(35+ mẫu) Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống (một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại) hay nhất - Ngữ văn 8

Có một thực tế không thể phủ nhận trong xã hội hiện nay, đó là cùng với mức sống ngày càng cao, lớp trẻ dễ dàng bị cuốn vào những thói quen, lối sống không tốt.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN...

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Có một thực tế không thể phủ nhận trong xã hội hiện nay, đó là cùng với mức sống ngày càng cao, lớp trẻ dễ dàng bị cuốn vào những thói quen, lối sống không tốt. Trong đó, thói ăn chơi đua đòi của giới trẻ hiện nay rất đáng chú ý.

Vậy thói ăn chơi đua đòi là gì? “Thói” là lối, cách sống hay hoạt động có chiều hướng tiêu cực, được lặp đi lặp lại, lâu ngày thành quen khó bỏ.  “Ăn chơi đua đòi” chỉ hành động a dua, tụ tập thành một đám đông để làm gì đó theo ý muốn, sở thích cá nhân. Thói ăn chơi đua đòi là lối sống có xu hướng bắt chước, học theo, đua theo người khác và thể hiện nó một cách tự tin thái quá. Thói ăn chơi đua đòi trái ngược với sống giản dị, hài hòa.

Thói ăn chơi đua đòi là tình trạng phổ biến trong xã hội, có ở tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng thường nghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ nước ta mắc phải “căn bệnh” này. Nó biểu hiện ở việc đua nhau mặc “mốt” mới, học nhau xài đồ hiệu, hút thuốc lá cho thật “ngầu”, xăm trổ thật “nghệ thuật”, phì phèo điếu shisha nhả làn khói trắng cho “đúng điệu”… rồi khoe khoang, đo xem ai “hoàng gia” hơn. Đa phần những thói quen đó không chỉ tiêu tốn nhiều tiền của mà còn tạo nên những “phong cách” vô cùng dị hợm, quái thai, kệch cỡm và mất đi thuần phong mỹ tục của con người Việt Nam.

Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới thói xấu này là do cám dỗ. Trong mỗi con người luôn tồn tại hai bộ mặt: thiên thần và ác quỷ. Chính mặt ác quỷ khiến cho con người luôn bị cái xấu hấp dẫn, cám dỗ. Trong khi đó tuổi trẻ luôn tò mò, ham thú cái mới, cái lạ, lòng tự trọng cao luôn muốn khẳng định bản thân. Cùng với đó là một nền giáo dục chưa đủ sát sao trong vấn đề trang bị kiến thức, kỹ năng sống cần thiết cho học sinh, sinh viên. Do đó, giới trẻ rất dễ rơi vào vòng xoáy của những thói quen xấu. Phụ huynh học sinh phải chịu một phần trách nhiệm khi không có sự quan tâm đúng mức, chỉ lo làm ra thật nhiều tiền rồi về cho con vài đồng tiêu “vặt”. Nói là tiêu vặt nhưng số tiền đó không hề ít một chút nào. Tuy nhiên, tôi tin rằng, bản thân mỗi người vẫn là nguyên nhân chính. Bởi bộ phận nhóm trẻ không hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, không tự rèn luyện lối sống hợp lí cho bản thân cũng là nhóm mắc phải thói ăn chơi đua đòi.

Và hậu quả mà thói xấu này không hề nhỏ. Thói ăn chơi đua đòi làm suy đồi thuần phong mỹ tục tốt đẹp của Việt Nam, làm tha hóa bản chất giản dị, thanh cao của người Việt, khiến chúng ta trở nên xấu xí, tầm thường, thảm hại trong con mắt của bạn bè quốc tế. Thậm chí, nó không chỉ còn là vấn đề đạo đức, văn hóa đơn thuần mà còn vấn đề về tính mạng của con người. Thói đua xe là một thí dụ điển hình. Không ít những vụ tai nạn thương tâm xảy ra dẫn tới cái chết của bản thân những thanh niên tham gia và cả thương vong không đáng có của những người đi đường.

Thí dụ trên là lời cảnh tỉnh với các bạn trẻ hãy thực hiện nghĩa vụ học tập thật tốt, trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng sống cần thiết để luôn tỉnh táo và cẩn trọng trước mọi điều trong cuộc sống. Tri thức mới là sức mạnh thực sự chứ không phải ở điện thoại “xin” trên tay hay chiếc xe “sang” bạn ngồi mỗi sáng đến trường.

