Soạn bài Viết bài làm văn số 6 Ngữ văn 11 ngắn gọn nhất

Soạn bài Viết bài làm văn số 6 Nghị luận xã hội Ngữ văn 11 tập 2 trang 35 ngắn gọn nhất, giúp tiết kiệm thời gian soạn bài

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề 1

Đề 1 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

1. Mở bài

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

a. Giải thích: "Bệnh vô cảm" là gì?

"Bệnh vô cảm" là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, không xúc động, sống ích kỷ, lạnh lùng. Họ thờ ơ, làm ngơ trước những điều xấu xa, hoặc nỗi bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình.

b. Thực trạng, biểu hiện:

- Thờ ơ với buồn vui, sướng khổ, với những số phận của những người xung quanh mình. Đi đường gặp những người bị tai nạn, gãy tay, gãy chân hoặc nằm bất tỉnh, những kẻ vô cảm chẳng có phản ứng nào mà chỉ biết dửng dưng chứng kiến với thái độ "Thờ ơ con mắt lạnh. Nhìn chúng có hề chi!" (Tố Hữu).

- Thờ ơ với những vấn đề xã hội dù lớn, dù nhỏ, các phong trào, các sự kiện. Hằng năm, mọi người đều hưởng ứng sự kiện Giờ Trái đất. Khi mà toàn thể xã hội tham gia sự kiện một cách tích cực và hào hứng, nhất là thế hệ trẻ thì bên cạnh đó vẫn có những con người thản nhiên bật nhạc, bật đèn, bật tivi. Rõ ràng, đây là một cách thể hiện sự vô cảm, anh ta thời ơ với những vấn đề lớn lao nhất, hoặc thậm chí là những vấn đề rất bình dị nhưng mà thật có ý nghĩa trong cuộc sống. Những phong trào hiến máu, tình nguyện, giúp đỡ đồng bào bị bão lụt, những vấn đề lớn lao của xã hội... thờ ơ, coi như đó không phải là chuyện của mình.

- Thờ ơ trước những vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống, của con người. Một tấm gương học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, cố gắng vươn lên học giỏi, nhưng anh ta sẵn sàng bỏ qua, không để tâm đến, không biết ngưỡng mộ, và cảm phục. Trước một cảnh đẹp của thiên nhiên khiến mọi người phải xúc động, phải xao xuyến thì lại thờ ơ, coi như không có chuyện gì.

- Thơ ơ với cái xấu, cái ác. Lên xe ô tô, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn côn đồ hành hung hành khách, họ cũng chỉ lờ đi xem như đấy không phải chuyện của mình. Sống trong cơ quan trường học, chứng kiến bao chuyện ngang trái như cấp trên hối lộ, thầy giáo ngang nhiên bạo hành học sinh, còn học sinh thì quay cóp gian lận trong thi cử, họ cũng không mở miệng mà ngoảnh mặt làm ngơ. Hoặc trông thấy bạn bè đồng trang lứa bị bạo hành ngay trước cổng trường nhưng họ còn đứng xem rồi quay clip tung lên mạng coi như không phải chuyện của mình.

- Thờ ơ với chính cuộc sống, tương lai của mình, "nước chảy bèo trôi", đến đâu hay đến đó.

* Sự vô cảm là một căn bệnh đang có chiều hướng lan rộng trong xã hội ta, nó đang len lỏi khắp mọi nơi. Nó không chỉ diễn ra ngoài xã hội mà còn xâm nhập vào trong các gia đình, những người thân ruột thịt. Tôi đã chứng kiến cảnh có nhà cha mẹ bị ốm nặng nằm liệt giường mà con cái không đoái hoài gì đến, có khi tống khứ vào viện dưỡng lão. Khi bố mẹ qua đời thì giành nhau đưa xác về nhà mình để nhận tiền phúng điếu. Tôi thấy đau lòng và xót xa khi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một bé gái 2 tuổi bị xe tải cán và sau đó bị những người đi ngang qua bỏ mặc ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Thiên thần bé nhỏ này đã bị xã hội bỏ rơi và qua đời bởi chính sự thờ ơ, vô cảm của những con người không có tình thương và đạo đức.

c. Nguyên nhân:

d Tác hại, hậu quả:

e. Bài học nhận thức và hành động:

3. Kết bài:

- Khái quát, mở rộng vấn đề

 

Xem bài văn tham khảo: Nghị luận về bệnh vô cảm




Đề 2

Đề 2 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

a. Mở bài

- "Bệnh thành tích" khá phổ biến trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là căn bệnh trầm kha đã có từ lâu đời.

