Soạn bài Một người Hà Nội SGK Ngữ văn 11 tập 2 Cánh diều - siêu ngắnĐọc trước văn bản Một người Hà Nội, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nguyễn Khải và bối cảnh diễn ra các sự kiện trong truyện. Suy nghĩ về vai trò của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Trước khi đọc 1 Câu 1 (trang 11, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Đọc trước văn bản Một người Hà Nội, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nguyễn Khải và bối cảnh diễn ra các sự kiện trong truyện. Phương pháp giải: Chú ý lựa chọn thông tin phù hợp, phục vụ cho việc đọc hiểu. Lời giải chi tiết: * Tác giả - Nguyễn Khải (1930 – 2008), tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, ông sinh ra tại Hà Nội. - Nhà văn được rèn luyện và trưởng thành trong quân ngũ. - Một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8. - Tác phẩm chính: Xung đột, Mùa lạc, Một người Hà Nội, Thượng Đế thì cười,..... - Phong cách nghệ thuật: Có khả năng phát hiện vấn đề, khả năng phân tích tâm lý nhân vật, giọng văn đôn hậu, trầm lắng, chiêm nghiệm. * Bối cảnh - Tác phẩm ra đời khi đất nước có nhiều thăng trầm, biến động, những giá trị truyền thống cũng dần phai mờ, đặc biệt là những giá trị của người Hà Nội. Trước khi đọc 2 Câu 2 (trang 11, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Suy nghĩ về vai trò của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Phương pháp giải: Vận dụng kiến thức thực tế cá nhân để đưa ra suy nghĩ. Lời giải chi tiết: - Hiện nay, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. - Hậu quả của việc chạy theo những nền văn hóa khác nhau là những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi. Trước khi đọc 3 Câu 3 (trang 11, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Tìm hiểu thêm về tính cách con người Hà Nội qua báo chí, thơ văn… Phương pháp giải: Tìm thông tin ở trên mạng, báo để chỉ ra tính cách con người Hà Nội. Lời giải chi tiết: - Chân dung của người Hà Nội khắc họa rõ nét ở phần nhân cách như: Trí tuệ, bác học, tài hoa nho nhã và văn minh thanh lịch. Trong khi đọc 1 Câu 1 (trang 11, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Tình cảm của nhân vật “tôi” đối với Hà Nội vừa được giải phóng ra sao? Phương pháp giải: Đọc đoạn văn đầu, chú ý những từ ngữ chỉ cảm xúc để nhận ra tình cảm của nhân vật “tôi”. Lời giải chi tiết: Tình cảm của nhân vật “tôi” đối với Hà Nội vừa được giải phóng rất vui vẻ, hạnh phúc thoải mái vì được ngắm nhìn Hà Nội trở lại yên bình, tự do. Trong khi đọc 2 Câu 2 (trang 11, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật. Phương pháp giải: Đọc đoạn văn đầu, chú ý người kể chuyện và các nhân vật. Lời giải chi tiết: Lời nhân vật được cá thể hoá sâu sắc và phối hợp hài hòa với lời người kể chuyện. Trong khi đọc 3 Câu 3 (trang 12, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Với thời cuộc, nhân vật cô Hiền có thái độ như thế nào? Phương pháp giải: Đọc đoạn văn thứ hai, chú ý các chi tiết thể hiện thái độ của cô Hiền. Lời giải chi tiết: - Cô Hiền tự nhận mình có bộ mặt rất tư sản, ai cũng nhận xét về cô như thế. - Tác giả đã miêu tả hình tượng cô Hiền với những điều kiện rất tốt của một con người Hà Nội lúc bấy giờ. - Đứng trước cuộc chiến tranh khốc liệt, những biến động thay đổi của lịch sử cũng sẽ khiến con người thay đổi theo. Hoặc là vẫn giữ được cái nhìn tốt đẹp về cuộc sống, hoặc là xã hội thay đổi con người cũng thay đổi theo và bị tha hóa dần. Nhưng điều đó không làm thay đổi được tính cách cô Hiền Trong khi đọc 4 Câu 4 (trang 13, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý những chi tiết cho thấy rõ cách suy nghĩ tính toán và quyết định việc gia đình của nhân vật cô Hiền. Phương pháp giải: Đọc đoạn văn thứ hai, tập