Tóm lại, ăn chơi đua là một hiện tượng xấu cần loại bỏ trong xã hội. Mặc dù nó thuộc về bộ phận nhỏ song không ngăn chặn sớm nó sẽ thành “bệnh dịch” lây lan ra toàn xã hội. Câu hỏi đặt ra là bản thân giới trẻ cũng như các phụ huynh, nhà trường và Nhà nước cần làm gì để ngăn chặn và loại bỏ căn bệnh đó mà thôi. Câu trả lời có ở tự thân mỗi người.

Bài mẫu 2

Mỗi con người sinh ra là một cá thể khác biệt, có những nét tính cách khác nhau. Chúng ta phải hoàn thiện bản thân từng ngày để trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên có nhiều đức tính khiến cho bản thân mình trở nên đáng trách, một trong số đó chính là tính ích kỉ.

Vậy tính ích kỉ là gì? Ích kỷ có thể hiểu là chỉ sống cho bản thân mình, lo cho bản thân mình, còn người khác thì mặc kệ, không quan tâm. Những người sống ích kỷ thường chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân, thua thiệt như thế nào.

Biểu hiện của tính ích kỷ trong mỗi con người rất rõ nét. Họ sẽ luôn sống trong tư thế không chịu mở lòng, làm việc gì cũng phải tính toán hơn thua với người khác, nếu thấy lợi về mình thì mới làm còn ngược lại thì thôi. Ích kỉ là một lối sống tiêu cực, không chỉ bào mòn bản chất của chính mình mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

Những người chỉ lo đến mình, khư khư giữ lấy lợi ích của riêng mình luôn phải sống trong cái vỏ bọc mà họ tạo ra, rất kín đáo. Chúng ta không thể chui vào đó được, vì hàng rào rất chắc chắn, họ sẽ ít mở lòng, ít hòa đồng và hơn hết là khi nào thấy có lợi ích thì mới làm.

Trong một lớp học, sự ích kỷ biểu hiện rất rõ nét. Khi mình học giỏi hơn bạn, nhưng bạn hỏi về bài toán thì lại bảo không biết, chưa làm được. Đây là một hành động không nên. Và chúng ta nên hạn chế, đừng để nó xảy ra trong cuộc sống của mình. Vì làm như thế chúng ta sẽ bị họ xa lánh, bị bạn bè nói này nói nọ. Bản thân bạn càng ngày càng có thêm thói quen xấu.

Lòng ích kỷ còn có biểu hiện khác, không kém phần sắc nét. Những người có sẵn tính ích kỷ trong người thường né tránh những việc khó khăn, thử thách. Họ sẽ đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, vì ngại khó khăn gian khổ, chỉ muốn được hưởng thụ quyền lợi. Có thể họ làm được lần đầu tiên nhưng sẽ không có lần thứ 2 và thứ 3 vì mọi người đã biết tính cách của bạn xấu xa như thế nào.

Bài mẫu 3

Bàn về thói lười biếng của con người trong xã hội hiện nay

Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn hoàn thiện bản thân và trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, để đạt được điều đó, mỗi người cần nhận ra và khắc phục những thói xấu của mình. Một trong những thói xấu đáng phê phán trong xã hội hiện nay chính là thói lười biếng.

Lười biếng là trạng thái con người không muốn cố gắng, ngại làm việc hoặc học tập, luôn tìm cách né tránh trách nhiệm. Người lười biếng thường chỉ muốn hưởng thụ mà không muốn bỏ ra công sức. Thói quen này không chỉ làm cho bản thân chậm tiến bộ mà còn ảnh hưởng đến tập thể và xã hội.

Trước hết, lười biếng khiến con người không thể phát triển bản thân. Trong học tập, nếu học sinh lười suy nghĩ, lười làm bài tập hoặc chỉ học đối phó thì sẽ không thể tiếp thu kiến thức một cách đầy đủ. Về lâu dài, điều này khiến người học thiếu kỹ năng và kiến thức cần thiết cho tương lai. Trong công việc cũng vậy, nếu một người không chịu cố gắng, luôn làm việc qua loa thì khó có thể đạt được thành công.

Bên cạnh đó, lười biếng còn ảnh hưởng đến tập thể. Trong một nhóm học tập hay làm việc, nếu có người không chịu đóng góp mà chỉ dựa vào công sức của người khác thì sẽ gây ra sự bất công và làm giảm hiệu quả chung. Điều này dễ khiến tập thể mất đoàn kết và làm cho công việc bị trì trệ.

