Soạn bài Nhật trình Sol 6 SGK Ngữ Văn 7 tập 1 Cánh diều - chi tiết

Đọc trước văn bản Nhật trình Sol 6 và tìm hiểu thêm về tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Người về từ Sao Hỏa của En-đi Uya

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Truyện viết về sự kiện đoàn phi hành gia tàu Hơ-mét gặp một trận bão và Mác Oát-ni suýt mất mạng, anh phải chống chọi với vết thương và các yếu tố môi trường để tìm cách sống sót

- Văn bản như một câu hỏi gợi mở: nếu có người mắc kẹt trên Sao Hỏa, liệu chúng ta có đưa anh ta quay về Trái Đất an toàn được không?

- Ca ngợi sự bình tĩnh, thông minh của nhà phi hành gia Mác Oát – ni trước những sự cố bất ngờ

Chuẩn bị

(trang 70, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Đọc trước văn bản Nhật trình Sol 6, tìm hiểu thêm về tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Người về từ Sao Hỏa và thông tin về tác giả En-đi Uya

Phương pháp giải:

Tham khảo sách báo, internet

Lời giải chi tiết:

Cách 1

* Tiểu thuyết

- Xuất xứ: ra đời năm 2015

- Tóm tắt: Người về từ Sao Hỏa kể về Mác Oát-ni, một phi hành gia trên Sao Hỏa. Trong một trận bão, đồng đội để lạc mất anh. Vì tưởng anh đã chết, họ rời đi mà không có anh. Bất ngờ thay, Oát-ni vẫn xoay xở sống sót được sau trận bão đó. Vấn đề là bây giờ anh không còn tàu mà về nữa. Phải rất lâu sau mới có chuyến tàu khác lên đây, trong khi anh thì không có cách nào liên hệ với Trái Đất hay con tàu vừa rời đi, không có nhu yếu phẩm, và nguồn oxi thì đang cạn dần. Truyện xoay quanh hành trình sinh tồn của Oát-ni và những nỗ lực của NASA trong việc đưa anh về lại Trái Đất.

* Tác giả

- Andy Weir (16/6/1972), sinh ra tại bang California, Mỹ

- Vốn là một lập trình viên máy tính người Mỹ làm việc tại một phòng thí nghiệm quốc gia. Nhưng với niềm đam mê khoa học vũ trụ, ông đã quyết định viết tác phẩm Người trở về từ sao Hỏa (tựa gốc: The Martian)

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nội dung của Người về từ sao Hỏa En-đi Uya: truyện  xoay quanh việc một con tàu vũ trụ của NASA bị gặp nạn trong một trận bão vũ trụ khi đang trên đường thực hiện nhiệm vụ đến “hành tinh đỏ”. Truyện kể về cuộc chiến sinh tồn trên sao Hỏa của phi hành gia Mark Watney, người bị đồng đội bỏ lại và cho là đã chết.

Người về từ Sao Hỏa là tác phẩm của En-đi Uya.

Đoạn trích Nhật trình Sol 6 là chương mở đầu của Người về từ Sao Hỏa.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 1

Câu 1 (trang 71, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Phần (1) kể về việc gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (1) của văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Phần (1) kể về sự cố bão cát trên Sao Hỏa mà đoàn phi hành gia Hơ-mét của nhân vật tôi gặp phải.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Phần 1 kể về sự cố bão cát mà Mác Óat-ni gặp phải và sự may mắn khi thoát chết của Mác Óat-ni.

Phần 1 kể về sự cố bão cát mà đoàn phi hành của nhân vật tôi gặp phải.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 2

Câu 2 (trang 71, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Tại sao chiếc MAV được coi là quan trọng nhất?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần đầu của văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Chiếc MAV được coi là quan trọng nhất vì nó là một con tàu không gian có nhiều bộ phận tinh xảo.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Chiếc MAV được coi là quan trọng nhất vì nó là thứ duy nhất có thể cứu sống mọi người. Đó là một con tàu không gian, cái mà có thể giúp mọi người tránh bão cát và sống sót.

Chiếc MAV là một con tàu không gian, có nhiều bộ phận tinh xảo.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 3

Câu 3 (trang 72, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Vì sao nhân vật “tôi” bị thương?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản từ “Đĩa liên lạc chính… xì hết ra ngoài

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật “tôi” bị thương vì bị một trong những chiếc ăng-ten dài mỏng bay thẳng đâm vào người.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nhân vật tôi bị thương vì anh bị đâm bởi một chiếc ăng-ten dài mỏng – cái bị tách ra từ mạng ăng-ten thu tầm. Nó xuyên thủng bộ đồ và đâm vào người nhân vật tôi.