- "Bệnh thành tích" gây tác hại không nhỏ tới quá trình phát triển đất nước.

b. Thân bài

- Giải thích thế nào là "bệnh thành tích"?

+ Thành tích là kết quả của một cá nhân hay một tập thể làm ra được đánh giá tốt.

+ Thành tích là điều tốt đẹp đáng khích lệ, nhưng chạy theo thành tích bằng mọi cách, mọi thủ đoạn bất chấp hậu quả thì lại là hiện tượng tiêu cực đáng phê phán.

- Nguyên nhân của "bệnh thành tích".

+ "Bệnh thành tích" bắt nguồn từ thói xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ, thói khoe khang, khoác loác, bịa đặt, biến không thành có, biến xấu thành tốt ... để tự dối mình, lừa người, mang lợi về cho bản thân.

+ Do bản thân háo danh, tư lợi.

+ Do nhận thức lệch lạc, trình độ yếu kém và thái độ thiếu trung thực, không dám nhìn thẳng vào khả năng của mình.

+ Do xã hội ngày càng phát triển, đồng tiền có sức mạnh thao túng các mối quan hệ xã hội, con người không coi trọng thực chất mà chỉ quan tâm tới hình thức bên ngoài. Nhiều kẻ lợi dụng điều đó nên cố ý thổi phồng thành tích, nhằm đánh bóng tên tuổi của mình để tiến thân.

- Biểu hiện của "bệnh thành tích".

+ Trong nhà trường: Ở mọi cấp học, chất lượng đào tạo giữa báo cáo và thực tế khác nhau. Vì thành tích có liên quan đến quyền lợi vật chất, tinh thần ... nên nhiều người sẵn sàng phóng đại hoặc ngụy tạo ra thành tích để được cất nhắc, được lên lương. Từ đó coi nhẹ chất lượng giảng dạy, học tập, chỉ chú trọng vào tỉ lệ học sinh khá giỏi hoặc tỉ lệ tốt nghiệp mà nhiều khi là "ảo".

+ Ở từng cá nhân: "Bệnh thành tích" thể hiện qua thái độ đối phó trong học tập và làm việc. Học vì điểm hơn là học để nắm vững kiến thức, nâng cao trình độ. Nạn nhân "học giả bẳng giả", "học giả bằng thật", mua điểm, mua bằng cấp, khoe khoang, tự cao tự đại nhưng thực chất thì rỗng tuếch ... có rất nhiều trong xã hội ngày nay.

+ Trong lĩnh vực nông nghiệp: Bệnh thành tích lan tràn đến mức báo động. Từ việc xóa đói giảm nghèo đến việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chăn nuôi ... hay việc thực hiện chính sách xã hội khác. (Dẫn chứng).

+ Trong lĩnh vực công nghiệp: Nhiều xí nghiệp, nhà máy, công ty ... làm ăn không có hiệu quả, lời giả lỗ thật, hằng năm Nhà nước vẫn phải bù lỗ nhưng báo cáo thành tích lại rất hay, rất nổi; thậm chí còn được khen thưởng hoặc trao tặng huân chương ...

+ Trong lĩnh vực xây dựng: Nhiều công trình quan trọng cấp quốc gia bị làm nhanh, làm ẩu để lấy thành tích, bị "rút ruột", gây thất thoát, lãng phí rất lớn cho ngân sách Nhà nước, ảnh hướng đến đời sống nhân dân. (Dẫn chứng).

- Tác hại của "bệnh thành tích".

+ "Bệnh thành tích" dẫn đến sự thoái hóa nhân cách, con người sẽ trở nên thiếu trung thực, dối trá, gian lận, lừa mình, lừa bạn ...

+ "Bệnh thành tích" ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống và cản trở sự phát triển của xã hội.

- Những biệp pháp khắc phục "bệnh thành tích".

+ Mỗi người cần nhận thức, đánh giá một cách khách quan, đúng đắn về năng lực của bản thân, tránh ảo tưởng về mình, tránh thói "tốt khoe, xấu che".

