Soạn bài Chuyện cơm hến SGK Ngữ Văn 7 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắnMỗi vùng miền trên thế giới đều có những nét riêng trong phong cách ẩm thực. Hãy chia sẻ hiểu biết của em về vấn đề này. Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Nội dung chính
Trước khi đọc 1 Video hướng dẫn giải Câu 1 (trang 111, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Liên hệ bản thân và dựa vào sự hiểu biết em Lời giải chi tiết: Mỗi quốc gia ở trên thế giới đều có tất cả những nền ẩm thực luôn mang đặc trưng riêng biệt không thể lẫn với bất kỳ một đất nước nào khác. Những món ăn nổi tiếng như: Bún Thang (Việt Nam), Sushi (Nhật Bản); bibimbap (cơm trộn Hàn Quốc), hay somtam (gỏi đu đủ Thái Lan)… Trước khi đọc 2 Video hướng dẫn giải Câu 2 (trang 111, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Liên hệ thực tế ở địa phương em có món đặc sản nào có thể giới thiệu Lời giải chi tiết: Em sẽ chọn cốm hoặc vì đó đều là những món ăn đặc trưng cho nét văn hóa ẩm thực Hà Nội Đọc văn bản Video hướng dẫn giải (trang 112, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ đầu đến “Vậy thì cơm hến là gì?” Lời giải chi tiết: - Tác giả là người Huế. - Chi tiết cho thấy điều đó: Tôi xin giới thiệu một ngày “Hạnh phúc trời hành” của dân Huế tui… Sau khi đọc 1 Video hướng dẫn giải Câu 1 (trang 115, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích Lời giải chi tiết: Cơm hến là món ăn bình dân vì nó được làm từ những nguyên liệu bình dân, phù hợp với nhiều con người, chi tiết đó là: món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn Sau khi đọc 2 Video hướng dẫn giải Câu 2 (trang 115, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Món cơm hến cho thấy đặc điểm gì trong phong cách ăn uống của người Huế? Lời giải chi tiết: Món cơm hến cho thấy đặc điểm trong phong cách ăn uống của người Huế: ăn cay. Mặt khác, món cơm hến là kết quả của một nghệ thuật chế biến tỉ mỉ, cầu kì rất đặc trưng của người Huế. Sau khi đọc 3 Video hướng dẫn giải Câu 3 (trang 115, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Tác giả còn giới thiệu đến người đọc những câu chuyện xung quanh món cơm hến và đặc biệt là khẳng định giá trị văn hóa tinh thần của món ăn. Sau khi đọc 4 Video hướng dẫn giải Câu 4 (trang 116, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản từ “Trước hết, nói về cơm” ... “chỉ tạo nên những “đồ giả” Lời giải chi tiết: Vì nó phải giống ngày xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những “đồ giả”. Tác giả cho rằng trong vấn đề khẩu vị, tính bảo thủ là một yếu tố văn hóa hết sức quan trọng để bảo toàn di sản. Sau khi đọc 5 Video hướng dẫn giải Câu 5 (trang 116, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ đoạn trích từ “Tôi nhớ lần ấy…theo bước chân người…” và nêu cảm nhận về ý thức gìn gữ bản sắc văn hóa của cư dân bản địa Lời giải chi tiết: - Hình ảnh chị bán hàng: hình ảnh của người bán hàng trên phố, nghèo nhưng không lam lũ, khổ sở mà vẫn có cái tươm tất trở thành một nét văn hóa đặc trưng của Huế - Hình ảnh bếp lửa: vừa thực vừa mang tính tượng trưng Sau khi đọc 6 Video hướng dẫn giải Câu 6 (trang 116, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản Lời giải chi tiết: Những từ ngữ đó là: đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm, đắng một cách tuyệt vời!; bạn nhậu; né; “suớng miệng”: cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi, cay điếc tai, cay điếc ói,; Hạnh phúc trời hành” của dân Huế tui; Người “máu” cơm hến; kêu cái rốp; xúc động tận chân răng… Sau khi đọc 7 Video hướng dẫn giải Câu 7 (trang 116, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Đọc kĩ văn bản và nêu