Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 6Tải vềĐề thi giữa kì 2 Văn 12 đề số 6 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Tải về
Đề thi ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 - KNTTVCS I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Ngày 26 tháng 8, chi đội Giải phóng quân đầu tiên tiến vào Thủ đô, giữa tiếng reo mừng dậy đất của đồng bào. Các nam, nữ chiến sĩ lần đầu mặc quần áo đồng phục, chân bước chưa đều, nước da phần lớn tái sạm, nhưng tràn đầy khí thế chiến thắng của một đoàn quân dày dạn trong chiến đấu, mang đến cho đồng bào niềm tin, đã có một chỗ dựa vững chắc bên cạnh đội ngũ vũ trang của hàng ngàn chiến sĩ tự vệ của Thủ đô. Bác từ Tân Trào về Hà Nội. Chúng tôi ra đón Bác tại làng Phú Thượng. Bác còn yếu sau trận sốt nặng vừa qua, vẫn giản dị với bộ quần áo vải vàng cũ và đôi giày vải. Đến 30 tháng 8, trên cả nước, chính quyền đã về tay nhân dân, trừ một đôi nơi bọn phản động Quốc dân đảng gây khó khăn như ở Vĩnh Yên. Ngày mồng 2 tháng 9, Bác ra mắt trước mấy chục vạn đồng bào Thủ đô tại quảng trường Ba Đình với bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Cờ cách mạng nền đỏ sao vàng trở thành cờ của Tổ quốc. Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam độc lập. Đội quân Giải phóng Việt Nam, sau ngày cách mạng thành công, đã xuất hiện trên khắp các miền của đất nước. Bên cạnh những chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích của phong trào cách mạng tại khắp các chiến khu, đã có thêm hàng trăm ngàn thanh niên tình nguyện đứng dưới cờ làm người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc. Ngày vui chưa đến hẳn, cuộc chiến đấu gian khổ còn phải dài lâu. Phía Bắc, quân Tầu Tưởng tiến vào Việt Nam. Nguyễn Hải Thần bám theo đoàn quân phù thũng đang rêu rao 13 điều thảo phạt, định dâng đất nước ta cho bọn Quốc dân đảng Trung Hoa. Miền Nam, thực dân Pháp bám gót sau quân Anh, đã trở lại Sài Gòn. Tiếng súng xâm lược lại nổ. Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân miền Nam đã bắt đầu. Các chiến sĩ Giải phóng quân ở miền Nam, những người con yêu của khởi nghĩa Nam Kỳ, của Cách mạng tháng Tám đã đứng ở hàng đầu cùng nhân dân, với những chiếc gậy tầm vông vát nhọn, kiên quyết thực hiện lời thề của người chiến sĩ Giải phóng quân: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn xâm lược... Không một chút nghỉ ngơi, những chiến sĩ Giải phóng quân ở miền Bắc, lại cùng hàng ngàn thanh niên ưu tú lên đường tiếp tục cuộc Nam tiến. Cuộc Nam tiến lần này đã khác hẳn, không còn là vài trung đội hoặc mấy chục người đi lén lút trong rừng sâu, giữa đêm khuya, mà đây là những đoàn tàu dài dằng dặc, chật ních những chiến sĩ, đi giữa tiếng hoan hô và hàng vạn cánh tay vẫy chào của đồng bào. "Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam", lời nói của Bác Hồ luôn luôn vang dội bên tai mọi người. Kẻ thù đụng vào Nam Bộ là đụng đến lẽ sống còn của toàn dân Việt Nam, xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam. Quân thù đã trở lại. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở miền Nam đã bắt đầu. Đồng bào miền Bắc và đồng bào cả nước quyết không thể ngồi yên trên khắp miền Bắc, những người nông dân tạm gác tay cày, những thanh niên học sinh tạm xếp sách vở, nô nức tòng quân, xin tiếp tục lên đường Nam tiến. Trong cuộc chiến đấu lâu dài, bền bỉ của Đảng ta và nhân dân ta mấy chục năm qua, cuộc chiến đấu của Giải phóng quân Việt Nam, sau này là Quân đội nhân dân Việt Nam, khi đó mới chỉ là bắt đầu. (Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, in trong Hồi kí cách mạng, NXB Giáo dục, 1970, tr198-199) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Đoạn văn đầu tiên của văn bản nhắc đến sự kiện lịch sử nào? Ai là người kể lại? Câu 2. Dẫn ra câu văn cho thấy rõ nhất tình cảm của tác giả với miền Nam tổ quốc. Câu văn ấy mang màu sắc trang trọng hay thân mật? Vì sao? Câu 3. Tính xác thực của thể hồi kí được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản? Câu 4. Anh/chị hiểu thế nào về nhan đề của đoạn trích hồi kí: Từ nhân dân mà ra? Câu 5. Từ đoạn trích trên, anh/chị có nhận xét gì về con người của đồng chí Tổng tư lệnh? II. PHẦN VIẾT Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá thủ pháp trần thuật trong đoạn trích hồi kí phần Đọc hiểu. Câu 2. Trong Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020 -2025 tại Hà Nội, tháng 11 năm 2020, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống” Kết nối với thực tiễn đời sống, viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Phải sống có danh dự. Đáp án I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: - Xác định thời gian, sự kiện lịch sử được nhắc đến trong đoạn văn. - Nhận diện ngôi kể trong hồi kí từ đó xác định người kể chuyện. - Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại hồi kí: người kể thường là nhân chứng trực tiếp của sự kiện. Cách giải: - Sự kiện: Chiến thắng của cuộc Cách mạng tháng Tám – 1945 - Người kể lại: Đại tướng Võ Nguyên Giáp Câu 2: Phương pháp: - Đọc kĩ đoạn văn, tìm câu thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với miền Nam. - Phân tích ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu để xác định sắc thái biểu cảm Cách giải: - Dẫn ra câu văn cho thấy tình cảm của tác giả với miền Nam tổ quốc: Kẻ thù đụng vào Nam Bộ là đụng đến lẽ sống còn của toàn dân Việt Nam, xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam. - Thể hiện sắc thái trang trọng. - Vì: Được gọt giũa cẩn thận, đảm bảo chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách; ngôn ngữ toàn dân. Câu 3: Phương pháp: - Vận dụng đặc điểm thể loại hồi kí: tính xác thực, dựa trên những sự kiện có thật. - Tìm trong văn bản các yếu tố thể hiện tính xác thực: thời gian, địa điểm, nhân vật lịch sử, sự kiện cụ thể. Cách giải: Tính xác thực của hồi kí được thể hiện trong văn bản: + Số liệu cụ thể (chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ, khởi nghĩa Nam Kì...) + Địa danh cụ thể (Tân Trào, Hà Nội, Vĩnh Yên,...). + Thời gian cụ thể (26 tháng 8, 30 tháng 8, 2 tháng 9...) Câu 4: Phương pháp: - Phân tích ý nghĩa nhan đề của đoạn trích. - Liên hệ với nội dung văn bản và tư tưởng của cách mạng Việt Nam. Cách giải: Tiêu đề: Từ nhân dân mà ra - Khẳng định sức mạnh của nhân dân đã tạo nên cách mạng tháng Tám thành công vang dội. - Niềm tin vào thắng lợi mới khi cuộc chiến đấu lâu dài, bền bỉ ở miền Nam mới đang bắt đầu. - Nhấn mạnh đường lối, tư tưởng của Đảng: Đất Nước của dân, do dân, vì dân; dân làm chủ. Câu 5: Phương pháp: Gợi ý: - Vẻ đẹp con người đồng chí Tổng tư lệnh: + Yêu mến Nhân dân, gần gũi với đồng bào. + Yêu tổ quốc, khát khao hòa bình cho nhân dân miền Nam. + Có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, niềm tin vào cuộc kháng chiến của dân tộc - Nhận xét: Đây là những phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách, tâm hồn và ý chí của vị Tổng tư lệnh, góp phần làm nên những chiến thắng hào hùng cho cuộc kháng chiến. Cách giải: Đoạn văn tham khảo: Qua đoạn trích, có thể thấy vẻ đẹp con người của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Tổng tư lệnh của quân đội ta. Ông là người luôn yêu mến nhân dân, gắn bó và gần gũi với đồng bào, coi nhân dân là nguồn sức mạnh của cách mạng. Đồng thời, ông thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc, khát khao hòa bình cho nhân dân miền Nam khi đất nước phải đối mặt với sự xâm lược của kẻ thù. Ở ông còn toát lên tinh thần quyết chiến, quyết thắng và niềm tin mạnh mẽ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Những phẩm chất ấy đã làm nên nhân cách, tâm hồn và ý chí cao đẹp của vị Tổng tư lệnh, góp phần tạo nên những chiến thắng hào hùng của dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. II. VIẾT Câu 1: Phương pháp: - Thủ pháp trần thuật: + Được thể hiện qua việc tác giả lần lượt kể các sự kiện diễn ra: Tác giả kể lại sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc: Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. + Thời gian, sự kiện chính xác, cụ thể (ngày 26/8; ngày 2/9…) + Những nhân vật trong hồi kí trực tiếp tham gia kháng chiến: Phía ta: Bác Hồ, Võ Nguyên Giáp, đồng bào miền Bắc, đồng bào cả nước, chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích … Phía địch: giặc Tầu, giặc Pháp, quân đội Anh… - Thủ pháp trần thuật được kết hợp với tính phi hư cấu, các sự kiện được lồng ghép với nhận định, đánh giá; có sự bộc lộ cảm xúc qua nhận xét của tác giả. => Sự kết hợp này giúp câu chuyện trở nên chân thực, gợi mở suy ngẫm của đọc giả, khơi gợi tình yêu, ý thức và trách nhiệm với đất nước. Cách giải: Đoạn văn tham khảo: Trong đoạn trích hồi kí, tác giả đã sử dụng thủ pháp trần thuật nhằm tái hiện chân thực những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc. Trước hết, câu chuyện được kể theo trình tự thời gian rõ ràng khi tác giả lần lượt thuật lại các sự kiện tiêu biểu như ngày 26/8 khi chi đội Giải phóng quân tiến vào Thủ đô hay ngày 2/9 khi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Việc xác định thời gian và sự kiện cụ thể đã giúp câu chuyện trở nên rõ ràng, chính xác và giàu tính lịch sử. Bên cạnh đó, hệ thống nhân vật được nhắc tới cũng rất cụ thể và chân thực. Ở phía ta có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, đồng bào miền Bắc, đồng bào cả nước, các chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích; phía địch có quân Tưởng, thực dân Pháp và quân đội Anh. Không chỉ dừng lại ở việc kể lại sự kiện, thủ pháp trần thuật còn được kết hợp với tính phi hư cấu của thể loại hồi kí khi các sự kiện được lồng ghép với những nhận định, đánh giá và cảm xúc của người kể. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào dân tộc, tình yêu đất nước và niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Sự kết hợp hài hòa giữa kể chuyện và bộc lộ cảm xúc đã làm cho câu chuyện trở nên sinh động, chân thực, đồng thời gợi mở nhiều suy ngẫm cho người đọc về trách nhiệm đối với Tổ quốc. Câu 2: Phương pháp: 1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân bài: a. Giải thích: - “cuộc sống”: không chỉ đơn thuần là sự tồn tại mà còn bao gồm các hoạt động, trải nghiệm và tương tác với môi trường xung quanh - “danh dự”: là biểu hiện của lòng tự trọng, đạo đức, và nhân phẩm. Sống có danh dự nghĩa là sống đúng với lương tâm và đạo lý. => Cuộc sống và danh dự sống là cái quý giá nhất của một con người. Mỗi chúng ta phải sống sao cho có ý nghĩa, không lãng phí thời gian để sau này không phải ân hận, hối tiếc; sống có ích, nỗ lực làm những điều tích cực, không chỉ sống cho bản thân mà còn sống cho cộng đồng, đất nước. b. Phân tích – Chứng minh: - Tại sao cuộc sống của con người là điều quý giá nhất? (Tầm quan trọng của cuộc sống) + Được sinh ra, được tồn tại trên thế giới này là món quà quý giá nhất đối với mỗi chúng ta. + Cuộc sống là hữu hạn, mỗi ngày trôi qua là cơ hội để làm việc tốt và cống hiến. + Sự lãng phí thời gian là lãng phí cơ hội đóng góp cho xã hội. - Tại sao danh dự sống là điều quý giá nhất đối với con người? + Danh dự là biểu hiện của phẩm giá và lòng tự trọng. Khi một người sống có danh dự, họ tự hào về chính mình, cảm thấy tự tin và không hổ thẹn trước bất kỳ ai. Điều này giúp họ duy trì lòng tự trọng và giá trị cá nhân, tạo nên một cuộc sống ý nghĩa và đáng sống. + Khả năng vượt qua thử thách và khó khăn: Danh dự giúp con người có nghị lực và sức mạnh để vượt qua thử thách và khó khăn trong cuộc sống. Khi đối diện với những tình huống khó khăn, người có danh dự sẽ không bao giờ từ bỏ, không làm điều sai trái, và luôn giữ vững phẩm giá của mình. + Danh dự tạo nên uy tín và sự tôn trọng từ người khác: Một người có danh dự luôn được người xung quanh đánh giá cao, tin tưởng và kính trọng. Điều này không chỉ giúp họ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp mà còn mang lại nhiều cơ hội trong cuộc sống và công việc. Khi một người sống có danh dự, họ luôn tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, luôn cố gắng làm điều đúng đắn. Điều này giúp họ sống một cuộc đời không hối tiếc và tự hào về những gì đã làm. + Trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Một người có danh dự sẽ luôn hành động đúng đắn, công bằng, không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến người khác hay xã hội. Điều này góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và đáng sống. (HS lấy dẫn chứng chứng minh) c. Đánh giá – mở rộng: - Ý kiến mang tính đúng đắn, sâu sắc, được rút ra từ sự trải nghiệm. Ý kiến không chỉ là lời nhắc nhở mà còn mang ý nghĩa giáo dục cho bản thân mỗi chúng ta trong nhận thức, phải sống sao cho có ích, có ý nghĩa, đem tài năng và sức lực của mình đóng góp, dựng xây phát triển đất nước. - Cuộc sống hiện đại mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức, chúng ta cần chủ động vượt lên phía trước, năng động và sáng tạo để chinh phục những khó khăn, nắm bắt cơ hội. Đó là con đường gần nhất để đi đến thành công. 3. Bài học nhận thức và hành động: - Nhận thức: + Nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của cuộc sống và danh dự sống đối với mỗi người + Sống có ích, suy nghĩ kĩ trước khi hành động; - Hành động: Sống thực tế, sẵn sàng nhận sai và sửa sai khi có cơ hội; Luôn chuẩn bị kĩ trước mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống; Dám nghĩ dám làm… 3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận Cách giải: Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống, mỗi con người đều mong muốn sống hạnh phúc và có ý nghĩa. Tuy nhiên, để cuộc sống thực sự có giá trị, con người không chỉ cần tồn tại mà còn phải biết giữ gìn nhân phẩm và lòng tự trọng của mình. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống”. Câu nói ấy đã nhắc nhở chúng ta về hai giá trị thiêng liêng nhất của đời người: được sống và được sống một cách có danh dự. Trước hết, cần hiểu rằng cuộc sống không chỉ đơn thuần là sự tồn tại về mặt sinh học mà còn bao gồm mọi hoạt động, trải nghiệm và mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Cuộc sống là hành trình để mỗi người học hỏi, trưởng thành và cống hiến. Bên cạnh đó, danh dự là biểu hiện của lòng tự trọng, đạo đức và nhân phẩm của con người. Sống có danh dự nghĩa là sống đúng với lương tâm, với chuẩn mực đạo lý và không làm điều gì khiến bản thân phải hổ thẹn. Vì vậy, cuộc sống và danh dự sống chính là những giá trị quý giá nhất mà mỗi người cần trân trọng và gìn giữ. Con người cần sống sao cho có ý nghĩa, không lãng phí thời gian để sau này phải ân hận; biết nỗ lực làm những điều tốt đẹp, không chỉ sống cho bản thân mà còn sống vì cộng đồng và đất nước. Cuộc sống của con người là điều vô cùng quý giá bởi được sinh ra và tồn tại trên thế giới này đã là một món quà lớn lao. Mỗi ngày trôi qua đều mang đến những cơ hội mới để chúng ta học tập, lao động và làm điều có ích. Nếu biết trân trọng thời gian, con người có thể tạo ra những giá trị tốt đẹp cho bản thân và xã hội. Ngược lại, nếu sống buông thả, lãng phí thời gian, con người sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý giá để trưởng thành và cống hiến. Bên cạnh cuộc sống, danh dự cũng là giá trị vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Danh dự là biểu hiện của phẩm giá và lòng tự trọng. Khi một người sống có danh dự, họ luôn cảm thấy tự tin, không hổ thẹn với bản thân và với người khác. Danh dự cũng giúp con người có nghị lực để vượt qua khó khăn và thử thách. Trong những hoàn cảnh gian nan, người có danh dự sẽ không vì lợi ích cá nhân mà làm điều sai trái, luôn giữ vững nhân cách của mình. Trong lịch sử dân tộc, nhiều tấm gương đã sẵn sàng hi sinh để bảo vệ danh dự và độc lập của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói ấy thể hiện rõ tinh thần coi trọng danh dự dân tộc và khát vọng bảo vệ giá trị thiêng liêng của đất nước. Trong đời sống thường ngày, những hành động trung thực, dám nhận lỗi và sửa sai cũng là biểu hiện của lối sống có danh dự. Hơn nữa, danh dự còn tạo nên uy tín và sự tôn trọng của xã hội. Một người sống trung thực, có trách nhiệm và luôn làm điều đúng đắn sẽ được mọi người tin tưởng và quý trọng. Ngược lại, những người vì lợi ích cá nhân mà đánh mất danh dự, sẵn sàng gian dối hay làm tổn hại đến người khác, sớm muộn cũng sẽ mất đi niềm tin của cộng đồng. Vì vậy, giữ gìn danh dự không chỉ là trách nhiệm với bản thân mà còn là trách nhiệm với xã hội. Khi mỗi cá nhân đều sống có danh dự, xã hội sẽ trở nên công bằng, văn minh và tốt đẹp hơn. Trong cuộc sống hiện đại, con người đứng trước rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Những cám dỗ về vật chất hay lợi ích cá nhân đôi khi khiến con người dễ dàng đánh mất giá trị đạo đức của mình. Vì vậy, lời nhắc nhở về việc sống có danh dự càng trở nên quan trọng. Mỗi người cần chủ động học tập, rèn luyện bản thân, sống trung thực và có trách nhiệm với cộng đồng. Đó chính là con đường giúp chúng ta khẳng định giá trị của mình và đóng góp cho xã hội. Từ đó, mỗi người cần nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc sống và danh dự. Chúng ta cần sống có ích, suy nghĩ kĩ trước khi hành động và luôn giữ vững lòng tự trọng. Đồng thời, cần dám nhận sai và sửa sai khi mắc lỗi, luôn nỗ lực hoàn thiện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội. Có thể nói, cuộc sống là món quà quý giá nhất mà con người có được, nhưng danh dự chính là giá trị làm nên ý nghĩa của cuộc sống ấy. Khi con người biết sống có danh dự, họ không chỉ giữ gìn phẩm giá của bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và văn minh hơn.
|
Danh sách bình luận