trung vào hành động để thấy rõ cách suy nghĩ tính toán và quyết định. Lời giải chi tiết: + Cô bán một căn nhà ở Hàng Bún cho người bạn ở kháng chiến về. + Khi chồng mong muốn mua máy in để kinh doanh, cô Hiền tính toán đủ thứ từ việc không tự làm được phải thuê mà thuê thì sẽ trở thành chủ, mà đây là điều xã hội hiện tại rất e ngại. Từ đó khiến chồng từ bỏ ý định. Trong khi đọc 5 Câu 5 (trang 14, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm của nhân vật cô Hiền được thể hiện ra sao? Phương pháp giải: Đọc phần cuối đoạn văn thứ ba để nhận ra lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm. Lời giải chi tiết: + Cô khuyên con nhập ngũ, dạy con sống không phải xấu hổ. + Sau khi người anh đi mà ba năm sau cũng không nhận được một tin gì thì đến người em. Cô không ngăn cản dù rất đau lòng. Trong khi đọc 6 Câu 6 (trang 14, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nội thất và vật dụng trong nhà cô Hiền có gì đáng chú ý? Phương pháp giải: Đọc đoạn văn thứ tư, tìm ra đặc điểm đồ vật trong nhà cô Hiền. Lời giải chi tiết: + Nơi tiếp khách của cô sau tấm bình phong cao hơn đầu người bằng gỗ chạm suốt mấy chục năm không thay đổi. + Một bộ sa lông bằng gỗ gụ, lưng tựa có chạm khắc hình cái khánh. Phản làm bằng gỗ gụ, chân phản tạo dáng chân con thú. Trong khi đọc 7 Câu 7 (trang 15, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hình ảnh cái bát thủy tiên men đỏ có ý nghĩa gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ những chi tiết xung quanh cái bát thủy tiên. Lời giải chi tiết: Mang đậm những giá trị truyền thống, thể hiện nét đẹp văn hóa của người Hà Nội xưa. Trong khi đọc 8 Câu 8 (trang 15, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Những sự việc nào khiến nhân vật “tôi” buồn phiền? Phương pháp giải: Đọc phần giữa đoạn bốn, chú ý tâm trạng của nhân vật “tôi”. Lời giải chi tiết: + Nhân vật “tôi” đến thăm bạn nhưng quên đường, khi hỏi thăm người qua đường thì nhận được thái độ thờ ơ, thiếu lễ độ. + Đạp xe ở ngoài đường và bị một cậu trẻ đụng phải. Không những không xin lỗi mà còn đưa ra câu nói bậy, mất lịch sự. Trong khi đọc 9 Câu 9 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý hình ảnh cây si cổ thụ Phương pháp giải: Đọc phần cuối đoạn bốn, sự việc gì đã xảy ra với cây si. Lời giải chi tiết: - Hình ảnh cây si bị bão đánh bật rễ, thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời đó cũng là quy luật xã hội. - Sự hồi sinh của cây si cổ thụ nói lên quy luật bất diệt của sự sống, thể hiện niềm tin của con người khi cứu sống được cây cối. Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nhân vật trung tâm của truyện là ai? Hãy vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa nhân vật trung tâm này với các nhân vật khác trong truyện. Phương pháp giải: Đọc toàn bài xác định nhân vật trung tâm và mối quan hệ với những người xung quanh. Lời giải chi tiết: - Nhân vật trung tâm: Cô Hiền.
Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Xác định phẩm chất, tính cách của nhân vật cô Hiền trong truyện Một người Hà Nội. Dựa vào những chi tiết nào để có thể xác định như thế? Vì sao nhân vật này được người kể chuyện gọi là “một hạt bụi vàng” của Hà Nội? Phương pháp giải: Đọc toàn bài phân tích cụ thể nhân vật cô Hiền. Lời giải chi tiết: - Nhân vật trung tâm là cô Hiền: - Xuất thân từ gia đình giàu có, lương thiện - Ngoại hình: xinh đẹp, khuôn mặt tư sản, thông minh, yêu văn thơ. - Tính cách và phẩm chất của cô Hiền + Giữ được cốt cách con người, chân thật, thẳng thắn. + Trong hôn nhân: chọn người chồng chăm chỉ, hiền lành. + Chuyện sinh con: dừng lại ở tuổi 40 khi sinh được 5 đứa con để có thể chăm lo cho con chu đáo. + Việc dạy con: dạy từ cái nhỏ nhất + Chiêm nghiệm lẽ đời: vui vẻ hơi nhiều, nói hơi nhiều. + Cô Hiền là người thức thời khi biết cách cư xử hợp lí với tình hình đất nước. + Cô khuyên con nhập ngũ, dạy con sống không phải xấu hổ. + Sau khi đất nước thống nhất cô mở tiệm hàng lưu niệm, cô chỉ làm những điều có lợi cho đất nước. → Cô Hiền với nhân cách thanh lịch, là hạt bụi vàng của Hà Nội với bao thăng trầm vẫn sống có ý nghĩa cho đất nước. Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Quan điểm, thái độ của người kể chuyện xưng “tôi” đối với các nhân vật và sự việc trong truyện được thể hiện như thế nào? Phương pháp giải: Đọc toàn bài phân tích cụ thể nhân vật “tôi”. Lời giải chi tiết: - Nhân vật tôi: + Là người giỏi quan sát, cảm nhận nhạy bén, sắc sảo. + Có giọng điệu vui đùa, khôi hài nhưng khôn ngoan, trải đời. + Người trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc. Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Trong truyện Một người Hà Nội, lời nhân vật được cá thể hoá sâu sắc và phối hợp hài hòa với lời người kể chuyện. Hãy nêu ý kiến của em về nhận định trên. Phương pháp giải: Đọc toàn bài phân tích cụ thể ý kiến về lời nhân vật và lời người kể chuyện. Lời giải chi tiết: Nhân vật tôi thấp thoáng bóng dáng của tác giả, người kể chuyện, một sáng tạo nghệ thuật sắc nét mang tới điểm nhìn chân thật, khách quan. Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh có ý nghĩa và tác dụng ra sao trong việc thể hiện chủ đề của truyện? Phương pháp giải: Đọc toàn bài đặc biệt đoạn cuối, phân tích cụ thể về cây si. Lời giải chi tiết: - Hình ảnh cây si bị bão đánh bật rễ, thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời đó cũng là quy luật xã hội. + Sự hồi sinh của cây si cổ thụ nói lên quy luật bất diệt của sự sống, thể hiện niềm tin của con người khi cứu sống được cây cối. + Cây si là biểu tượng nghệ thuật, hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp Hà Nội: có thể bị tàn phá, bị nhiễm bệnh, nhưng vẫn là người Hà Nội với truyền thống văn hóa được nuôi dưỡng trường kì lịch sử, cốt cách tinh hoa đất nước. Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 16, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Từ truyện Một người Hà Nội, em có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa phẩm chất, tính cách cá nhân với việc nhận thức, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc? Phương pháp giải: Đọc toàn bài kết hợp với kiến thức đời sống để phân tích được. Lời giải chi tiết: Phẩm chất, tính cách cá nhân có mối quan hệ rất quan trọng với việc nhận thức, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc. Xã hội hiện nay đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người hòa nhập. Nhiều bản sắc bị mai một, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Thay vào đó, giới trẻ có xu hướng theo đuổi những và ưa chuộng những văn hóa của các nước khác. Hậu quả của việc chạy theo những nền văn hóa khác nhau là những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi. Nhiều đứa trẻ hiện nay không hiểu nền văn hóa truyền thống của đất nước mình bằng sự tân tiến của thế giới. Những điều này sớm muộn gì cũng khiến cho con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình. Mỗi con người một hành động nhỏ sẽ đem lại những giá trị to lớn cho đất nước. Chính vì thế chúng ta cần có ý thức đúng đắn và bắt tay vào hành động để giữ gìn những truyền thống văn hóa đẹp đẽ của đất nước Việt Nam này, khiến đất nước ngày càng tươi đẹp hơn.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Một người Hà Nội
+