Một trong những chiếc ăng-ten dài mỏng bay thẳng, đâm vào người nhân vật tôi.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 4

Câu 4 (trang 73, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Dụng cụ nào đã giúp cho nhân vật “tôi” vượt qua được tai nạn?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn trích từ “Rồi, một dòng máu tuôn trào…lượng khí đã mất

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Dụng cụ đã giúp cho nhân vật “tôi” vượt qua được tai nạn chính là bộ đồ du hành. Khi áp suất giảm, nó liên tục tự làm đầy bằng khí lấy từ bình nitơ để cân bằng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Dụng cụ giúp nhân vật tôi vượt qua được tai nạn là bộ đồ du hành với hệ thống cân bằng khí oxi.

Dụng cụ nào đã giúp cho nhân vật “tôi” vượt qua được tai nạn: bộ đồ du hành.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 5

Câu 5 (trang 73, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Điều gì khiến “tôi vui mừng khôn tả” và điều gì khiến “tôi buồn da diết”? Vì sao?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn trích từ “Tôi loạng choạng…

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Điều khiến “tôi vui mừng khôn tả” và “tôi buồn da diết” là: Căn Háp vẫn nguyên vẹn và chiếc MAV đã đi rồi. Vì căn Háp ở lại giúp nhân vật “tôi” có thêm thời gian sống còn chiếc MAV đã đi, nhân vật “tôi” không thể trở về Trái Đất.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Vì chỗ trú ẩn vẫn còn nhưng phương tiện để quay về thì biến mất.

Điều gì khiến “tôi vui mừng khôn tả” và điều gì khiến “tôi buồn da diết”: Căn Háp vẫn nguyên vẹn và chiếc MAV đã đi rồi.

Nguyên nhân: Căn Háp vẫn nguyên vẹn giúp “tôi” có thêm thời gian sống, nhưng chiếc MAV rời đi thì “tôi” sẽ không thể trở về Trái Đất.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 6

Câu 6 (trang 74, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Nhân vật “tôi” lâm vào tình cảnh như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản từ “Khi kiểm tra bộ đồ của mình…không nghĩ thế cơ chứ?

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật “tôi” lâm vào tình cảnh bị ngã lăn xuống đồi với một ngọn giáo xuyên thủng vào người giữa cơn bão.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nhân vật “tôi” lâm vào tình cảnh tuyệt vọng bởi không có MAV, anh sẽ không thể trở về Trái Đất, căn Háp vẫn còn nhưng mọi vật dụng thiết yếu chỉ đủ dùng trong vòng một tháng. 

Nhân vật “tôi” bị ngã lăn xuống đồi với một ngọn giáo xuyên thủng vào người giữa cơn bão cát.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 7

Câu 7 (trang 74, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Câu kết thể hiện tâm trạng gì của nhân vật “tôi”?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn kết của văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Câu kết thể hiện tâm trạng tuyệt vọng của nhân vật “tôi”.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Câu kết thể hiện tâm trạng tuyệt vọng tột cùng của nhân vật “tôi”. Bởi khi anh nhìn nhận ra vấn đề, anh cảm thấy sớm muộn gì anh cũng sẽ chết. Điều đó khiến anh tuyệt vọng, chán nản và chẳng còn tha thiết gì.

Câu kết thể hiện tâm trạng thất vọng, bất lực của nhân vật “tôi”.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 1

Câu 1 (trang 75, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Truyện viết về sự kiện gì? Vì sao truyện này có tính chất “viễn tưởng”?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết viễn tưởng không có thật

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Truyện viết về sự kiện đoàn phi hành gia tàu Hơ-mét gặp một trận bão và Mác Oát-ni suýt mất mạng, anh phải chống chọi với vết thương và các yếu tố môi trường để tìm cách sống sót.

- Truyện này có tính chất “viễn tưởng” vì truyện viết về cuộc đổ bộ của đoàn phi hành gia lên Sao Hoả, ngôi sao cách Trái Đất 225 triệu ki-lô-mét. Trong khi đó, cho đến nay, con người chỉ mới đặt chân được lên Mặt Trăng; Sao Hoả vẫn còn trong mơ ước.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Truyện viết về sự cố xảy ra với đội phi hành gia của Mác Óat-ni và vì một vài nguyên nhân anh đã bị bỏ lại ở sao Hỏa.

- Tính chất “viễn tưởng” được thể hiện ở bộ đồ du hành với hệ thống cân bằng khí tinh xuất sắc và căn Háp đầy đủ, tiện nghi đủ để sống trong 31 ngày.

- Truyện viết về sự kiện: Đoàn phi hành của nhân vật “tôi” gặp một sự cố bão cát. “Tôi” bị mắc kẹt lại, bị thương suýt mất mạng.

- Truyện có tính chất “viễn tưởng” vì những chi tiết liên quan đến khoa học chưa có được ở thời đại đó (bộ đồ du hành với hệ thống cân bằng khí tinh xuất sắc và căn Háp đầy đủ, tiện nghi đủ để sống trong 31 ngày…)

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 2

Câu 2 (trang 75, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Liệt kê các số từ có trong phần (1) của văn bản Nhật trình Sol 6. Việc tác giả sử dụng nhiều số từ như vậy có ý nghĩa gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần (1) và xác định số từ

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Số từ trong phần (1): một, rưỡi, sáu, đôi

Việc tác giả sử dụng nhiều số từ như vậy có ý nghĩa xác định số lượng của các sự vật được nhắc đến trong văn bản

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Số từ: một, 150 km/h, 175km/h, một, một, một…

Tác giả sử dụng nhiều số từ như vậy có ý nghĩa biểu thị số lượng của sự vật xuất hiện trong tình huống. Qua đó làm nổi bật sự nguy hiểm, khó khăn mà Mác Óat-ni phải đối mặt. 

Số từ trong phần (1): một, rưỡi, sáu, đôi

Tác dụng: Xác định số lượng của các sự vật được nhắc đến trong văn bản.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 3

Câu 3 (trang 75, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Em có nhận xét gì về nhân vật “tôi” trong đoạn trích?


Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật “tôi”

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhân vật “tôi” là một nhân vật có ý chí sống cao, dù trong hoàn cảnh éo le tuyệt vọng nhưng vẫn cố gắng tìm cách để giúp bản thân vượt qua

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nhân vật “tôi” trong đoạn trích có thể coi là một người tài giỏi từ kiến thức lý thuyết cho đến kiến thức thực hành. Dù ở trong hoàn cảnh éo le, anh vẫn rất bình tĩnh, xem xét và nhìn nhận vấn đề của mình.

Nhân vật “tôi” là một người dũng cảm, bình tĩnh và nghị lực.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 4

Câu 4 (trang 75, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Những chi tiết nào trong văn bản Nhật trình Sol 6 thể hiện tác giả có rất nhiều hiểu biết về ngành khoa học vũ trụ?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết tác giả miêu tả về con tàu không gian, về các yếu tố khoa học 

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Những chi tiết trong văn bản thể hiện tác giả có rất nhiều hiểu biết về ngành khoa học vũ trụ là:

- Phi vụ bay được thiết kế để chịu được cơn bão cát với sức gió 150km/h.

- Đĩa liên lạc dùng để gửi tín hiệu từ căn Háp đến Hơ-mét.

- Cách tác giả mô tả lại sự cố:

+ Đĩa liên lạc đâm sầm vào mạng ăng-ten thu tầm, chiếc ăng-ten xuyên thủng bộ đồ bảo hộ khiến áp suất giảm dần.

+ Máu chảy ra ngoài nhanh chóng bị bốc hơi do dòng khí lưu thông và áp suất thấp để lại một đống cặn.

+ Khi áp suất giảm, bộ đồ du hành liên tục tự làm đầy bằng khí lấy từ bình nitơ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Những chi tiết trong văn bản Nhật trình Sol 6 thể hiện tác giả có rất nhiều hiểu biết về ngành khoa học vũ trụ:

- Bộ du hành với hệ thống cân bằng khí xuất sắc

- Căn Háp đầy đủ những đồ dùng cần thiết.

- Thiết bị liên lạc

Những chi tiết là:

- Phi vụ bay được thiết kế để chịu được cơn bão cát với sức gió 150km/h.

- Đĩa liên lạc dùng để gửi tín hiệu từ căn Háp đến Hơ-mét.

- Đĩa liên lạc đâm sầm vào mạng ăng-ten thu tầm, chiếc ăng-ten xuyên thủng bộ đồ bảo hộ khiến áp suất giảm dần.