+ Xã hội cần kiên quyết nói "không" với "bệnh thành tích" bằng cách thắt chặt các biện pháp kiểm tra, thanh tra chất lượng công việc, không đánh giá hời hợt qua hình thức bên ngoài.

+ Cần có mức độ xử lí kĩ luật thích đáng đối với những kẻ cố tình mắc "bệnh thành tích", gây hậu quả nghiêm trọng.

c. Kết bài

- Khái quát lại vấn đề 

- Liên hệ bản thân

Xem bài văn tham khảo: Nghị luận về bệnh thành tích

Đề 3

Đề 3 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

a. Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

b. Thân bài

- Giải thích thái độ thiếu trung thực là gì?

+ Thiếu trung thực là làm không đúng, không tôn trọng ý kiến của mình, với những gì đã có, đã xảy ra.

+ Trong thi cử, thiếu trung thực là gian lận, coi trọng điểm chác mà bỏ qua kiến thức thực (đoạn này nêu luôn biểu hiện của thái độ thiếu trung thực).

- Nguyên nhân của việc thiếu trung thực trong thi cử xuất phát từ chính bản thân mỗi học sinh.

+ Học trò lười học, học không hết bài mà muốn được điểm cao thì phải gian lận thôi.

+ Có những người cũng có kiến thức xong cứ đến giờ kiểm tra là họ không thể tự chủ được bản thân, không tự tin và họ không dám tin rằng mình có thể làm được bài mà không cần đến sách, thế là quay bài.

- Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nguyên nhân cũng một phần xuất phát từ bên ngoài.

+ Ba mẹ nào cũng muốn con mình học hành giỏi giang nên gây áp lực: nào học thêm, nào con nhất định phải đạt học sinh giỏi... khiến các con cũng phải oằn mình gánh lấy ước muốn lớn lao của cha mẹ cho dù không phải ai cũng "thông minh vốn sẵn tính trời."

+ Một số người ưa thành tích ép chỉ tiêu, ép số lượng khiến học giả, thi giả nên đánh phải thiếu trung thực mà vớt được số lượng như mong muốn.

- Tác hại của thái độ thiếu trung thực trong thi cử.

+ Không có kiến thức khi bước vào đời.

+ Gian lận được mộ lần mà có thể trót lọt thì lần sau họ sẽ tiếp tục gian lận để vươn tới vị trí cao hơn.

+ Người có chí dễ bi quan do nhiều người không bằng họ xong lại có vị trí cao hơn nhờ quay cóp, luồn cúi.

+ Bằng giả, bằng thật ai biết đâu mà lần. Nhưng rồi tấm bằng cũng quyết định một phần quan trọng trong việc tìm công ăn việc làm sau này nên nhiều người cứ vin vào đó để tiếp tục gian lận.

+ Xã hội sẽ mất niềm tin vào ngành giáo dục của đất nước, chất lượng giảm sút không thể nâng cao vị thế nền giáo dục trên trường quốc tế.

- Biện pháp khắc phục

+ Học bài, cố gắng học thật tốt vào và hãy tự tin vào bản thân, tin rằng thế hệ 8x, 9x chúng ta cóp thể làm được ngay cả những điều mà chúng ta nghĩ mình không làm được, hãy dũng cảm thoát li khỏi cuốn sách, quyển vở trong giờ kiểm tra, không vụ lợi, không vì điểm số, không thàn tích giả.

+ Kiên quyết chống bệnh thành tích, đề cao nhân tài có thực tài thực chất.

+ Khen thưởng, động viên kịp thời những đối tượng đầu tàu, gương mẫu trong vấn đề gạt bỏ mặt tiêu cực trong ngành giáo dục hiện nay.

c. Kết bài

- Bày tỏ niềm tin rằng trong tương lai, thái độ thiếu trung thực này sẽ được khắc phục.

- Liên hệ bản thân



Đề 4

Đề 4 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

1. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về vấn đề: Giải pháp đảm bảo an toàn giao thông.

2. Thân bài

a. Thực trạng của vấn đề an toàn giao thông ở nước ta hiện nay

- Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong 6 tháng đầu năm 2019, trên khắp cả nước có 8.385 vụ tai nạn giao thông với 3.810 người chết và 6.358 người bị thương

- Biểu hiện của việc vi phạm an toàn giao thông: những người trẻ tuổi không đội mũ bảo hiểm, vừa tham gia giao thông vừa sử dụng điện thoại di động, lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ quy định,...

b. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng

- Ý thức của những người tham gia giao thông còn nhiều hạn chế

- Chất lượng cơ sở hạ tầng, các tuyến đường của ta chưa đảm bảo an toàn và ngày càng xuống cấp, chất lượng phương tiện giao thông còn có những hạn chế .

