Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 10

Đất nước những đêm dài không ngủ Nguyễn Việt Chiến Đêm mưa lớn mẹ chong đèn thao thức Lũ cuốn trôi ngập xóa những cánh đồng Con tự hỏi, ngọn đèn kia tự hỏi:

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Cánh diều

Toán - Văn - Anh - Hoá - Sinh - Sử - Địa

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

PHẦN I: ĐỌC - HIỂU

Đọc văn bản sau:

                        Đất nước những đêm dài không ngủ

Nguyễn Việt Chiến

Đêm mưa lớn mẹ chong đèn thao thức

Lũ cuốn trôi ngập xóa những cánh đồng

Con tự hỏi, ngọn đèn kia tự hỏi:

Trong hồn người còn thao thức nào không?

 

Rừng trọc lốc mưa nguồn dâng lũ xoáy

Đồi sạt đồi nghe núi lở vào đêm

Bao thôn nhỏ bị vùi trong thảm họa

Bao kiếp người thoi thóp bị xóa quên

 

Đất nước những đêm dài không ngủ

Mẹ nuôi ta hạt thóc ngủ trong bùn    

Con cá ngủ trong nhọc nhằn sóng bẩn

Chỉ mẹ ta thao thức với đất buồn

 

Chỉ mẹ ta thương đất đã ngàn năm

Bao xương máu như phù sa bồi đắp

Bao lớp người không nhớ tên rõ mặt

Phải ra đi trong thảm họa vô cùng

 

Đất nước những đêm dài mất ngủ

Thương Cửu Long thương đến tận sông Hồng

Khi đất nước đối mặt cùng bão tố

Người bên người vượt qua mọi cuồng phong.

 (Dẫn theo Báo Thanh Niên số 327, 23.11.2025, tr. 11)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh, từ ngữ diễn tả sức tàn phá của thiên tai trong khổ thơ thứ hai.

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong dòng thơ:

Đất nước những đêm dài không ngủ

Câu 4. Nhận xét cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện trong văn bản.

Câu 5. Từ suy ngẫm của tác giả “Khi đất nước đối mặt cùng bão tố - Người bên người vượt qua mọi cuồng phong”, em hãy bày tỏ suy nghĩ về sức mạnh của tình người trong việc vượt qua khó khăn (trình bày 4 - 6 dòng).

PHẦN 2: VIẾT

Câu 1. Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn nghị luận 200 chữ về trách nhiệm của thế hệ trẻ trước biến đổi khí hậu.

Câu 2. Anh (chị) hãy viết bài văn khoảng 600 chữ phân tích truyện ngắn  HẠ ĐỎ của Nguyễn Nhật Ánh.

           Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại. Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác. 

Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba tôi bảo:

- Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.

Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói :

- Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi !

Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ:

- Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi!

Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.

Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.

Ba tôi hào hứng thông báo:

- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp.

Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán:

- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!

Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi cung tay cốc cho nó một phát.

                                                            (Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019)

*Chú thích: Nguyễn Nhật Ánh (1955), quê ở Thăng Bình, Quảng Nam, là một trong những gương mặt quen thuộc với bạn đọc các thế hệ, đặc biệt là tuổi mới lớn. Truyện của ông thường nhẹ nhàng, trong sáng để lại trong lòng độc giả nhiều dư vị và cảm xúc.

Đáp án

PHẦN I: ĐỌC - HIỂU

Câu 1:

Phương pháp:

- Vận dụng kiến thức về các thể thơ

- Căn cứ vào các đặc điểm hình thức: số chữ mỗi dòng, gieo vần, ngắt nhịp

Cách giải:

Thể thơ: Tám chữ

Câu 2:

Phương pháp:

- Đọc kĩ khổ thơ thứ (2) của văn bản

- Tìm các từ ngữ, hình ảnh phù hợp

Cách giải:

Những hình ảnh, từ ngữ diễn tả sức tàn phá của thiên tai trong khổ thơ thứ hai: lũ xoáy, đồi sạt đồi, núi lở, thôn nhỏ bị vùi trong thảm họa, kiếp người thoi thóp,...

Câu 3:

Phương pháp:

- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa

- Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng

Cách giải:

- Biện pháp tu từ Nhân hóa: “Đất nước” vốn là một khái niệm trừu tượng, nhưng nhà thơ lại gắn cho “đất nước” hành động và trạng thái của con người: “không ngủ”.

- Tác dụng:

+ Biện pháp tu từ nhân hoá trong câu thơ“Đất nước những đêm dài không ngủ” nhấn mạnh sự trăn trở, lo lắng của đất nước cũng chính là của nhân dân trước sức tàn phá khủng khiếp của thiên tai, phản ánh nỗi đau của cả đất nước mỗi khi bão lũ đổ về. Qua đó, tác giả bày tỏ sự xót xa, đồng cảm trước những mất mát mà thiên tai để lại cho nhân dân.

+ Giúp câu thơ giàu hình ảnh, giàu giá trị biểu cảm,...

Câu 4:

Phương pháp:

- Căn cứ vào toàn bộ nội dung bài thơ

- Xác định mạch cảm xúc giữa các khổ thơ

Cách giải:

+ Nhân vật trữ tình mang nỗi xót xa và lo lắng khi chứng kiến sức tàn phá dữ dội của thiên tai như “lũ cuốn trôi”, “núi lở vào đêm”, “bao thôn nhỏ bị vùi trong thảm họa”,... Trước cảnh đất nước “những đêm dài không ngủ”, tiếng lòng nhân vật trữ tình trĩu nặng nỗi trăn trở về sự mong manh của bao kiếp người giữa thiên nhiên cuồng nộ.

+ Tiếng lòng của nhân vật trữ tình còn là tình thương, sự đồng cảm với mẹ – người lam lũ “thao thức với đất buồn”, với bao sinh vật bé nhỏ trước cơn cuồng nộ của mẹ thiên nhiên “hạt thóc ngủ trong bùn “, “Con cá ngủ trong nhọc nhằn sóng bẩn”, với bao kiếp người “không nhớ tên rõ mặt”,...

+ Từ những đau thương chất chồng, nhân vật trữ tình vẫn nâng niu một niềm tin rằng khi đất nước đối mặt bão tố, con người sẽ nương tựa vào nhau để vượt qua: “người bên người vượt qua mọi cuồng phong”.

- Nhận xét: Những cảm xúc xót xa, lo lắng, thương yêu và niềm tin của nhân vật trữ tình hiện lên sâu sắc, chân thành, bật ra từ chính những gì mắt thấy tai nghe về nỗi đau của đất nước. Qua những cảm xúc ấy, nhân vật trữ tình bộc lộ tình yêu quê hương, đồng thời khơi dậy trong người đọc sự đồng cảm và ý thức sẻ chia trước những mất mát của đồng bào.

Câu 5:

Phương pháp:

- Khái quát nội dung hai dòng thơ: Hai dòng thơ khẳng định rằng trong những thời khắc đất nước phải đối mặt với bão tố, gian nguy, sức mạnh lớn nhất không chỉ đến từ vật chất hay ý chí mà đến từ tinh thần đoàn kết của con người. Hình ảnh “người bên người vượt qua mọi cuồng phong” gợi lên sức mạnh của tình người chính là nguồn lực bền bỉ, giúp dân tộc vững vàng đi qua mọi thử thách.

- Bày tỏ suy nghĩ về sức mạnh của tình người trong việc vượt qua khó khăn:

+ Tình người khi được gắn kết tạo nên nguồn sức mạnh cộng hưởng, làm nên những thành quả phi thường, chính sự đồng lòng ấy khiến “nhiều bàn tay nhỏ” có thể làm nên những thành quả lớn lao trong hành trình vượt qua gian khó.

 + Tình người, sự sẻ chia giúp con người tìm thấy điểm tựa để không gục ngã giữa những khó khăn, bởi sự sẻ chia làm vơi bớt nỗi đau và nhân lên hy vọng. Khi con người biết nắm tay nhau, những thử thách tưởng như không thể vượt qua lại trở nên nhẹ nhàng.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Hai dòng thơ "Khi đất nước đối mặt cùng bão tố / Người bên người vượt qua mọi cuồng phong" đã khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: sức mạnh lớn nhất để vượt qua gian nguy chính là tình người. Khi tình người được gắn kết, những bàn tay nhỏ chắp lại sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng phi thường, biến điều tưởng chừng bất khả thi thành hiện thực. Không chỉ vậy, sự sẻ chia còn là điểm tựa tinh thần giúp con người không gục ngã trước khó khăn, bởi khi có người đứng bên cạnh, nỗi đau vơi đi và hy vọng nhân lên. Vì thế, giữ gìn và bồi đắp tình người trong cuộc sống hằng ngày chính là cách mỗi chúng ta chuẩn bị cho mình sức mạnh vượt qua mọi "cuồng phong" của cuộc đời.

PHẦN 2: VIẾT

Câu 1:

Phương pháp:

- Mở đoạn: Dẫn từ ngữ liệu bài thơ để nêu vấn đề: biến đổi khí hậu đang là thách thức cấp bách đặt ra cho toàn nhân loại, đặc biệt là thế hệ trẻ.

- Thân đoạn:

+ Thế hệ trẻ cần nâng cao nhận thức về nguyên nhân và hậu quả của biến đổi khí hậu, từ đó thay đổi lối sống: tiết kiệm năng lượng, giảm rác thải nhựa, hạn chế phương tiện gây ô nhiễm.

+ Thế hệ trẻ cần hành động thiết thực: tham gia trồng rừng, bảo vệ môi trường, lan tỏa ý thức cộng đồng qua mạng xã hội và trong nhà trường.

+ Thế hệ trẻ phải là lực lượng tiên phong vì đây là những người sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề nhất và có đủ nhiệt huyết, tri thức để tạo ra sự thay đổi.

- Kết đoạn: Khẳng định trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ là nghĩa vụ mà còn là biểu hiện của tình yêu quê hương đất nước.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Bài thơ "Đất nước những đêm dài không ngủ" của Nguyễn Việt Chiến đã khắc họa những hậu quả thảm khốc của thiên tai, mà nguyên nhân sâu xa không thể không nhắc đến biến đổi khí hậu. Trước thực trạng đó, thế hệ trẻ không thể thờ ơ đứng ngoài cuộc. Trước hết, mỗi bạn trẻ cần trang bị cho mình hiểu biết đúng đắn về biến đổi khí hậu để từ đó điều chỉnh lối sống hằng ngày theo hướng có trách nhiệm hơn với môi trường: giảm rác thải nhựa, tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng phương tiện gây ô nhiễm. Bên cạnh đó, thế hệ trẻ còn cần chủ động hành động thiết thực như tham gia trồng cây, dọn vệ sinh môi trường, lan tỏa ý thức bảo vệ thiên nhiên trong cộng đồng và trên mạng xã hội. Đặc biệt, thanh niên phải là lực lượng tiên phong trong cuộc chiến này, bởi chính chúng ta là những người sẽ sống lâu nhất với hậu quả của biến đổi khí hậu và cũng là những người có đủ nhiệt huyết, tri thức để tạo ra sự thay đổi thực sự. Bảo vệ môi trường vì thế không chỉ là trách nhiệm công dân mà còn là biểu hiện sâu sắc nhất của tình yêu đối với quê hương đất nước.

Câu 2:

Phương pháp:

*Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Nhật Ánh và phong cách sáng tác đặc trưng.

- Giới thiệu truyện ngắn Hạ đỏ và vấn đề trung tâm: tình cảm gia đình bình dị, sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ trong hành trình học tập của con.

* Thân bài:

- Tình huống và nội dung truyện: Cậu học sinh Chương ôn thi cuối cấp trong trạng thái kiệt sức, người mẹ mỗi ngày nấu canh bí đỏ với niềm tin giản dị "bí đỏ bổ óc". Tình huống quen thuộc, gần gũi tạo sự đồng cảm tức thì với người đọc.

- Nhân vật người mẹ: Tình yêu thương thể hiện qua hành động mộc mạc, không lời hoa mỹ. Dẫn chứng: nắn xương vai con, mắt rưng rưng, "thưởng" con bằng cái cốc trên trán. Người mẹ Nam Bộ hiện lên chân thực, ấm áp.

- Nhân vật người cha và cậu bé Chương: Cha bông phèng che giấu lo lắng, vui mừng hồn nhiên khi con đỗ. Chương hóm hỉnh, ngây thơ, biết trân trọng công sức bản thân và tình thương của mẹ.

- Nghệ thuật đặc sắc:

+ Ngôi kể thứ nhất tạo sự gần gũi, chân thực.

+ Ngôn ngữ đời thường giàu màu sắc Nam Bộ.

+ Chi tiết kết truyện độc đáo: Chương "cốc" vào trái bí vừa hài hước vừa chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về sự trưởng thành và lòng biết ơn.

* Kết bài: Khái quát giá trị tác phẩm: Hạ đỏ nhắc nhở người đọc trân trọng những điều bình dị nhất trong cuộc sống, đặc biệt là tình thương gia đình luôn âm thầm nâng đỡ ta trên mọi chặng đường.

Cách giải:

Bài văn tham khảo:

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nhật Ánh được biết đến như một nhà văn có tài năng đặc biệt trong việc chạm đến trái tim bạn đọc bằng những câu chuyện giản dị, trong sáng mà đầy dư vị. Truyện ngắn Hạ đỏ là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua câu chuyện nhỏ về mùa ôn thi của cậu học sinh tên Chương, tác giả đã khéo léo gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình và sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ trên hành trình trưởng thành của con.

Câu chuyện được mở ra bằng một tình huống quen thuộc, gần gũi với bất kỳ học sinh nào: Chương đang trong giai đoạn ôn thi căng thẳng cuối năm lớp chín. Cậu học ngày học đêm đến mức "người xanh như tàu lá", mắt lúc nào cũng đỏ kè, thức khuya dậy sớm mà trí nhớ vẫn cứ "học trước quên sau, học sau quên trước". Chính cái khung cảnh chân thực, không tô vẽ ấy đã tạo nên sức hút ngay từ những dòng đầu tiên, khiến người đọc như thấy chính mình trong đó. Nguyễn Nhật Ánh không để gian khổ hiện lên theo kiểu bi thương nặng nề mà để nó trôi qua tự nhiên, nhẹ nhàng qua giọng kể hóm hỉnh của nhân vật, tạo nên nét đặc trưng khó lẫn trong văn ông.

Nổi bật nhất trong truyện là nhân vật người mẹ, người được tác giả khắc họa bằng những nét bút tinh tế, giản dị mà xúc động. Mẹ không nói những lời yêu thương hoa mỹ, mẹ chỉ âm thầm mỗi ngày nấu một tô canh bí đỏ vì tin vào câu "bí đỏ bổ óc" theo kinh nghiệm dân gian. Hành động tưởng chừng nhỏ bé ấy lại chứa đựng cả một trời thương yêu. Khi thấy con ngày càng còm nhom, mẹ không la mắng, không than vãn dài dòng mà chỉ lặng lẽ "đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai", giọng "bùi ngùi" như một lời than. Chi tiết ấy đơn sơ mà thấm thía, diễn tả trọn vẹn nỗi lòng của người mẹ thương con đến xót ruột nhưng không biết làm gì hơn ngoài việc nhìn con và lo. Mắt mẹ "rưng rưng" khi nghe con trấn an cũng là một chi tiết đắt giá, bởi giọt nước mắt không rơi ấy đau hơn cả tiếng khóc. Và đến khi con thi đỗ, phần thưởng của mẹ không phải quà cáp hay lời khen ngợi mà là một cái cốc nhẹ lên trán kèm câu mắng yêu: "Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!" Câu nói vừa buồn cười vừa ấm lòng ấy chính là ngôn ngữ yêu thương đặc trưng của người mẹ Nam Bộ trong trang văn Nguyễn Nhật Ánh.

Bên cạnh người mẹ, nhân vật người cha cũng được khắc họa sinh động theo cách riêng. Ông không bộc lộ lo lắng trực tiếp mà chọn cách bông phèng: "Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu." Câu nói hài hước ấy thực ra là cái vỏ bọc che giấu nỗi lo của người cha trước thân hình hao gầy của con. Sự đối lập giữa cách thể hiện tình cảm của cha và mẹ làm cho bức tranh gia đình trong truyện thêm phần sinh động, chân thực và đáng yêu.

Điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của Hạ đỏ chính là nghệ thuật kể chuyện tài tình của Nguyễn Nhật Ánh. Ngôi kể thứ nhất tạo ra sự gần gũi, chân thực, giúp người đọc dễ dàng đặt mình vào vị trí của nhân vật. Ngôn ngữ đời thường giàu màu sắc Nam Bộ như "bú đầu", "ngán", "bấy giờ tuyền một màu đỏ" làm cho câu chuyện trở nên sinh động, tự nhiên. Đặc biệt, chi tiết kết thúc truyện vừa bất ngờ vừa đầy ý nghĩa: Chương cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng nằm lăn lóc trong góc bếp rồi "cung tay cốc cho nó một phát". Hành động hồn nhiên, tinh nghịch ấy không chỉ tạo nên tiếng cười nhẹ nhàng mà còn gói trọn cả hành trình vất vả vừa qua, cả sự biết ơn thầm kín của một cậu bé đối với tình yêu thương của mẹ được gửi gắm trong từng tô canh bí đỏ mỗi ngày.

Truyện ngắn Hạ đỏ tuy ngắn gọn nhưng để lại dư vị lâu bền trong lòng người đọc. Nguyễn Nhật Ánh đã chứng minh rằng văn chương không cần đến những câu chuyện lớn lao, kỳ vĩ mới chạm được đến trái tim con người. Đôi khi chỉ cần một tô canh bí đỏ, một cái cốc nhẹ lên trán, một ánh mắt rưng rưng của mẹ cũng đủ để nhắc nhở chúng ta trân trọng hơn những điều bình dị nhất trong cuộc sống, đặc biệt là tình thương gia đình luôn âm thầm nâng đỡ ta trên mọi chặng đường.

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close