- Máu chảy ra ngoài nhanh chóng bị bốc hơi do dòng khí lưu thông và áp suất thấp để lại một đống cặn.

- Khi áp suất giảm, bộ đồ du hành liên tục tự làm đầy bằng khí lấy từ bình nitơ.

- Kiểm tra thiết bị trên tay áo, tôi thấy bộ áo đã có 85% là khí oxi. So với tỉ lệ khí quyển trên Trái Đất khoảng 21% , tôi sẽ không sao, miễn là đừng ở trong tình trạng này quá lâu.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 5

Câu 5 (trang 75, SGK Ngữ văn 7 tập 1)

Giả sử ở trong hoàn cảnh của nhân vật “tôi”, em sẽ có suy nghĩ và hành động như thế nào?

Phương pháp giải:

Em thử tưởng tượng bản thân trong hoàn cảnh đó

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Giả sử ở trong hoàn cảnh của nhân vật “tôi”, em sẽ rất sợ hãi và lo lắng. Có thể em sẽ mất một khoảng thời gian khủng hoảng vì cho rằng mình tàn đời rồi. Sau đó em sẽ cố gắng tìm mọi cách để có thể duy trì sự sống, sửa chữa máy móc để có thể bắt tín hiệu và liên lạc với trái đất mong sớm được trở về.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nếu trong hoàn cảnh của nhân vật “tôi”, có lẽ em cũng sẽ cảm thấy sợ hãi, hoảng loạn và tuyệt vọng. Em sẽ tự đặt ra câu hỏi cho mình: “Mình nên làm gì đây?”, “Mình sẽ chết, nhanh thôi…”, “Bắt đầu làm gì đây hay là không làm gì hết…”… Có lẽ em sẽ lựa chọn sống tiếp, cho đến ngày cuối cùng trong căn Háp với đầy đủ vật liệu cần thiết trong 31 ngày. Trong những ngày đó, em sẽ hy vọng vào phép màu, kì vọng rằng mọi người sẽ quay lại và cứu mình. Đó sẽ là động lực giúp em cố gắng sống tiếp.

Suy nghĩ và hành động: Ban đầu, tôi sẽ cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Nhưng sau đó, tôi phải cố gắng trấn an bản thân, tìm cách chữa trị vết thương và liên lạc với mọi người.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Nhật trình Sol 6
+

Nhật trình Sol 6

(Trích tiểu thuyết Người trở về từ Sao Hỏa)

(1) […] Bạn có thể tưởng tượng tôi thất vọng thế nào khi phát hiện chiếc MAV đã biến mất. Một chuỗi sự kiện điên rồ đã dẫn đến việc tôi suýt chết. Rồi một chuỗi sự kiện còn điên rồ hơn dẫn đến việc tôi sống sót.

Phi vụ bay được thiết kế để có thể chịu được một cơn bão cát với sức gió tận 150 km/h. Nên cũng dễ hiểu khi Hiu-xtơn (Houston) thấy lo lắng khi chúng tôi bị một cơn gió với vận tốc 175 km/h quất một phát. Tất cả chúng tôi mặc bộ đồ phi hành của mình vào và tụm lại với nhau ở giữa căn Háp, để phòng khi bị mất áp suất. Nhưng căn Háp không phải là vấn đề.

Chiếc MAV là một con tàu không gian. Nó có nhiều bộ phận tinh xảo. Nó có thể chịu những cơn bão đến độ nào đó nhưng chỉ là nó không thể bị bão cát đánh vào mãi được. Sau một giờ rưỡi chịu trận, những cơn gió không dứt, NASA ra lệnh hủy nhiệm vụ. Không ai muốn ngừng một phi một tháng chỉ mới sau sáu ngày nhưng nếu chiếc MAV chịu thêm sự trừng phạt nào nữa thì tất cả chúng tôi đều bị mắc kẹt ở đây.

Chúng tôi phải đi ra ngoài trong cơn bão từ chỗ căn Háp đến chiếc MAV. Chuyện đó khá là mạo hiểm, nhưng chúng tôi có sự lựa chọn nào khác chứ? Mọi người đều đến nơi, trừ tôi.

Đĩa liên lạc chính của chúng tôi, dùng để gửi tín hiệu từ căn Háp đến Hơ-mét, hoạt động như một cái dù bay, đã bị dỡ khỏi bệ đỡ và bị thổi bay theo dòng xoáy. Trên đường bay, nó đâm sầm vào mạng ăng-ten thu tầm. Rồi một trong những chiếc ăng-ten dài mỏng bay thẳng, đâm vào người tôi. Nó xuyên thủng qua bộ đồ của tôi ngọt xớt như đạn bắn vào bơ sữa và tôi cảm nhận được cơn đau đớn nhất cuộc đời mình, như thế nó đã xé toạc một bên người tôi. Tôi nhớ mang máng bỗng dưng cơn gió hút mạnh vào người tôi và đôi tai tôi ù lên đau đớn khi áp suất trong bộ đồ của tôi giảm dần, xì hết ra ngoài.

Điều cuối cùng tôi nhớ là đã thấy Giô-han-xen (Johanssen) tuyệt vọng nhìn theo hướng của tôi.

 Tôi thức dậy nhờ tiếng báo động oxi (oxygen) trong bộ đồ. Tiếng bíp bíp đều đặn đáng ghét cuối cùng cũng kéo tôi tỉnh lại từ khao khát mãnh liệt sâu sắc rằng xin được chết đi cho rồi.

Cơn bão đã dịu đi; tôi đang nằm sấp, gần như bị chôn vùi trong cát. Khi tôi chếnh choáng đứng lên, tôi tự hỏi vì sao tôi chưa chết, chết nữa, chết mãi cho rồi.

Chiếc ăng-ten có đủ lực để chọc xuyên thủng bộ đồ và bên hông tôi, nhưng nó bị khung chậu của tôi chặn lại. Cho nên chỉ có một cái lỗ trên bộ đồ (và đương nhiên một cái lỗ trên người tôi).

Tôi đã bị đánh bật ra khá xa về phía sau và lăn xuống một ngọn đồi dốc. Bằng cách nào đó, mặt tôi tiếp đất, nhờ đó, chiếc ăng-ten phải nằm vào một góc chếch sắc đến độ đưa một lực xoáy rất lớn vào cái lỗ trên áo. […]

Rồi, một dòng máu tuôn trào từ vết thương của tôi chảy xuống cái lỗ. Khi máu đến chỗ rách, lượng nước trong máu nhanh chóng bốc hơi do dòng khí lưu thông và áp suất thấp, để lại một đống cặn. Thêm máu rỉ rả chảy ra và chúng được khử nước, còn lại cặn. Cuối cùng, máu đóng lại những khe hở quanh cái lỗ và giảm sự rò rỉ xuống, đủ cho bộ đồ trung hòa trở lại.

Bộ đồ du hành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nó. Khi áp suất bị giảm, nó liên tục tự làm đầy bằng khí lấy từ bình nitơ (nitrogen) của tôi để cân bằng. Một khi lỗ rỉ có thể tự cầm cự được, nó chỉ phải chầm chậm nhỏ giọt không khí mới để bù vào lượng khí đã mật. [...]

Cứ mỗi bước trong các quá trình trên đều đã có báo động kêu bim bíp, hết báo nguy rồi đến cảnh báo. Nhưng chính báo động nhiều oxi là thứ đã đánh thức tôi. Lượng kiến thức bao gồm trong những buổi huấn luyện cho một chuyến du hành không gian thật đáng kinh ngạc. Khi còn ở Trái Đất, tôi đã dành cả tuần lễ chỉ để luyện tập những tình huống khẩn cấp khi áo du hành gặp trục trặc. Tôi biết phải làm gì. Cẩn thận xem bên hông mũ áo, tôi lấy bộ đồ nghề sửa lỗ thủng. Nó chẳng khác gì mấy với một ống phễu có van ở đầu nhỏ, và có một loại nhựa dính không thể tin được ở đầu to. Nó hoạt động khi bạn mở van và để đầu to lên trên lỗ thủng. Khí có thể thoát ra khỏi van, và không can thiệp vào chuyện nhựa dán lỗ kín lại. Rồi bạn đóng van lại, thế là bạn đã dán được chỗ thủng.

Cái khó là phải lấy chiếc ăng-ten ra cho khỏi choán chỗ. Tôi kéo nó ra thật nhanh trong khả năng của mình, người tôi co rúm vì áp suất bị giảm bất ngờ làm tôi chóng mặt, tôi thét gào trong đau đớn. Tôi lấy bộ đồ nghề và dán lỗ thủng kín lại. Nó giữ kín được. Nhưng bộ đồ lại lấp đầy lượng khí bị mất bằng cách thêm oxy vào nữa. Kiểm tra thiết bị trên tay áo, tôi thấy bộ áo hiện đã có 85% là khí oxi. So với tỉ lệ khí quyển Trái Đất khoảng 21%, tôi sẽ không sao, miễn là đừng ở trong tình trạng này quá lâu.

(2) Tôi loạng choạng đi lên đồi trở về căn Háp. Khi nhấp nhô bước lên đến đỉnh, tôi thấy một thứ khiến tôi vui mừng khôn tả và một thứ khiến tôi buồn da diết: Căn Háp vẫn nguyên vẹn và chiếc MAV đã đi rồi.

Ngay lúc đó, tôi biết mình đã tàn đời. Nhưng tôi không muốn chết ngay trên bề mặt này. Tôi khập khiễng về căn Háp và lần mò tìm cái khóa khí. Ngay khi nó được trung hoà, tôi ném cái mũ của mình ra. Bước vào căn Háp, tôi cởi bộ đồ phi hành và lần đầu được xem xét rõ ràng vết thương của mình. Nó cần được khâu lại. May thay, tất cả bọn tôi đều được huấn luyện những thủ thuật y tế cơ bản, và vật dụng y tế được trang bị trong căn Háp thật quá xuất sắc. Một mũi tiêm nhanh để gây tê, lau chùi sạch sẽ, chín mũi khâu, thể là xong. Tôi sẽ phải uống thuốc kháng sinh vài tuần, nhưng ngoài chuyện đó ra thì tôi sẽ ổn thôi.

Tôi biết đó là vô vọng, nhưng tôi vẫn cố khởi động thiết bị liên lạc. Không có đem theo cả chiếc ăng ten thu tín hiệu nữa. Căn Háp có hệ thống liên lạc phụ thứ hai tín hiệu, đương nhiên rồi. Đĩa vệ tinh chính đã tách rời, nhớ không nào? Và nó còn và thứ ba, nhưng chúng chỉ để liên lạc với chiếc MAV, và nó lại phải dùng một hệ thống mạnh hơn thì mới chuyển tải thông tin đến Hơ-mét được. Cái nữa là, cách đo chỉ thực hiện được khi chiếc MAV vẫn còn đây. Tôi không có cách nào để liên lạc được với Hơ-mét. [...]

Khi kiểm tra bộ đồ của mình, tôi thấy chiếc ăng-ten đã quét thủng máy tính giám sát hoạt động sinh học của tôi. Khi ở trên EVA, tất cả những bộ đồ của cả đoàn đều mang để chúng tôi có thể biết trạng thái của nhau. Những người còn lại trong phi hành đoàn đã thấy áp suất trong áo tôi tụt xuống gần con số không, kế đó là những tín hiệu sinh học hoàn toàn không còn. Thêm vào cảnh tôi bị ngã lăn xuống đồi với một ngọn giáo xuyên thủng vào người giữa cơn bão cát... Vâng. Họ nghĩ rằng tôi đã chết. Làm sao mà lại không nghĩ thế cơ chứ?

Họ có lẽ còn có một thảo luận ngắn ngủi tìm cách lấy xác tôi về, nhưng quy định đã rõ ràng. Trong trường hợp một phi hành gia chết trên Sao Hoả, anh ta sẽ ở lại trên Sao Hoả. Để xác lại đó sẽ giảm trọng lượng của chiếc MAV trong chuyến khứ hồi. Có nghĩa là có thêm nhiên liệu cũng như tăng thêm giới hạn sai sót được phép trong cú xuất phát trở về. Chẳng có lí do gì mà bỏ chuyện đó vì những tình cảm uỷ mị.

Tình hình là vậy đó. Tôi mắc kẹt trên Sao Hoả. Tôi không có cách nào liên lạc được với Hơ-mét hoặc Trái Đất. Ai cũng nghĩ tôi đã chết. Tôi ở trong căn Háp được thiết kế để dùng đến 31 ngày.

Nếu máy tạo oxy bị hỏng, tôi sẽ chết ngộp. Nếu máy lọc nước bị hỏng, tôi sẽ chết khát. Nếu căn Háp thủng lỗ, chỉ là tôi sẽ nổ tung mà thôi. Nếu không có cái nào trong ba trường hợp đó xảy ra, rồi tôi cũng sẽ hết thức ăn và đói đến chết.

Vâng, thế đấy. Chết tôi rồi.

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close