định: sống là phải biết gánh vác trách nhiệm, sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Có mặt ở nơi Tổ quốc cần chính là lựa chọn mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. - Câu nói khuyên mỗi người cần biết sống cống hiến, luôn sẵn sàng khi Tổ quốc kêu gọi. Câu 5: Phương pháp: - Xác định nội dung chính của từng ngữ liệu - Tìm điểm chung về tư tưởng, giá trị mà cả hai cùng đề cao. Cách giải: Hai ngữ liệu cùng khẳng định tình cảm, tình yêu thương mang lại những giá trị tốt đẹp cho con người, cuộc đời, đồng thời đề cao lối sống nhân ái, gắn bó, biết đồng cảm, sẻ chia... II. PHẦN VIẾT Câu 1: Phương pháp: Gợi ý: - Là người có quan niệm sống cao đẹp: Tình yêu thương có sức mạnh cảm hoá con người; sống có ý nghĩa là được có mặt ở những nơi Tổ quốc cần. - Là người có tinh thần chiến đấu vì Tổ quốc: ý thức rõ trách nhiệm của thế hệ mình trước vận mệnh dân tộc, luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. - Là người có niềm tin vào con người và tương lai của dân tộc. - Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật: Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn linh hoạt tạo tính khách quan; đối thoại sinh động giúp nhân vật bộc lộ trực tiếp quan niệm, lí tưởng; ngôn ngữ giàu chất triết lí và cảm xúc… Cách giải: Đoạn văn tham khảo: Trong đoạn trích “Sống mãi với Thủ đô”, nhân vật Trần Văn hiện lên là một thanh niên trí thức Hà Nội với vẻ đẹp của lẽ sống cao cả và tinh thần trách nhiệm sâu sắc. Trước hết, anh là người có một niềm tin mãnh liệt vào con người và tương lai của dân tộc. Trần Văn tin rằng “lúc này cái lương tâm của một con người đang được thức dậy”, ngay cả những kẻ “không lương thiện” cũng có thể thay đổi, bởi “phải có một lòng yêu chân thành mới làm cho những đống tro ấy cháy lại”. Niềm tin ấy được đặt trên nền tảng của một quan niệm nhân văn sâu sắc, đề cao sức mạnh cảm hóa của tình yêu thương. Hơn thế, Trần Văn còn là hiện thân của lý tưởng sống “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Anh ý thức sâu sắc về bước ngoặt lịch sử khi khẳng định “chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên”. Quan niệm “Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta” đã nâng tầm ý nghĩa của sự sống, đó là sự hiện diện có trách nhiệm, sẵn sàng dấn thân. Không băn khoăn giữa sự sống và cái chết, anh chỉ biết rằng mình phải “có mặt” trong cuộc chiến đấu này. Với những phẩm chất cao quý ấy, Trần Văn xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho thế hệ thanh niên Hà Nội “quyết tử” trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, để lại trong lòng người đọc sự cảm phục và ngưỡng mộ. Câu 2: Phương pháp: 1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận 2. Thân bài: * Giải thích được vấn đề nghị luận Trưởng thành là phát triển hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt; trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận phải thực hiện. Ý kiến đã nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm là thước đo đánh dấu sự trưởng thành của con người. * Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận - Sống có trách nhiệm, con người sẽ nhìn nhận mọi vấn đề của cuộc sống một cách đa diện, sâu sắc. - Sống có trách nhiệm, con người sẽ hành động nhằm xây dựng uy tín cá nhân và phục vụ lợi ích cộng đồng. - Sống có trách nhiệm, con người sẽ tự chủ, tự tin, tự hoàn thiện bản thân mỗi ngày để thực hiện đầy đủ bổn phận, nghĩa vụ của mình. * Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học - Cần ý thức được vai trò quan trọng của lối sống có trách nhiệm đối với sự trưởng thành của mỗi người, từ đó biết sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. - Sự trưởng thành của con người có nhiều biểu hiện, bên cạnh tinh thần trách nhiệm, mỗi người cần trau dồi tri thức, tôi luyện bản lĩnh, khả năng tự lập, biết yêu thương, sẻ chia… 3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận Cách giải: Bài viết tham khảo: Hành trình trưởng thành của mỗi người không chỉ được đo đếm bằng số tuổi hay sự thay đổi về ngoại hình, mà còn bằng chiều sâu của nhân cách và sự chín chắn trong tâm hồn. Chính vì vậy, có ý