Một người Hà Nội Nguyễn Khải Chúng tôi gọi là cô, cô Hiền, là chị em đời con dì ruột với mẹ già tôi. Năm 1955, tỏi từ kháng chiến trở về một Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước, còn họ hàng chỉ còn lại có dăm gia đình vì chồng và con đều đi theo cách mạng. Cô Hiền cũng ở lại, dầu cô chú vẫn sống ở Hà Nội suốt chín năm đánh Pháp, các con lại còn nhỏ, chả có dính líu gì đến chính phủ “ngoài kia” cả. Họ ở lại chỉ vì không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở một vùng đất khác. Lại thêm, chú tôi làm nghề giáo học, một ông giáo dạy cấp Tiểu học, là người cần thiết của mọi chế độ, chế độ cộng sản cũng phải khuyến khích trẻ con đi học, học văn hoá và học làm người. Còn chính trị, chính em là những lứa tuổi trên, học sinh tú tài và sinh viên đại học. Tính thế là đúng, nhưng tôi vẫn lo, thật ra không có gì đáng để phải lo nhưng tôi vẫn nghi ngại gia đình này rất khó gắn bó với chế độ mới và chế độ mới cũng không thể tin cậy được ở họ. Là vì họ ở rộng quá, một toà nhà toạ lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si có thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn. Với người vô sản, ở quá rộng là một cái tội, trong khi cán bộ và gia đình họ phải ở chen chúc trong những khu nhà tập thể, có khi phải ở ngay dưới gầm cầu thang của một nhà bạn bè. Cái mặc cũng sang trọng quá. Mùa đông ông mặc áo ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm. Lại cái ăn nữa cũng không giống với số đông. Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản và từng người ngồi đúng chỗ đã quy định. Gia đình tôi thì ăn uống bình dân hơn, vợ chồng con cái ngồi xúm xít quanh cái mâm nhôm, thức ăn có khi múc ra bát ra đĩa, có khi cú để nguyên trong nồi, nồi lớn đặt giữa mâm, nồi nhỏ đặt cạnh mâm, cứ việc sục muôi vào, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát con mắng cái, nhằm nhoàm, hả hê, không cần phải khuôn bó theo một quy tắc nào cả. Ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ lễ nghi rườm rà của... giai cấp tư sản. Tôi không dám thốt ra miệng nhung vợ chồng vẫn bảo riêng nhau : “Cô Hiền đích thị là tư sản rồi. Đã là tư sản thì không thể tin cậy được. Việc mình mình biết, việc có mặc cô, dính líu nhiều có ngày lại rắc rối.”. (Lược đoạn 2: Có Hiền xuất thân trong một gia đình giàu có lương thiện : mẹ buôn nước mắm, bố đỗ tú tài, mê văn thơ, dạy con cái theo khuôn phép nhà quan. Có Hiền xinh đẹp, thông minh, được gia đình cho phép mở phòng tiếp khách văn chương gọi là xa lông văn học.) Được sống năm đầu ở Hà Nội vừa giải phóng, với lứa tuổi chúng tôi ngày ấy mới hăm bốn hãm nhằm cái xuân xanh, là cực kì khoan khoái. Chín năm xa phố phường, xa ánh điện, không được vào rạp xem chiếu bóng hoặc cải lương, không được vào một cái chợ đồng người giữa ban ngày, bây giờ mỗi ngày đều ở Hà Nội, mỗi đêm đều ở Hà Nội, mãi mãi còn ở Hà Nội. Chúng tôi thì vui thế, tại sao những người vốn sống ở Hà Nội chưa thật vui nhỉ ? Họ đang tìm cách thích ứng với chế độ mới, cách sống, cách làm việc, cả cách nói năng nữa. Một lần tôi đến thăm có chú, thằng em trai đã mười bốn, mười lăm tuổi chạy ra mở cửa kêu ầm lên : “Mẹ ơi! Đồng chí Khải đến !”. Có tôi cau mặt gắt : “Phải gọi là anh Khải, hiểu chưa ?”. Bất đồ chú tôi cũng bước tới, nắm tay tôi rồi hỏi hồn nhiên : “Tại sao chủ nhật trước đồng chí không ra chơi, cả nhà chờ cơm mãi”. Cô tôi thở dài, quay người đi. Tôi nói : “Nước được độc lập vui quá cô nhỉ?”. Cô trả lời : “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ ?”. Theo cô, Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở. Về sau tổ dân phố lại vận động nhau không nên nuôi người ở. Nhà này trước đây có hai người ở, một anh bếp và một chị vú. Chị vú là vợ anh bếp, đẻ được đứa con nào lại đưa về quê cho bà ngoại nuôi. Sau ngày giải phóng, cô tôi cho anh bếp về quê làm ruộng, còn chị vú vẫn ở lại, vì chủ tớ còn cần dựa vào nhau. Mỗi ngày chị đi chợ, đều có cán bộ bám theo, dò hỏi: “Chị có bị nhà chủ hành hạ không ? Tiền công có được trả đều đặn không ? Thái độ chính trị của họ là như thế nào ?”. Chị vú gắt ầm lên : “Nếu họ không tử tế thì tôi đã xéo từ lâu rồi không khiến anh phải xui”. Chị ta kể lại chuyện đó cho cả nhà nghe, bình luận : “Cách mạng gì toàn để ý đến những chuyện lặt vặt”. Bây giờ thì chị vú đã mất rồi, về quê được bốn năm thì mất. Chị trông con cho bà có tới từ năm mười chín tuổi, đến năm bốn lăm tuổi mới về quê, tình nghĩa như người trong họ. Anh chồng không lấy vợ khác vì các con đã trưởng thành, anh làm chủ nhiệm một cửa hàng mua bán của xã, ngày giỗ ông chú và ngày Tết đều đem gạo, đậu xanh, miến và rượu, toàn của nhà làm cả, lên biếu có và các em. Trong lí lịch cán bộ tôi không ghi tên cô Hiền. Họ thì xa, bắn súng đại bác chưa chắc đã tới, huống hồ còn là bà tư sản, dính líu vào lại thêm phiền. Tôi vẫn đinh ninh có phải thuộc giai cấp tư sản vì cô có gương mặt đặc biệt là tư sản, càng già lại càng rõ. Tôi hỏi cô : – Tại sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài nhỉ? Cô Hiền cười rất tươi : – Tao chưa đủ tiêu chuẩn. Tôi cũng cười : – Lại còn chưa đủ. Có nói thản nhiên: – Tao có bộ mặt rất tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao thành tư sản được. Tôi nín lặng vì đó là sự thật. Cửa hàng của cô chỉ bán có một thứ : hoa giấy, các loại hoa giấy và các lẵng hoa đan bằng tre, thêm ít bưu ảnh và số tay kỉ niệm. Hoa làm rất đẹp, bán rất đắt, nhưng chịu thuế rất nhẹ, chỉ có một mình cô làm, các con thì chạy mua vật liệu, hoặc làm giúp phần cuống lá vào dịp Tết ta và Tết tây. Nhiều bà bạn cũng tỏ ý ngờ vực : “Trông bà như tư sản mà không bị học tập cũng lạ nhỉ ?”. Cô tôi trả lời thật nhẹ nhàng : “Các bà không biết nhưng nhà nước lại rất biết”. Tất nhiên là cô khôn hơn các bà bạn của cô và cũng thức thời hơn ông chồng. Sau ngày Hà Nội giải phóng có vẫn có hai dinh cơ, một nhà đang ở và một nhà ở Hàng Bún cho thuê. Ông làm nghề dạy học, con đông, đủ ăn là may, có tiền du để tậu nhà là do ông viết sách giáo khoa cấp Tiểu học, được Nha Học chính công nhận và cho in bán. Năm 1956, cô bán ngôi nhà ở Hàng Bún cho một người bạn mới ở kháng chiến về. Một năm sau, có một cán bộ tới hỏi về nhà cửa và có nhắc tới ngôi nhà ở Hàng Bún. Cô trả lời tỉnh khô : “Xin mời anh tới ngôi nhà anh vừa nói, hỏi thẳng nhà chủ xem họ trả lời ra sao. Nếu còn thắc mắc xin mời anh trở lại.”. Cũng trong năm 1956, ông chú tôi muốn mua một máy in nhỏ để kinh doanh trong ngành in vì chế độ mới không cho phép ông mở trường tư thục. Bà vợ hỏi lại : “Ông có đúng máy được không ?”. Ông chồng trả lời: “Không”, “Ông có sắp chữ được không ?”, “Không”, “Ông sẽ phải thuê thợ chứ gì. Đã có thợ tất có chủ, ông muốn làm một ông chủ dưới chế độ này à ?”. Ông chồng tính vốn nhát, rút lui ngay [...]. Cô Hiền bên ngoại, chị Đại bên nội là những người đàn bà có đầu óc rất thực tế. Mọi sự mọi việc đều được các bà ấy tính toán trước cả. Và luôn luôn tính đúng vì không có lòng tự ái, sự ganh đua, thói thời thượng chen vô. Không có cả sự lãng mạn hay mơ mộng vớ vẩn. Đã tính là làm, đã làm là không thèm để ý đến những đàm tiếu của thiên hạ. Cô tuyên bố thẳng thùng với tôi: “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”. Gần ba chục tuổi cô mới đi lấy chồng, không lấy một ông quan nào hết, cũng chả hứa hẹn gì với đám nghệ sĩ văn nhân, đùa vui một thời son trẻ thế là đủ, bây giờ phải làm vợ, làm mẹ, có chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc. Có gì mà kinh ngạc, cô đã tính trước cả. Sau khi sinh đứa con gái út, người con thứ năm, cỏ nói với chồng : “Từ nay là chấm dứt chuyện sinh đẻ, bốn mươi tuổi rồi, nếu ông và tôi sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải sống bám vào các anh chị.”. Là thổi hẳn. Cô bảo tôi: “Mày bắt nạt vợ mày quá, không để nó tự quyết định bất cứ việc gì, vậy là hỏng. Người đàn bà không là nội tướng” thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao.”. Khi các con còn nhỏ, ngồi vào bàn ăn có thường chú ý sửa chữa cách ngồi, cách cầm bát cầm đũa, cách múc canh, cả cách nói chuyện trong bữa ăn. Cô vẫn răn lũ con tôi : “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đúng nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng.”. Có lần tôi cãi : “Chúng tôi là người của thời loạn, các cụ lại bắt dạy con cái theo thời bình là khó lắm.”. Cô ngồi ngẩn ra một lúc, rồi bảo : “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ, còn sau này muốn ra sao là tuỳ.”. Đầu năm 1965, Hà Nội có đợt tuyển quân vào chiến đấu trong Nam, là đợt đầu tiên nên tuyển chọn rất kĩ càng, lứa tuổi từ mười tám đến hai lăm, diễn viên cải lương và kịch nói có, nhạc sĩ có, hoạ sĩ có, giáo viên trung học rất đông, là những chàng trai ưu tú của Hà Nội. Nghe nói khoảng sáu trăm sáu mươi người. Người con trai đầu của cô Hiền vừa tốt nghiệp trung học, tình nguyện đăng kí xin đi đánh Mĩ. Tháng 4 năm 1965, lên Thái Nguyên huấn luyện. Tháng 7 rời Thái Nguyên vào Nam. Họ có dừng lại Hà Nội vài giờ vào lúc tối, nhưng không một ai biết. Tôi hỏi cô : “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ ?”. Cô trả lời : “Tao đau đón mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Ba năm cô không nhận được một tin tức gì về đứa con đã ra đi, lại đến thằng em kế làm đơn xin tòng quân, cũng đòi vào chiến trường phía trong để gặp anh, nếu anh đã hi sinh thì nối tiếp chỉ hướng của anh. Tôi lại hỏi cô : “Cô cũng đồng ý cho nó đi à ?”. Cô trả lời buồn bã : “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó.”. Rồi cô chép miệng: “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hóm gì”. Cũng may chú em tôi học rất giỏi, thi vào đại học với số điểm rất cao, nên nhà trường giữ lại. Tôi đến chúc mừng cô và em, cô nói: “Hiện tại thì nó may hơn anh nó, nhưng nếu anh nó còn sống rồi cũng chưa biết đứa nào may hơn đứa nào.”. Cô tôi tính toán việc nhà việc nước đại khái là như thế. Tháng 12 năm 1975, cô Hiền cho con gái xuống nhà gọi vợ chồng tôi tới ăn liên hoan mừng em Dũng đã về. Cô nói: “Nó đeo ba lô bước vào đến giữa nhà, tao còn hỏi, anh muốn mua gì ?”. Tôi cũng không thể nhận ra nếu được gặp đồng chí thượng uý này ở đâu đó. Gầy ốm quá, da đen quá, râu ria cũng nhiều quá, chả còn tí dấu vết gì là một chàng trai của Hà Nội. Trong mấy chục năm sống dưới chế độ ta, mỗi tháng có chú đều tổ chức một bữa ăn bạn bè, gồm các cựu công dân Hà Nội, những tên tuổi đã thành danh của đất kinh kì. Khoảng mươi, mười lăm người gì đó. Của hàng đóng từ chiều, các bà lần lượt đến trước, xong ngay vào bếp cùng làm cơm, các ông đến sau, mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, bỏ áo khoác ngoài bên trong còn mặc đồ bộ, thắt cà vạt, nhưng đã sờn bạc cũ kĩ. Tiệc đã bày xong, vẫn chỉ có mấy ông ngồi tán suông chứ chưa thấy các bà. Rồi cửa trong mở, bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, lược giắt trâm cài hoa hột lấp lánh, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển. Ngày thường các bà mặc áo bông ngắn, quần thâm, đi dép đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc cổ hay bịt đầu, là các cô Lọ Lem của mỗi ngày, có phải trò chuyện mình cũng dễ ăn nói buồng tuồng, thiếu ý tứ. Tất cả là bình dân, tất cả đều có quyền ăn nói thô tục. Còn lúc này, toàn là những người quý phái, mình phải xử sự ra sao nhi ? Có hỏi tới : “Xã hội nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị. Theo anh, ở xã hội ta là tầng lớp nào ?”. Tôi cười phá lên : “Thưa cô, là bọn lính chúng tôi, là giai cấp lính chúng tôi, chứ còn ai nữa.”. Cho nên cái mùi lính tráng thâm nhiễm vào mọi nơi mọi chỗ, quan hệ kiểu lính, vui chơi kiểu lính, ăn nói kiểu lính, văn chương cũng là một mùi lính. Là người lính vừa chiến thắng, người lính đang được cả xã hội trọng vọng. Còn bây giờ, sau bữa tiệc mừng đại thắng mười lăm năm, tầng lớp lính đã mất ngôi vị độc tôn của mình rồi. Bây giờ là thời các giám đốc công ti, các tổng giám đốc công ti, các cố vấn, chuyên viên kinh tế thật giả đủ loại lên ngôi ban phát mọi tiêu chuẩn giá trị cho cả xã hội. Tôi xin trở lại cái bữa tiệc của buổi tối hôm ấy, bữa tiệc của mấy người thượng lưu của Hà Nội đã mất ngôi tiếp đãi, chiều nịnh hai anh bộ đội từ một thành phố lớn nhất nước trở về. Nói cho thật, Dũng mới là nhân vật chính, còn tôi chỉ là một loại nhân vật phụ, ghé gẩm vào cái vinh quang chung mà thôi. Trong bữa tiệc hình như tôi nói có hơi nhiều, nói về thành phố Sài Gòn rộng hơn, đóng hơn, đẹp hơn cái Hà Nội của mình, về người dân Sài Gòn cũng lịch thiệp nhã nhặn hơn người dân Hà Nội. Những người ngồi nghe đều nín lặng, không một ai hỏi lại, không một ai bình phẩm gì thêm. Tôi đã nói điều gì thất thố ? Một ông già hướng mặt về phía Dũng bảo : “Đồng chí bộ đội có chuyện gì vui kể nghe nào ?”. Dũng nói: “Thưa các bác, chỉ có những chuyện không được vui lắm.”. Một bà nói : “Cứ nói, người đi xa về có quyền muốn nói gì thì nói.”. Dũng nói rằng trong nửa năm nay anh không ngớt nghĩ về những người từ Hà Nội ra đi cách đây đúng mười năm. Sáu trăm sáu mươi người. Bây giờ còn lại khoảng chùng trên dưới bốn chục. Anh kể về một người bạn cùng trung đoàn, cùng một cấp thượng uý, tên là Tuất. Khi chuyến tàu từ Thái Nguyên tiến vào ga Hà Nội đã gần nửa đêm. Vừa mưa to xong, ánh điện loà nhoà trên lá cây, trên những mặt đường vắng hun hút, trên sân ga Hà Nội. Tàu vừa dùng lại thì đâu đó bật lên tiếng loa rất sâu, rất vang : “Quý khách chú ý! Quý khách chú ý! Chuyến tàu từ Thái Nguyên...”. Tuất ngồi cạnh Dũng chợt nhoài người qua mặt bạn, gần như đưa cả nửa thân người qua khuôn cửa sổ, hất mặt lên phía có tiếng loa, kêu nho nhỏ : “Dũng ơi, Dũng, tiếng của mẹ mình đấy! Tiếng của mẹ đấy!...”. Không một ai được phép rời khỏi toa tàu, không một người thân nào được biết trước để chờ sẵn ở sân ga, để được nhìn nhau lần cuối, nói với nhau một lời cuối. Tất cả đều phải bí mật. Dũng kể tiếp : – Thằng Tuất hi sinh ở trận đánh vào Xuân Lộc, trước ngày toàn thắng có mấy ngày. Cháu về Hà Nội là muốn nhào ngay lại nhà ga, đến phòng phát thanh, gặp mẹ Tuất, nói với bà một lời, vì bọn cháu vẫn ở cạnh nhau trong suốt mười năm. Vậy mà phải mấy ngày sau cháu mới dám đến. Cháu biết nói thế nào với một bà mẹ có con hi sinh, mà bạn của con mình lại vẫn còn sống, sống đến bây giờ, đến hôm nay. Bà bước ra giữa một đám đông nhưng cháu vẫn nhận ngay được là mẹ của Tuất. Tuất vẫn nói là hắn giống mẹ hơn giống cha. Cháu chỉ vừa kịp nói : Thưa cô, cháu là Dũng... nước mắt đã đầm đìa, rồi cháu oà khóc y hệt một đứa trẻ. Bà níu chặt lấy một cánh tay của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc, và bà nói run rẩy : “Nín đi con, nín đi Dũng. Cô đã biết cả. Có biết từ mấy tháng nay rồi.”. Nhiều năm đã trôi qua. Tôi sống ở Thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng có việc phải ra Hà Nội đều ghé lại thăm cô Hiền. Chú tôi đã mất rồi. Các em đã có gia đình riêng. Chúng nó cũng đã bắt đầu già. Lớp các cụ trong họ chỉ còn vài người, cô Hiền là một. Cô đã yếu nhiều, đã già hẳn, ngoài bảy mươi rồi còn gì, nhưng cô vẫn là người của hôm nay, một người Hà Nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn. Nơi tiếp khách của cô sau tấm bình phong cao hơn đầu người bằng gỗ chạm suốt mấy chục năm không hề thay đổi. Một bộ xa lỏng gụ “cái khánh”, cái sập gụ chân quỳ chạm rất đẹp nhưng không khảm, cái tủ chùa một cánh bên trong bày một cái lọ men Thuý hồng, một cái lư hương đời Hán, một cái liễn hấp sâm Giang Tây, và mấy thú bình lọ màu men thì thường nhưng có dáng lạ, chả rõ từ đời nào. Cô đang lau đánh một cái bát thuỷ tiên men đỏ, hai cái đầu rồng gắn nối bằng đồng, miệng chân cũng đều bịt đồng, thật đẹp. Bên ngoài trời rét, mua rây lả lướt chỉ đủ làm ẩm áo chứ không làm ướt, lại nhìn một bà lão (nếu là một thiếu nữ thì phải hơn) lau đánh cái bát bày thuỷ tiên thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội. Năm nay chắc chưa thể có thuỷ tiên. Dân Hà Nội nhảy tàu lên Lạng Sơn buôn bán đủ thứ mà không buôn được vài ngàn củ thuỷ tiên nhỉ ? Vĩ thử có thuỷ tiên liệu còn có người biết gọt tia thuỷ tiền ? Lại thêm cái cách sống, cái tâm lí sống ồ ạt, xô bồ, vụ lợi của đám người vừa thoát khỏi cái chết cái khổ đã dễ gì có được sự bình tĩnh để thưởng thức vẻ đẹp trang trọng của một dò hoa thuỷ tiên. Cô Hiền hỏi: – Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào ? Tôi vừa cười vừa nói: - Chưa bao giờ Hà Nội vui như bây giờ. Phố xá vui, mặt người vui. – Nhiều người nói Hà Nội đã sống lại. Tôi nói: – Có đúng một phần, phần xác thôi, còn phần hồn thì chưa. Cử nhìn nghe những người Hà Nội buôn bán, ăn uống, nói năng, cư xử với nhau ở ngoài đường là đủ rõ. Nói thế cũng hơi nghiệt. Vì có mấy việc vừa xảy ra làm tôi tức, tức và đau. Tôi đạp xe ở đường Phan Đình Phùng, tôi đạp chậm, vừa đạp vừa nghĩ ngợi. Một ông bạn trẻ đạp xe như gió thúc mạnh bánh xe vào đít xe tôi, may mà gượng kịp. Tôi quay lại nói cũng nhẹ nhàng : “Cậu đi đâu mà vội thế ?”. Hắn không trả lời, đạp vượt qua xe tôi, rồi quay mặt lại chủi một câu đến sững sờ : “Tiền sư cái anh già !”. Lại một buổi sáng tôi tới thăm một người bạn ở quận Đống Đa, đã lâu không đến nên quên đường, lát lát phải hỏi thăm. Có người trả lời, là nói sông hoặc hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình nhu nhìn con thú lạ. Tôi có than phiền với vợ chồng bạn về sự thiếu lễ độ của người Hà Nội, cổ con gái đang cho con bú góp lời liền : “Ông ăn mặc tẩm như thế lại đi xe đạp họ khinh là phải, thử đội mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cuỡi cái Cúp xem, thưa gửi tủ tế ngay”. Tôi cười nhăn nhó : “Lại ra thế !”. Cô Hiền không bình luận một lời nào về những nhận xét không mấy vui vẻ của tôi về Hà Nội. Cô than thở với tôi rằng dạo này có thường nghĩ ngợi mọi chuyện một cách duy tâm, y hệt một bà già nhà quê. Mùa hè năm nọ, bão vào Hà Nội gào rú một đêm, sáng ra mở cửa nhìn sang đền Ngọc Sơn mà hãi. Cây si cổ thụ đó nghiêng, tán cây đè lên hậu cung, một phần bộ rễ bật đất chống ngược lên trời. Lập tức có nghĩ ngay tới sự khác thường, sự dời đổi, điềm xấu, là sự ra đi của một thời. Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn luôn là thời vàng son. Mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi lứa tuổi. Cô nói với tôi thế, đã biết nói thế đâu phải đã già. Mấy ngày sau, cô kể tiếp, thành phố cho máy cẩu tới đặt bên kia bờ quàng dây tời vào thân cây si rồi kéo dần lên, mỗi ngày một tí. Sau một tháng, cây si lại sống, lại trổ ra lá non, vẫn là cây si của nhiều thế hệ Hà Nội, nghĩ cứ lạ, tưởng là chết đứt bổ ra làm củi, mà lại sống. Có nói thêm : “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được.”. Cô muốn mở rộng sự tính toán vốn dĩ đã rất khôn ngoan của mình lên thêm một tầng nữa chăng, cái tầng vô hình, không thể biết, nhưng phải biết là trên đời này còn có nhiều lí sự không thể biết để khỏi bị bỏ vào những cái có thể biết. Bà già vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như có phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng! Ngày 19 – 1 – 1990 (Theo Hà Nội trong mắt tôi, NXB Hà Nội 1995)
- Thu gọn
|







Danh sách bình luận