cảm nhận của mình về cái tôi tác giả Lời giải chi tiết: Là cái tôi công dân có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, biết trân trọng những truyền thống văn hóa – lịch sử, yêu tha thiết quê hương, gắn bó với quê hương từ những điều nhỏ nhất. Viết kết nối với đọc Video hướng dẫn giải (trang 116, SGK Ngữ văn 7, tập 1) Phương pháp giải: Vận dụng kiến thức của mình về một nét sinh hoạt truyền thống đặc sắc ở địa phương em Gợi ý: - Nét sinh hoạt truyền thống văn hóa đó là gì? - Nét sinh hoạt, truyền thống văn hóa đó có gì đặc biệt? - Em có cảm nhận gì về nét sinh hoạt, truyền thống văn hóa đó? Lời giải chi tiết: Giữa lòng thủ đô Hà Nội đầy tấp nập thì đâu đó vẫn có những quán hàng bày bán cốm non. Hương cốm non của đồng quê phả vào trong cơn gió bay ngào ngạt giữa không gian. Từng người bán hàng tay nhanh nhẹn và khéo léo gói những gói cốm nhỏ cho người mua. Góc phố Hà Nội mùa thu thì việc ăn cốm làm cho con người có thể cảm nhận được vị dẻo thơm của hạt gạo theo một nét rất riêng. Dường như Cốm đã trở thành một đặc trưng không thể thiếu của mảnh đất ngàn năm văn hiến, nó không chỉ là một thứ quà ăn vui miệng mà còn níu giữ tâm hồn của những người con Hà Nội.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Chuyện cơm hến
+
Chuyện cơm hến (Hhoàng Phủ Ngọc Tường) Người Huế ăn giống như học bài học cuộc đời, phải nếm đủ vị mặn, lạt, chua, cay, ngọt, bùi, không chê vị nào; lại còn tỏ ra thích thú với hai vị mà thiên hạ đều sợ, là cay và đắng. […] Người Huế thích dùng mướp đắng lúc còn xanh; nấu canh phải duống nồi nước sôi xuống để thả mướp vào mới đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm, đắng một cách tuyệt vời! Có hôm tàu dừng ở ga Lăng Cô, thấy nấm tràm bán rẻ như cho không tôi bèn hí hửng mua luôn một rổ làm quà cho chú bạn tôi ở Đà Nẵng, gọi là đặc sản xứ Huế. Cháo nấm tràm nấu ả ngon đến thế, nhưng chỉ có đám dân Huế sì sụp vừa húp vừa khen, còn bạn nhậu người Quảng đều né hết, vì đắng không chịu nổi. Hóa ra chỉ cách nhau cái đèo Hải Vân thôi mà cách ăn uống của người Huế lạ đời đến thế! Nhưng lạ nhất là thói ăn cay, đến nỗi chính tôi cũng không hiểu sao mình lại ăn cay “tài” đến như vậy. Người Huế có đủ cung bậc ngôn ngữ để diễn tả vị cay, bao gồm hết mọi giác quan, càng nói càng “sướng miệng”: cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi, cay điếc tai, cay điếc óc,… […] Có thể nói rằng người Huế bắt đầu thực đơn hằng ngày bằng một tô bún bò “cay dễ sợ”, tiếp theo là một ngày cay “túi mắt túi mũi” để kết thúc với tiếng rao “Ai ăn chè?”, một chén ngọt lịm trước khi ngủ. Tôi xin giới thiệu một ngày “Hạnh phúc trời hành” của dân Huế tui, bắt đầu bằng món cơm hến. Những món ăn Huế như bún bò, cháo lòng… bây giờ trở thành phổ biến khắp nơi (dù đã mất đi bản chất cay của nó) chỉ món cơm hến này là không nơi nào có. Hà Nội, Sài Gòn cũng có vài ba quán Huế có cả cơm hến, tôi đã thử xem, đều toàn là nghêu xắt, đâu phải là hến. Vậy thì cơm hến là gì? Trước hết, nói về cơm. Người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội. Hình như người Huế muốn bày tỏ một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, nên bày ra món cá lẹp kẹp rau mưng, và món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến món ăn, gọi là cơm hến. Sau này ở Huế người ta còn bày thêm món bún hến, dùng bún thay cơm nguội. Tôi rất ghét những lỗi cải tiên tạp nham như vậy. Bún đã có bún bò, ai có giang sơn ây, việc gì phải cướp bản quyền sáng chế của người khác. Vả lại, người Huế (Huế xưa, không phải bây giờ) rất kiên định trong “lập trường ăn uống” của mình. Tôi nghĩ rằng trong vấn đề khẩu vị, tính bảo thủ là một yếu tố văn hoá hết sức