Có ý kiến cho rằng đôi khi con người cần nghỉ ngơi và thư giãn nên việc không làm việc liên tục cũng là điều bình thường. Điều này đúng ở một mức độ nhất định, bởi nghỉ ngơi giúp con người lấy lại năng lượng. Tuy nhiên, nghỉ ngơi khác với lười biếng. Nghỉ ngơi là cần thiết để tái tạo sức lao động, còn lười biếng là thái độ né tránh trách nhiệm và không chịu cố gắng.

Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính chăm chỉ và tinh thần trách nhiệm trong học tập cũng như trong cuộc sống. Đặc biệt đối với học sinh, cần xây dựng thói quen học tập nghiêm túc, chủ động tìm tòi kiến thức và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Tóm lại, lười biếng là một thói xấu đáng phê phán vì nó cản trở sự phát triển của con người và xã hội. Mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của thói quen này để cố gắng khắc phục, rèn luyện bản thân trở nên chăm chỉ và tích cực hơn. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể hoàn thiện bản thân và góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Bài mẫu 4

Trong cuộc sống hiện đại với nhịp độ ngày càng nhanh, con người không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và đạt được những mục tiêu tốt đẹp. Tuy nhiên, bên cạnh những đức tính tích cực, vẫn tồn tại không ít thói xấu cản trở sự phát triển của mỗi cá nhân. Một trong những thói xấu phổ biến và đáng phê phán hiện nay chính là thói quen trì hoãn – việc chần chừ, không hành động ngay dù biết rõ điều cần làm. Đây không chỉ là một biểu hiện của sự thiếu kỷ luật mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công việc và chất lượng cuộc sống của con người.

Trì hoãn có thể hiểu là việc con người cố tình kéo dài thời gian thực hiện một nhiệm vụ, dù nhận thức được rằng điều đó có thể gây ra hậu quả không tốt. Thay vì hoàn thành công việc đúng thời hạn, người ta thường viện ra nhiều lý do như “chưa có hứng”, “còn thời gian”, hay “để mai làm cũng được”. Thói quen này xuất hiện ở nhiều đối tượng, đặc biệt là học sinh, sinh viên – những người thường xuyên trì hoãn việc học tập, làm bài tập hoặc ôn thi cho đến sát thời điểm. Ban đầu, việc trì hoãn có thể mang lại cảm giác thoải mái, nhưng về lâu dài lại trở thành một vòng luẩn quẩn khó thoát ra.

Thói quen trì hoãn đáng bị phê phán bởi những tác hại rõ ràng mà nó gây ra. Trước hết, trì hoãn làm giảm hiệu quả công việc. Khi công việc bị dồn lại vào phút cuối, con người dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, làm việc vội vàng, thiếu sự đầu tư nghiêm túc, từ đó dẫn đến kết quả không như mong muốn. Ví dụ, nhiều học sinh để đến sát ngày kiểm tra mới học bài, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức một cách hời hợt, không sâu sắc. Thứ hai, trì hoãn làm mất đi nhiều cơ hội trong cuộc sống. Những người chần chừ thường bỏ lỡ những cơ hội quý giá chỉ vì không hành động kịp thời. Cuối cùng, thói quen này còn ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, khiến con người trở nên thiếu trách nhiệm, thiếu ý chí và dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn.

Không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân, thói trì hoãn còn có thể gây ra những hệ lụy trong môi trường tập thể và xã hội. Trong công việc nhóm, nếu một cá nhân trì hoãn, cả tập thể có thể bị ảnh hưởng, tiến độ bị chậm trễ, gây mất uy tín và hiệu quả chung. Trong xã hội, nếu nhiều người đều có thói quen này, năng suất lao động sẽ giảm sút, kìm hãm sự phát triển chung. Vì vậy, trì hoãn không phải là một thói xấu nhỏ mà là một vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trì hoãn không hoàn toàn tiêu cực, bởi đôi khi nó giúp con người có thêm thời gian suy nghĩ và sáng tạo. Quan điểm này không phải là không có cơ sở, bởi trong một số trường hợp, việc tạm hoãn có thể giúp ta chuẩn bị tốt hơn. Nhưng cần phân biệt rõ giữa “trì hoãn có chủ đích” và “trì hoãn do lười biếng, thiếu kỷ luật”. Nếu việc trì hoãn xuất phát từ sự cân nhắc hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng công việc thì đó không phải là thói xấu. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần là sự chần chừ, né tránh trách nhiệm thì cần phải phê phán và loại bỏ.