- Chế tài xử lí còn nhẹ, nhiều khi còn cả nể, chưa xử lí nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

- Học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường là một trong số những đối tượng thường xuyên vi phạm an toàn giao thông, điều này xuất phát từ quản lí, giám sát lỏng lẻo của gia đình và nhà trường

c. Hậu quả

- Những vụ tai nạn giao thông có thể cướp đi tính mạng của nhiều người hoặc nếu như họ không mất đi tính mạng thì cũng để lại những di chứng, những hậu quả về sau.

- Để lại nỗi đau, sự ám ảnh cho người thân hoặc họ có thể sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội.

- Tai nạn giao thông còn có thể là nguyên nhân dẫn tới mất trật tự: ùn tắc giao thông, là cơ hội để kẻ xấu lợi dụng trộm cắp, móc túi,...

- Tai nạn giao thông cũng gây ra những thiệt hại về của cải, tài sản

d. Giải pháp đảm bảo an toàn giao thông

- Tuyên truyền, giáo dục ý thức cho mọi người để họ có những hiểu biết đúng đắn và sâu sắc.

- Cần có chế tài xử lí nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm luật lệ an toàn giao thông.

- Nâng cao chất lượng đường giao thông cũng như các phương tiện giao thông đường bộ.

- Đối với các học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường:

+ Cần có sự quản lí, giám sát chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường với các biện pháp khác nhau.

+ Nhà trường cần đưa các quy định về việc tham gia và đảm bảo an toàn giao thông vào nội quy và có các quy định xử lí nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm.

+ Tạo ra các sân chơi, các câu lạc bộ, các buổi ngoại khóa về vấn đề an toàn giao thông

3. Kết bài

- Khái quát lại những giải pháp để đảm bảo an toàn giao thông và suy nghĩ của bản thân về vai trò của thế hệ trẻ đối với vấn đề này.

Xem bài văn mẫu: Nghị luận về an toàn giao thông


Đề 5

Đề 5 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

1. Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề

2. Thân bài

a. Giải thích

- Môi trường sống của con người là một khái niệm rộng. Nó bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến cuộc sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và mọi sinh vật trên trái đất.

- Môi trường có hai loại chính: đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

+ Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên như địa hình, địa chất, đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật, ...

+ Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, quan hệ cá nhân với cộng đồng thể hiện bằng luật pháp, thể chế, cam kết, quy định,...

- Môi trường sạch đẹp là môi trường không bị ô nhiễm, vẻ mĩ quan cao và có sự hài hòa ...

b. Phân tích - Chứng minh: Môi trường sống sạch đẹp đang bị thu hẹp, nguyên nhân và hậu quả:

- Thực trạng và nguyên nhân

+ Hiện nay chúng ta phải đối mặt với tình trạng nguồn nước, không khí đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng vì sự vô trách nhiệm của con người.

+ Rừng trên thế giới và ở nước ta đã bị khai thác, đốt phá quá mức, đang bị hủy hoại nghiêm trọng.

+ Rác thải và xử lí nước thải ở mức báo động cao về độ an toàn vệ sinh, ...

- Hậu quả:

+ Môi trường bị ô nhiễm, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của con người. Bệnh dịch dễ phát sinh, hiện tượng căng thẳng mỏi mệt do môi trường gia tăng.

+ Môi trường ô nhiễm làm xấu tổng thể mĩ quan, làm suy giảm sự phát triển kinh tế - xã hội ...

c. Giải pháp bảo vệ môi trường sống sạch đẹp

- Đối với xã hội

- Đối với cá nhân

3. Kết bài

- Việt Nam - một nước đang phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường là vấn đề hết sức cấp bách ...

- Cần phải thực hiện các giải pháp trên một cách đồng bộ, thường xuyên để khắc phục những hậu quả của sự ô nhiễm môi trường, tạo ra môi trường sống trong lành cho con người, ...

- Liên hệ bản thân

Loigiaihay.com

Quảng cáo
Gửi bài