Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7Tải về [1] Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, một dòng chảy lớn cuốn theo các luồng tư tưởng, sản phẩm, phong cách sống và hệ giá trị từ khắp nơi trên thế giới. Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo Toán - Văn - Anh - Hoá - Sinh - Sử - Địa Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Đề thi I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI BẢO TỒN VĂN HÓA [1] Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, một dòng chảy lớn cuốn theo các luồng tư tưởng, sản phẩm, phong cách sống và hệ giá trị từ khắp nơi trên thế giới. Nó mang lại cho nhân loại nhiều cơ hội phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và giao lưu quốc tế. Nhưng đồng thời, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức lớn lao, đặc biệt với các quốc gia đang tìm cách gìn giữ bản sắc văn hóa trong thế giới phẳng. Và với một dân tộc có chiều sâu văn hóa như Việt Nam, với một thế hệ trẻ đang sống trong guồng quay hội nhập, những thách thức ấy trở nên phức tạp, đa tầng và nhiều chiều hơn bao giờ hết. [2] Thách thức đầu tiên, và cũng là sâu sắc nhất, chính là sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai, làm lu mờ bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, văn hóa không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh kết nối internet, người trẻ có thể tiếp cận ngay lập tức với âm nhạc US-UK, phim ảnh Hàn Quốc, thời trang Nhật Bản, ẩm thực Trung Hoa, lối sống phương Tây... Những sản phẩm ấy thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ. Trong khi đó, các sản phẩm văn hóa nội địa – nhất là những giá trị truyền thống – lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến lược lan tỏa hiện đại, nên nhanh chóng bị lép vế. [3] Không hiếm bạn trẻ thuộc làu các bộ truyện tranh Nhật Bản, các dòng nhạc quốc tế, những show truyền hình Hàn Quốc, nhưng lại không thể hát trọn vẹn một bài dân ca của quê hương, không nhận diện được các biểu tượng văn hóa Việt, hoặc không nhớ rõ Tết Nguyên đán có những phong tục gì. Trong sự "thất thế" ấy, văn hóa truyền thống đang bị đẩy lùi ra sau, chỉ còn tồn tại trong các lễ hội theo mùa, những tiết học giáo dục công dân, hoặc trong các bảo tàng và di tích – nơi mà giới trẻ thường ít lui tới. [4] Thách thức thứ hai đến từ chính những chuyển động của truyền thông và mạng xã hội. Trong thời đại số, ai nắm được kênh truyền thông, người đó kiểm soát được thị hiếu và xu hướng. Mỗi ngày, thanh niên tiếp nhận hàng trăm video giải trí, tin tức, trào lưu từ khắp thế giới. Họ bị cuốn theo những xu hướng “viral”, đôi khi rất nhất thời và vô thưởng vô phạt, đôi khi lại có tác động định hướng mạnh mẽ tới lối sống, thị hiếu và hệ giá trị. Nếu văn hóa dân tộc không được đưa vào “dòng chảy chủ lưu” của mạng xã hội, không trở thành nội dung phổ biến trong hệ sinh thái số, thì nguy cơ bị quên lãng, bị thay thế là điều không thể tránh khỏi. [5]Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Thanh niên sống trong môi trường học tập và làm việc gấp gáp, chịu ảnh hưởng mạnh từ cá nhân hóa, từ thế giới ảo, nên ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các “người mang văn hóa” – tức là các nghệ nhân, thầy giáo, già làng, nhà nghiên cứu – những người nắm giữ tinh hoa truyền thống. [...] (Trích Thế hệ mang sứ mệnh “vừa giữ lửa vừa thắp sáng”, Bùi Hoài Sơn, https://special.nhandan.vn) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản trên là gì? Câu 2. Chỉ ra sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong việc tác động đến giới trẻ ở đoạn [2]. Câu 3. Phân tích sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Câu 4. Nhận xét hiệu quả của cách nói tăng tính khẳng định trong những câu văn sau: Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Câu 5. Nếu được bổ sung “thách thức thứ tư” cho bài viết trên, anh/chị sẽ trình bày điều gì? Vì sao? II. VIẾT Câu 1. Với tư cách là một người trẻ trong kỉ nguyên số, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp cho “thách thức thứ ba” – “sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ” mà tác giả Bùi Hoài Sơn đã nêu trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau: NHỮNG ĐỨA TRẺ CHƠI TRƯỚC CỬA ĐỀN Ông từ giữ đền ơi xin ông đấy Chấp với bọn trẻ ranh rửng mỡ làm gì Thế là ông cười rồi ông nhỉ Cho chúng nó chơi đừng đuổi chúng đi
Này thằng Tâm con nhà bố Tầm Trước cửa đền không được giồng cây chuối Lại còn hét như giặc cái Con bé cái Nhân con bà Nhẫn kia
Những mắt cười vê tít lại cứ như sợi chỉ Gạch sân đền ấm lên ửng má Tiếng trẻ con non màu lá mạ Vệt mồ hôi tươi mưởi³ quệt ngang mày.
Thật tuyệt vời thằng cháu ông Đương Ngón tay cái rất to cho được vào lỗ mũi Ra đây nhảy dây, ra đây trốn đuổi Chúng như là hạt mẩy dưới hoàng hôn
Hoa mẫu đơn cũng tưng bừng í ới Khói hương bài thơm tỉ tê lân la Cây vun tán lên đơm xôi đóng oản Gió liu riu cho thấm tháp chan hoà
Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất Làm được buổi chiều rất giống ban mai Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được Ngài ở trong kia hay ở ngoài này. (Trích Bóng ai gió tạt, Thi Hoàng⁴, NXB Hải Phòng, 2001, tr.33-34) 1 Đền: nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. 2 Ông từ: chỉ những người chịu trách nhiệm trông coi, đèn hương ở đình, đền, miếu. 3 Tươi mưởi: từ láy chỉ trạng thái tươi tắn, căng tràn sức sống toát lên vẻ khỏe khoắn và rạng rỡ. 4 Nhà thơ Thi Hoàng sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Thơ ông nổi bật với những ý tưởng lạ, những cách tân độc đáo về ngôn ngữ thơ. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. -------HẾT------- Đáp án I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: - Vận dụng kiến thức về kiểu văn bản nghị luận - Vấn đề chính thường nằm ở nhan đề, câu chủ đề của đoạn mở đầu hoặc đoạn kết luận. Cách giải: Vấn đề chính được bàn luận: Những thách thức của toàn cầu hoá đối với bảo tồn văn hóa. Câu 2: Phương pháp: - Đọc kỹ đoạn [2], tìm câu văn trực tiếp so sánh hai loại sản phẩm. - Xác định các chi tiết miêu tả đặc điểm của từng loại. Cách giải: Sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong đoạn [2]: - Những sản phẩm của giá trị ngoại lai “thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ”. - Các sản phẩm giá trị nội địa “lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến lược lan tỏa hiện đại”. Câu 3: Phương pháp: - Xác định vấn đề nghị luận và hệ thống luận điểm - Phân tích từng luận điểm: lí lẽ và bằng chứng - Nhận xét sự liên kết, logic giữa chúng với vấn đề chính. Cách giải: Sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng: - Hệ thống luận điểm: Tác giả triển khai ba luận điểm sáng rõ, chặt chẽ, làm rõ vấn đề được bàn luận - những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc. + Luận điểm 1: Sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai khiến văn hoá nội địa lép vế. + Luận điểm 2: Sự chi phối của truyền thông và mạng xã hội khiến văn hoá dân tộc không được đưa vào “dòng chảy chủ lưu” của mạng xã hội có nguy cơ bị quên lãng. + Luận điểm 3: Nhịp sống đô thị hoá, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hoá cộng đồng ít đi, khiến sự kết nối giữa con người với cộng đồng và truyền thống trở nên mờ nhạt. - Hệ thống lí lẽ: các lí lẽ được triển khai một cách logic theo trình tự nguyên nhân - kết quả; từ đó nhấn mạnh tính cấp thiết của việc giữ gìn bản sắc dân tộc giữa bối cảnh toàn cầu hoá. - Hệ thống bằng chứng: những bằng chứng đưa vào cụ thể, gần gũi, tạo nên cơ sở thực tế rõ ràng cho những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc: + Âm nhạc US-UK, phim Hàn Quốc, truyện tranh Nhật Bản... + Thực trạng bạn trẻ không thuộc dân ca, không nhớ phong tục Tết. Như vậy, sự phù hợp giữa vấn đề được bàn luận và hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng tạo nên sức thuyết phục cao cho văn bản. Câu 4: Phương pháp: - Xác định các yếu tố ngôn ngữ tạo tính khẳng định: từ ngữ, giọng điệu. - Phân tích hiệu quả của từng yếu tố đối với nội dung và cảm xúc người đọc. Cách giải: Cách nói gia tăng tính khẳng định: + Từ/cụm từ gia tăng tính khẳng định: “cần đặc biệt lưu tâm”... + Phép điệp ngữ, liệt kê: “qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội”... - Nhận xét hiệu quả: + Nhấn mạnh vai trò quan trọng của luận điểm trong lập luận của văn bản. + Nhấn mạnh sức sống và sự tiếp nối bền vững của văn hoá truyền thống. + Tạo giọng điệu chắc chắn, quả quyết, gia tăng sức thuyết phục cho lập luận. Câu 5: Phương pháp: - Dựa vào logic của văn bản: các thách thức đã nêu xoay quanh yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong - Đề xuất thách thức về ngôn ngữ, giáo dục, hoặc tâm lý tiếp nhận của giới trẻ. - Giải thích lý do dựa trên thực tế xã hội và nội dung văn bản. Cách giải: Toàn cầu hoá dẫn đến nguy cơ mai một ngôn ngữ dân tộc và phương ngữ. Bởi vì toàn cầu hoá thúc đẩy việc sử dụng các ngôn ngữ mang tính quốc tế trong giao tiếp, giáo dục, khoa học, kinh tế.... Theo đó, ngôn ngữ dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số và phương ngữ địa phương không còn được sử dụng rộng rãi. Khi ngôn ngữ suy giảm, các giá trị văn hoá, tri thức dân gian và cách tư duy gắn với ngôn ngữ đó cũng có nguy cơ biến mất, bởi ngôn ngữ là phương tiện lưu giữ và truyền tải văn hoá. II. PHẦN VIẾT Câu 1: Phương pháp: * Đưa ra những giải pháp - Giải pháp 1: Kết nối với thế hệ đi trước - những “người mang văn hoá” để tìm tòi, học hỏi và thấu hiểu vẻ đẹp của những giá trị truyền thống. - Giải pháp 2: Thực hành các trải nghiệm văn hoá để tìm hiểu và trân trọng những giá trị truyền thống (tham quan các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, trải nghiệm các phong tục truyền thống...). - Giải pháp 3: Sáng tạo nội dung về văn hoá truyền thống trên không gian số (qua các video ngắn, podcast, blog...) để đưa các giá trị truyền thống trở thành chất liệu sáng tạo các sản phẩm văn hoá hiện đại, dễ tiếp cận và lan toả tới giới trẻ...). ... * Phân tích bàn luận các giải pháp đã nêu (lí lẽ, bằng chứng) Cách giải: Đoạn văn tham khảo: Để giải quyết thách thức về sự đứt gãy trong truyền thừa giá trị văn hóa giữa các thế hệ, mỗi người trẻ cần chủ động thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, chúng ta hãy chủ động kết nối với thế hệ đi trước, những người mang văn hóa như ông bà, nghệ nhân, già làng. Không chỉ lắng nghe qua lời kể, việc trực tiếp học hát dân ca, học làm bánh chưng hay tìm hiểu về các nghi lễ truyền thống sẽ giúp lớp trẻ thấu hiểu và thêm yêu vẻ đẹp cội nguồn. Bên cạnh đó, việc thực hành các trải nghiệm văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thay vì chỉ xem qua màn hình điện thoại, hãy tham gia các lễ hội truyền thống, đi tham quan di tích lịch sử, tự tay gói bánh hay viết câu đối. Những trải nghiệm chân thực ấy sẽ biến những giá trị trừu tượng thành ký ức sống động, từ đó nuôi dưỡng lòng trân trọng. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, chúng ta cần sáng tạo nội dung về văn hóa truyền thống trên không gian mạng. Những video ngắn trên TikTok, podcast kể chuyện, hay blog ẩm thực ngày Tết nếu được đầu tư công phu, hấp dẫn sẽ đưa văn hóa dân tộc vào dòng chảy chủ lưu, tiếp cận hàng triệu bạn trẻ. Khi truyền thống được kể bằng ngôn ngữ hiện đại, nó không còn là thứ xa xôi, khô khan mà trở nên gần gũi, thời thượng. Như vậy, chỉ cần có ý thức và hành động đúng đắn, thế hệ trẻ hoàn toàn có thể trở thành cầu nối vững chắc, vừa giữ lửa vừa thắp sáng những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc. Câu 2: Phương pháp: 1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. 2. Thân bài: * Phân tích nội dung của bài thơ - Dưới lăng kính đạo đức, đền là nơi linh thiêng không được phép chơi đùa, chơi đùa sẽ làm mất đi sự tôn nghiêm ở nơi đây. Nhưng dưới lăng kính thẩm mĩ, sự chơi đùa của những đứa trẻ sẽ thể hiện cái đẹp và bản chất, ý nghĩa của sự sống, sức sống; sự hồn nhiên, tinh nghịch của trẻ nhỏ khiến ngôi đền linh thiêng được trẻ hóa. - Sự thuần khiết của tuổi thơ làm nên phép nhiệm màu ngay giữa đời thực, thậm chí, chúng chính là những vị Thánh “ở ngoài này”, ở trong cõi tục. - Bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến, nâng niu; cái nhìn bao dung, độ lượng của nhân vật trữ tình đối với sự thuần khiết, trong sáng và rực rỡ của thế giới tuổi thơ. * Phân tích nghệ thuật của bài thơ - Thể thơ tự do. - Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố biểu cảm với tự sự và miêu tả. - Giọng thơ sôi nổi, tươi sáng, hóm hỉnh. - Lời thơ giàu chất khẩu ngữ nhưng vẫn tinh tế và giàu sức gợi. * Đánh giá chung Nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. 3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận Cách giải: Bài văn tham khảo: Trong làng thơ Việt Nam hiện đại, Thi Hoàng được biết đến như một nghệ sĩ tài hoa với những cách tân độc đáo về ngôn ngữ và tư duy thơ. Bài thơ “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền” trích từ tập “Bóng ai gió tạt” là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Bằng việc tạo dựng một tình huống đầy nghịch lý, nhà thơ đã mở ra một cuộc đối thoại thú vị giữa cõi linh thiêng và thế giới trẻ thơ, từ đó ngợi ca vẻ đẹp thuần khiết, sức sống mãnh liệt và khẳng định một triết lý nhân văn sâu sắc: trẻ thơ chính là những vị thánh giữa đời thường. Về phương diện nội dung, bài thơ đã phá vỡ những khuôn mẫu đạo đức cứng nhắc để nhìn nhận thế giới bằng con mắt thẩm mỹ đầy tinh tế. Dưới lăng kính đạo đức thông thường, đền là nơi thờ tự linh thiêng, đòi hỏi sự tôn nghiêm và thành kính. Sự chơi đùa, giỡn hớt của trẻ con trước cửa đền dễ bị coi là hành động bất kính, làm mất đi sự trang nghiêm vốn có. Thế nhưng, qua cái nhìn của Thi Hoàng, tất cả đã thay đổi. Nhà thơ đã nhìn thấy ở những đứa trẻ một vẻ đẹp khác, một sự linh thiêng khác. Sự hồn nhiên, tinh nghịch của chúng không làm ô uế ngôi đền mà ngược lại, còn khiến nơi ấy trở nên ấm áp, gần gũi và trẻ trung hơn. Câu thơ “Gạch sân đền ấm lên ửng má” là một phát hiện tuyệt vời. Hơi ấm từ những cơ thể nhỏ bé, tràn đầy sức sống đã lan tỏa, thổi hồn vào những viên gạch vô tri, tạo nên một bức tranh giao hòa diệu kỳ giữa cõi tâm linh và cõi thực. Ở đó, sự thuần khiết của tuổi thơ làm nên một phép nhiệm màu: “Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được Ngài ở trong kia hay ở ngoài này”. Câu hỏi tu từ cuối bài đã xóa nhòa ranh giới giữa thần thánh và con người, giữa cõi thiêng và cõi tục. Phải chăng những đứa trẻ đang chơi đùa hồn nhiên kia mới chính là những vị thánh đích thực, bởi chúng mang đến niềm vui, sự sống và tình yêu thương vô điều kiện. Toàn bộ bài thơ vì thế tràn ngập tình cảm yêu mến, nâng niu và cái nhìn bao dung, độ lượng của nhân vật trữ tình trước thế giới tuổi thơ rực rỡ và trong sáng. Để chuyển tải những ý tưởng độc đáo ấy, Thi Hoàng đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật vô cùng đắc địa. Trước hết, thể thơ tự do giúp nhà thơ thoát khỏi mọi khuôn mẫu, cho phép câu thơ dài ngắn linh hoạt, lúc hối hả như tiếng cười đùa của trẻ nhỏ, lúc chậm rãi, suy tư như một lời triết luận. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm đã tạo nên một bức tranh vừa sinh động, vừa giàu chiều sâu cảm xúc. Giọng thơ sôi nổi, tươi sáng, pha chút hóm hỉnh qua những lời thoại “rửng mỡ”, “giồng cây chuối” khiến người đọc không khỏi bật cười trước sự tinh nghịch của trẻ thơ. Đặc biệt, ngôn ngữ thơ giàu chất khẩu ngữ, mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng tinh tế và giàu sức gợi. Hình ảnh “mắt cười vê tít lại như sợi chỉ”, “tiếng trẻ con non màu lá mạ” là những sáng tạo độc đáo, thể hiện khả năng quan sát và cảm nhận thế giới qua lăng kính vừa thực vừa mộng của một tâm hồn thi sĩ. Tóm lại, “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền” không chỉ đơn thuần là bài thơ về tuổi thơ mà còn là một bài ca về sự sống và cái đẹp. Thi Hoàng đã dám đặt cái hồn nhiên, nhỏ bé bên cạnh cái thiêng liêng, cao cả để rồi khẳng định: vẻ đẹp của sự thuần khiết, của niềm vui sống mãnh liệt cũng đáng được tôn thờ chẳng kém gì các đấng tối cao. Bài thơ để lại trong lòng người đọc một dư vị ngọt ngào, một niềm tin vào những điều tốt đẹp ngay trên cõi tục này.
|







Danh sách bình luận