quan trọng, để bảo toàn di sản. Với tôi, một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hoá, cứ phải giống y như ngày xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những “đồ giả”! Xin tiếp tục chuyện cơm hến. Hến ở Huế ngon nhất là hến cồn, do đó cái cồn nổi chiếm vị trí “Tả Thanh Long rất mực quan trọng trong Dịch lí của kiến trúc kinh thành, dân chỉ gọi nôm na là Cồn Hến. Đáy sông quanh cồn có một lớp bùn sâu, là môi sinh màu mỡ của loài hến. Điều lạ là con hến, dù không có tay chân, nhưng khi thời tiết thay đổi làm dòng nước chảy mạnh có thể lặn sâu xuống đáy bùn để khỏi bị nước cuốn đi. Dân cồn làm nghề xúc hến mỗi năm đều có lễ cúng hến vào tháng Bảy, trên những con đò cờ xí rộn ràng, tiếng trống vang lừng, người ta luộc hến xong đem ra sông đãi trong những chiếc rổ lớn, tách vỏ, lấy riêng mặt hến đem đong chén bán cho những người làm cơm hến. Mặt hến này là vị chủ của cơm hến, xào kèm theo bún lầu (miến), măng khổ và thịt heo thái chỉ. Món thứ ba trong cơm hến là rau sống. Chỉ một nhúm thôi, nhưng rau sống này làm bằng thân chuối hoặc bắp chuối xắt mỏng như sợi tơ, trộn lẫn với môn bạc hà, khế và rau thơm thái nhỏ, giá chân (trụng” sơ qua sôi), có khi còn điểm thêm những cánh bông vạn thọ vàng, nhìn tươi mắt và có thêm mùi nước thơm riêng. Nước luộc hến được rút ra từ chiếc nồi bung bốc khói nghi ngút, bằng chiếc gáo làm bằng sọ dừa xinh xắn, cho vào một cái tô đã gồm đủ cơm nguội, hến xào, rau sông và được gia thêm đủ vị đồ màu. Nước hến có giã thêm gừng màu trắng đùng đục. Vâng, mê nhất cái màu đùng đục ây, ăn cơm hến mà chê nước đục là... dại! Bộ đồ màu của cơm hến là nhiêu khê nhất thiên hạ. Đây là bản liệt kê các món gia vị mà tôi từng quan sát được ở một gánh cơm hến, chắc có thể coi là “lí tưởng”, như sau: 1. Ởt tương 2. Ởt màu, ớt dầm nước mắm 3. Ruốc sống 4. Bánh tráng nướng bóp vụn 5. Muối rang 6. Hạt đậu phụng rang mỡ, giã hơi thô thô 7. Mè rang 8. Da heo rang giòn 9. Mỡ và tóp mỡ 10. Vị tinh Tất cả được đựng trong những thẫu, những vịm bày trên một cái trẹc, o bán cơm hến lấy ra bằng những chiếc gáo mù u nhỏ xíu, bàn tay thoăn thoắt mỗi thứ một ít… Hương vị bát ngát suốt đời người của tô cơm hến là mùi ruốc thơm dậy tận óc, và vị cay đến trào nước mắt. Người “máu” cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp! Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ giọt vào tô cơm thể mà cứ sì sụp, xuýt xoa kêu “ngon, ngon”; đi xa nhớ lại thèm đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế! Tôi nhớ lần ấy, chiều mưa râm rỉ cỡ tháng Mười một, tôi ngồi ăn cơm hến ở nha Bửu Ý ở đường Hàng Me. Tôi vừa đi Tây về, suốt hai tuần ở cung Đại hội các nhà văn, bữa ăn nào cũng toàn thịt, bơ, phó mát,... đến nỗi tôi thất kinh, nhiều ngày chỉ mang một mớ trái cây về phòng ăn trừ bữa. Nhiều tuần lễ không có một hột cơm trong bụng, nghe tiếng rao cơm hến tôi thấy xúc động tận chân răng. Đây là lần đầu tiên tôi ăn một tô cơm hến “bằng tất cả tâm hồn”. Thấy chị bán hàng phải cho quá nhiều thứ trong một bát cơm nhỏ, công phu mà chỉ bán có năm trăm đồng bạc, tôi lấy làm ái ngại hỏi chị: - Lời lãi bao nhiêu mà chị phải kĩ đến thế. Chỉ cần ba bốn thứ, vừa vừa thôi, có đỡ mất công không? Chị nhìn tôi với đôi mắt giận dỗi khác lạ: - Nói như cậu thì … còn chi là Huế! Chị gánh hàng đi, dáng gầy mỏng manh, chiếc áo dài đen cũ kĩ, chiếc nón cời và tiếng rao lanh lảnh. Hồi nãy tôi đã đếm và biết gánh cơm trên vai chị có tất cả mười bốn vị. Bây giờ tôi mới phát hiện thêm vị thứ mười lăm, là lửa. Vâng, một bếp lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ theo bước chân người…
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận