Soạn bài Thương nhớ mùa xuân SGK Ngữ văn 11 tập 2 Cánh diều - siêu ngắn

Đọc trước bài thơ Thương nhớ mùa xuân, tìm hiểu thêm thông tin về nhà thơ Vũ Bằng? Chú ý cách tác giả giới thiệu về tháng Giêng và mùa xuân

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Trước khi đọc

Câu 1 (trang 57, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đọc trước bài thơ Thương nhớ mùa xuân, tìm hiểu thêm thông tin về nhà thơ Vũ Bằng?

Phương pháp giải:

Chú ý lựa chọn thông tin phù hợp, phục vụ cho việc đọc hiểu.

Lời giải chi tiết:

- Tác giả Vũ Bằng: 

+ Nhà văn Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho học tại Hà Nội. Ông theo học Trường Albert Sarraut và tốt nghiệp Tú Tài Pháp. Ông bắt đầu tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng vào cuối năm 1948. 

+ Ngay từ khi còn nhỏ ông đã say mê viết văn, làm báo. 

+ Sau năm 1954, Vũ Bằng vào Sài Gòn tiếp tục viết văn, làm báo. ông làm việc tại Việt Tấn Xã và cộng tác với nhiều tờ báo. Ông chuyên về dịch thuật nhiều hơn sáng tác. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 1

Câu 1 (trang 57, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chú ý cách tác giả giới thiệu về tháng Giêng và mùa xuân.

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn đầu tiên và chỉ ra cách giới thiệu của tác giả.

Lời giải chi tiết:

Giới thiệu trực tiếp vào mùa xuân, về tháng Giêng. Bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc mà không hề e ngại.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 2

Câu 2 (trang 58, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Cảnh sắc và con người Hà Nội vào mùa xuân có đặc điểm gì?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn thứ hai, chỉ ra những câu văn miêu tả cảnh sắc và con người Hà Nội

Lời giải chi tiết:

+ ...là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh.

+ ...có tiếng trống chèo vọng lại tại những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng.

Trong khi đọc 3

Câu 3 (trang 58, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Cảm xúc của nhân vật “tôi” trước mùa xuân thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn thứ hai phần giữa, tìm ra những câu văn miêu tả cảm xúc của nhân vật “tôi”.

Lời giải chi tiết:

Cảm xúc của nhân vật “tôi” trước mùa xuân rất vui vẻ, bồi hồi, yêu đời. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 4

Câu 4 (trang 59, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Ở phần 3, tác giả bày tỏ cảm xúc gì về mùa xuân Hà Nội?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn thứ ba, tìm ra những chi tiết thể hiện cảm xúc của tác giả về mùa xuân Hà Nội.

Lời giải chi tiết:

 Tác giả đắm say, say mê trước mùa xuân ở Hà Nội đặc biệt sau ngày rằm tháng Giêng.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 5

Câu 5 (trang 60, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Thời tiết đặc trưng của Hà Nội sau rằm tháng Giêng như thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn thứ ba phần cuối, tìm ra những chi tiết thể hiện thời tiết đặc trưng sau rằm tháng Giêng của Hà Nội. 

Lời giải chi tiết:

Thời tiết không nóng cũng không rét, mang sự mát mẻ và rất dễ chịu.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 6

Câu 6 (trang 60, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Trong tâm trí tác giả, trăng tháng Giêng có gì đặc biệt?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn thứ tư, tìm ra những chi tiết miêu tả trăng tháng Giêng.

Lời giải chi tiết:

Trăng tháng Giêng mang nét đẹp thẹn thùng, mơn mởn sắc xuân.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Đề tài của văn bản Thương nhớ mùa xuân là gì? Dựa vào đâu để em biết được điều đó?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và tìm ra đề tài bằng cách dựa vào nhan đề và nội dung chính.

Lời giải chi tiết:

- Đề tài: tình yêu thương với quê hương và gia đình. 

- Dựa vào nội dung và nhan đề của văn bản mà em biết được điều đó. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Xác định nội dung chính của mỗi phần trong văn bản Thương nhớ mùa xuân. Theo em, mạch logic chính gắn kết các phần của văn bản là gì?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và xác định nội dung chính của mỗi phần, tìm ra mạch logic bằng cách dựa vào những suy nghĩ cảm nhận của tác giả.

Lời giải chi tiết:

+ Phần 1: Từ đầu đến mê luyến mùa xuân”. Nội dung chính là nêu lên những cảm nhận về tình cảm của con người với mùa xuân.

+ Phần 2: Tiếp theo đến mở hội liên hoan”. Miêu tả cảnh sắc và không khí mùa xuân Hà Nội.

+ Phần 3: Phần còn lại. Miêu tả cảnh sắc và không khí màu xuân sau ngày rằm tháng Giêng.

- Theo em, mạch logic chính gắn kết các phần của văn bản là những suy nghĩ và cảm nhận của nhà văn về cảnh sắc mùa xuân.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Cái “tôi” tác giả trong văn bản thể hiện tình cảm, cảm xúc gì? Hãy dẫn ra một số câu văn thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc ấy.

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện tình cảm, cảm xúc.

Lời giải chi tiết:

- Cái “tôi” tác giả trong văn bản thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả đối với mùa xuân. 

- Một số câu văn thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc ấy là:

+ "Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân."

+ "Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu Giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác."

Xem thêm cách soạn khác


Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình của thể loại tùy bút qua một vài biểu hiện cụ thể của văn bản Thương nhớ mùa xuân (ngôn ngữ, chi tiết, sự việc,...).

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và tìm những chi tiết, sự việc, các từ ngữ để thể hiện kết hợp giữa tự sự và trữ tình.

Lời giải chi tiết:

+  Ngôn ngữ: Tuy sử dụng những ngôn ngữ giản dị nhưng nó rất giàu hình ảnh, giàu chất trữ tình và giàu tính biểu cảm, mang lại cảm xúc dồi dào cho người đọc.

+ Việc kết hợp nhiều phương thức kể, tả, biểu cảm vào văn bản đã giúp cho giọng điệu thơ trở nên nhịp nhàng và hài hòa hơn.

+ Không chỉ sử dụng các câu kể, tả mà còn trong văn bản, tác giả cũng sử dụng nhiều câu cảm thán bộc lộ tâm tư và tình cảm của mình: "Ới ơi người em gái xõa tóc bên cửa sổ!", “Tôi yêu sông xanh, núi tím.... là vì thế”,…

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Chi tiết nào về thiên nhiên (hoặc phong tục, con người) Hà Nội trong văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em? Vì sao?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và tìm ra chi tiết về thiên nhiên hoặc con người Hà Nội để lại ấn tượng nhất với em và đưa ra lý do bằng cách phân tích điểm đặc sắc.

Lời giải chi tiết:

- Chi tiết ấn tượng: Thiên nhiên tháng Giêng ở Hà Nội.

- Vì: Việt Nam có ba vùng miền và mỗi vùng miền lại có đặc điểm về khí hậu và thời tiết khác nhau trong đó, mùa xuân và khí hậu miền Bắc rất đặc biệt vì nó có đủ 4 màu trong một năm. Vũ Bằng đã miêu tả rất chân thực khung cảnh tháng giêng về với những cảm nhận về sự chuyển giao diệu kỳ của thời tiết và sự hòa quyện giữa cảnh sắc thiên nhiên với con người nơi đây.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 6

Câu 6 (trang 61, SGK Ngữ Văn 11, tập hai):

Em hiểu thêm được những gì về giá trị văn hoá dân tộc thông qua văn bản Thương nhớ mùa xuân?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài và đưa ra những giá trị văn hóa dân tộc.

Lời giải chi tiết:

- Giá trị văn hóa dân tộc: Miêu tả ngày Tết.

+ Tết miền Bắc gắn liền với hình ảnh hoa đào, bánh chưng xanh ăn chúng với thịt mỡ dưa hành. Ở ngoài Bắc, còn mùng là còn Tết, còn hoa đào là vẫn còn thấy Tết. Tết kết thúc cũng là lúc cuộc sống quay trở lại quỹ đạo như hàng ngày.

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Thương nhớ mùa xuân
+

Thương nhớ mùa xuân

(trích Thương nhớ mười hai)

Vũ Bằng

Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng

thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô

gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.

Ởi ơi người em gái xoã tóc bên cửa sổ! Em yêu mùa xuân có phải vì nghe thấy

rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận ở ngoài vườn? Chàng trai kia

yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe

thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải vì đấy là mùa xanh nên hi vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?

Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.

Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huệ tình của cô gái đẹp như thơ mộng

Người yêu cảnh, vào những lúc trời đất mang mang như vậy, khoác một cái áo

lông, ngậm một ống điếu, mở cửa di ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ

êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó — có lẽ là sự sống!

Anh có thể đạp cỏ trên Hồ Gươm, đợi đến sâm sẩm tối ra ngồi ở Thuỷ Tạ nhìn

các cô gái đẹp như tiên mặc áo nhung, áo len trăm màu ngàn sắc, in bóng hình

xuống đáy nước lung linh; anh có thể vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống”,

“mở quả mứt” phong bao cho các chị em, rồi uống với mỗi em một li rượu “lấy

may”; anh có thể đi vào một ngôi chùa khỏi nhang nghi ngút, dưa mắt nhìn xem có

cô nào thực xinh thì quỳ ngay xuống bên cạnh cầu Trời khẩn Phật cho cô càng ngày càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng xứng ý như... anh vậy.

Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điện lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nại, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ tỉ tỉ giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.

Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh

hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà

cái rét ngọt ngào, chứ không còn tê buốt căm căm nữa.

Y như những con vật nằm thu mình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại

bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.

Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên

kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.

Đẹp quá đi, mùa xuân ơi — mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng,

Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu Giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mát.

Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho

mưa phùn, không còn làm cho nền trời dùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám, chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve sầu mới lột.

Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đã hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cả

om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn

mát như quạt vào lòng. Cánh màn điều treo ở trước bàn thờ ông vải đã hạ xuống

từ hôm “hoá vàng” và các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật.

Các con lại đi học cả rồi. Dưới nhà, người làm ngồi nhắc lại chuyện Tết với nhau

“tiền mở hàng được tất cả mười hai đồng” và “đánh tam cúc thua mất ba đồng mốt”. Một cảnh thanh bình thú vị diễn ra thấp thoáng ở ngoài vườn, sân gác.

Bảo là nóng ư? Không. Bảo là rét ư? Không. Thời tiết lúc đó kì lạ lắm: rét vẫn còn vương trên ngọn xoan đào, nhưng đất ở ngoài vườn khô ráo, sạch bong, mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương, và qua những kẽ lá chòm cây, có những bông hoa nắng rung rinh trong bể nước.

Đêm xanh biêng biếc, tuy chưa có mưa rây, nhưng nhìn lên thấy rõ từng cánh

sếu bay. Về khuya, trời vẫn rét một cách tình tứ nên thơ: mặc dầu vẫn phải đắp chăn bông, nhưng ban ngày không cần phải mặc áo ấm như hồi cuối Chạp. [...]

Cuối tháng Giêng, có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc, chỉ

chừng mười giờ tối thì trăng mọc cao trên đỉnh đầu.

Cái trăng tháng Giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ, hình như cũng đẹp hơn các tháng khác trong năm thì phải: sáng nhưng không sáng lộng lẫy như

trăng sáng mùa thu, đẹp nhưng không đẹp một cách úa héo như trăng tháng Một. Cái đẹp của trăng tháng Giêng là cái đẹp của nàng trinh nữ thẹn thùng, vén màn hoa ở lầu cao nhìn xuống để xem ai là tri kỉ, mặc dầu không có ai thấy để đoán biết tâm sự mình, nhưng cứ thẹn bâng khuâng, thẹn với chính mình.

Ánh trăng lúc ấy không vàng mà trắng như sữa, trong như nước ôn tuyền. Đi vào

giữa ánh sáng mơ hồ ấy, mình cảm như thấy mình bay trong không gian vô bờ bến.

Nằm ở trên cái giường tre ngoài vườn kê dưới một gốc lan tây(2 thơm phức, mình

nghe rõ ràng có tiếng trăng thủ thi thì thầm. Ở nhà ngoài, vọng vào câu chuyện của

mấy cô hàng xóm. Không, vào tháng Giêng, người Bắc Việt ít có giải trí nghèo nàn

trong rạp hát, nhà xỉ nế hay tiệm nhảy: một bà nói chuyện mới đi lễ chùa Trầm về,

xin được một cây xâm “thượng thượng”4); một cô khác trịnh trọng đưa biểu người

chị em thân một gói quả Thiết Quan Âm của ông bác vừa ở Trùng Khánh về ăn Tết; một bà khác nữa giở hộp trầu ra, vừa nhai vừa cuốn theo lối “sâu kèn” những điếu thuốc lá ta ướp hoa ngâu.

Vào khoảng nửa đêm, thành phố im lăng lắng. Có mấy hạt mưa xuân bắt đầu.

Người chồng đóng cửa lại, vào nhà. Không khí lại càng thân mật thêm lên. Chắt

chịu trong mười mấy năm trời, kể từ lúc còn hai bữa cơm đèn cho đến bây giờ có

đồng ra đồng vào, người vợ đêm xuân cảm thấy con tim có cánh, rót hai li rượu nhỏ màu trăng cùng đối ẩm với người chồng lấy nhau từ lúc hãy còn nghèo túng. Này, trầu vàng, vỏ tía ngon đáo để, hay là ta ăn một miếng, rồi bói một quẻ Kiều dầu năm xem xấu tốt ra sao hãy đi ngủ, hở mình?

[...] Người khách xa nhà nằm ngửa mặt lên trần, mơ lại những ngày xuân đã mất

và cảm như tất cả những cái vui đẹp, say sưa đó thuộc vào một tiền kiếp xa xôi.

(Thương nhớ mười hai, NXB Văn học, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1989)

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close