kiến đã khẳng định: “Trưởng thành là khi biết sống có trách nhiệm”. Đó là một nhận định đúng đắn, sâu sắc, khái quát được một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị đích thực của một con người. Vậy “trưởng thành” là gì? Đó là quá trình phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và đặc biệt là tâm hồn, là khi con người đủ bản lĩnh, chín chắn để đối diện với cuộc sống. “Trách nhiệm” là nghĩa vụ, bổn phận mà mỗi người phải thực hiện, là sự nhận thức và hành động đúng đắn trước những điều mình đã làm, trước những mối quan hệ và cộng đồng. Như vậy, ý kiến đã chỉ ra một tiêu chí vàng để nhận diện sự trưởng thành: đó chính là ý thức và hành động dám gánh vác, dám đương đầu với những nghĩa vụ của bản thân. Trước hết, sống có trách nhiệm giúp con người hoàn thiện bản thân. Khi ý thức được trách nhiệm với chính mình, mỗi người sẽ biết xây dựng những kế hoạch học tập, rèn luyện sức khỏe, nuôi dưỡng tâm hồn. Thay vì sống thả trôi, buông thả, người có trách nhiệm luôn đặt ra mục tiêu và nỗ lực để đạt được, không ngừng tự sửa sai và tiến bộ. Họ hiểu rằng, sự lười biếng hay ỷ lại hôm nay chính là rào cản cho sự phát triển của ngày mai. Chính tinh thần tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình là nền tảng vững chắc nhất cho sự trưởng thành. Hơn thế, sống có trách nhiệm còn là thước đo giá trị của một con người trong các mối quan hệ xã hội. Một người trưởng thành thực sự sẽ biết lo lắng, chăm sóc cho gia đình, biết giữ lời hứa với bạn bè, và biết đóng góp cho cộng đồng. Họ hiểu rằng, hạnh phúc không chỉ đến từ việc nhận mà còn từ việc cho đi và thực hiện bổn phận. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức với công việc, với tập thể, với xã hội, những giá trị tốt đẹp sẽ được nhân lên, tạo dựng một môi trường sống văn minh, tiến bộ. Trái lại, lối sống vô trách nhiệm, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân, thờ ơ với những người xung quanh chính là biểu hiện của sự non nớt, ấu trĩ về mặt tinh thần, khiến con người trở nên ích kỷ và nhỏ nhen. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội hiện đại với muôn vàn thử thách, tinh thần trách nhiệm càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đó là khi thanh niên biết sống có lý tưởng, cống hiến sức trẻ cho sự phát triển của đất nước; là khi mỗi người dân có ý thức bảo vệ môi trường sống, tuân thủ pháp luật, gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp. Những tấm gương như các y bác sĩ xông pha nơi tuyến đầu chống dịch, hay những người trẻ dấn thân khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, tạo công ăn việc làm cho xã hội, đều là những minh chứng sáng ngời cho sự trưởng thành gắn liền với trách nhiệm. Tất nhiên, trưởng thành là một quá trình phức tạp và có nhiều biểu hiện khác nhau như sự bao dung, thấu hiểu, khả năng kiểm soát cảm xúc. Tuy nhiên, trách nhiệm vẫn là nền tảng, là cốt lõi, là yếu tố quyết định để phân định ranh giới giữa người trưởng thành với kẻ chưa chín chắn. Ngược lại với lối sống ấy, vẫn tồn tại một bộ phận giới trẻ sống ích kỷ, vô tâm, đổ lỗi cho hoàn cảnh, sống dựa dẫm và thờ ơ với nỗi đau của đồng loại. Những con người ấy, dù có tuổi đời cao, vẫn mãi là những đứa trẻ lớn không thành. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của lối sống có trách nhiệm, mỗi người cần bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: có trách nhiệm với lời nói, việc làm của mình, với kết quả học tập và công việc, với gia đình và bạn bè. Hãy rèn luyện tinh thần tự lập, biết suy nghĩ trước sau và dũng cảm nhận lỗi khi sai phạm. Bởi lẽ, hành trình trưởng thành không có điểm dừng, và mỗi lần ta đứng ra gánh vác một trách nhiệm, ta lại lớn thêm lên trong tâm hồn và nhân cách. Tóm lại, trưởng thành thực sự không phải là một cái mốc thời gian, mà là một hành trình của sự chín chắn. Sống có trách nhiệm chính là chiếc chìa khóa vàng mở ra cánh cửa của sự trưởng thành đích thực. Đó không chỉ là điều cần thiết để xây dựng một cuộc đời ý nghĩa, mà còn là sứ mệnh của mỗi người trên hành trình hoàn thiện bản thân và góp phần làm cho thế giới này tốt đẹp hơn.
|
Danh sách bình luận