Để khắc phục thói quen trì hoãn, mỗi người cần rèn luyện tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm đối với công việc của mình. Việc lập kế hoạch cụ thể, chia nhỏ nhiệm vụ và hoàn thành từng bước sẽ giúp giảm áp lực và tạo động lực hành động. Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy, hiểu rằng hành động ngay từ bây giờ chính là cách tốt nhất để tiến gần hơn đến mục tiêu. Đồng thời, môi trường gia đình và nhà trường cũng cần có sự định hướng, giáo dục để giúp mỗi người nhận thức rõ tác hại của thói xấu này.

Tóm lại, trì hoãn là một thói xấu phổ biến nhưng hoàn toàn có thể khắc phục nếu mỗi người có ý thức thay đổi bản thân. Việc nhận ra và phê phán thói quen này không chỉ giúp mỗi cá nhân hoàn thiện mình mà còn góp phần xây dựng một xã hội năng động, trách nhiệm và phát triển hơn. Mỗi chúng ta cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất, làm việc đúng lúc, đúng hạn để từng bước hoàn thiện bản thân và hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.

Bài mẫu 5

Trong cuộc sống hiện đại với nhịp độ ngày càng nhanh, con người không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và đạt được những mục tiêu tốt đẹp. Tuy nhiên, bên cạnh những đức tính tích cực, vẫn tồn tại không ít thói xấu cản trở sự phát triển của mỗi cá nhân. Một trong những thói xấu phổ biến và đáng phê phán hiện nay chính là thói quen trì hoãn – việc chần chừ, không hành động ngay dù biết rõ điều cần làm. Đây không chỉ là một biểu hiện của sự thiếu kỷ luật mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công việc và chất lượng cuộc sống của con người.

Trì hoãn có thể hiểu là việc con người cố tình kéo dài thời gian thực hiện một nhiệm vụ, dù nhận thức được rằng điều đó có thể gây ra hậu quả không tốt. Thay vì hoàn thành công việc đúng thời hạn, người ta thường viện ra nhiều lý do như “chưa có hứng”, “còn thời gian”, hay “để mai làm cũng được”. Thói quen này xuất hiện ở nhiều đối tượng, đặc biệt là học sinh, sinh viên – những người thường xuyên trì hoãn việc học tập, làm bài tập hoặc ôn thi cho đến sát thời điểm. Ban đầu, việc trì hoãn có thể mang lại cảm giác thoải mái, nhưng về lâu dài lại trở thành một vòng luẩn quẩn khó thoát ra.

Thói quen trì hoãn đáng bị phê phán bởi những tác hại rõ ràng mà nó gây ra. Trước hết, trì hoãn làm giảm hiệu quả công việc. Khi công việc bị dồn lại vào phút cuối, con người dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, làm việc vội vàng, thiếu sự đầu tư nghiêm túc, từ đó dẫn đến kết quả không như mong muốn. Ví dụ, nhiều học sinh để đến sát ngày kiểm tra mới học bài, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức một cách hời hợt, không sâu sắc. Thứ hai, trì hoãn làm mất đi nhiều cơ hội trong cuộc sống. Những người chần chừ thường bỏ lỡ những cơ hội quý giá chỉ vì không hành động kịp thời. Cuối cùng, thói quen này còn ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, khiến con người trở nên thiếu trách nhiệm, thiếu ý chí và dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn.

Không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân, thói trì hoãn còn có thể gây ra những hệ lụy trong môi trường tập thể và xã hội. Trong công việc nhóm, nếu một cá nhân trì hoãn, cả tập thể có thể bị ảnh hưởng, tiến độ bị chậm trễ, gây mất uy tín và hiệu quả chung. Trong xã hội, nếu nhiều người đều có thói quen này, năng suất lao động sẽ giảm sút, kìm hãm sự phát triển chung. Vì vậy, trì hoãn không phải là một thói xấu nhỏ mà là một vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trì hoãn không hoàn toàn tiêu cực, bởi đôi khi nó giúp con người có thêm thời gian suy nghĩ và sáng tạo. Quan điểm này không phải là không có cơ sở, bởi trong một số trường hợp, việc tạm hoãn có thể giúp ta chuẩn bị tốt hơn. Nhưng cần phân biệt rõ giữa “trì hoãn có chủ đích” và “trì hoãn do lười biếng, thiếu kỷ luật”. Nếu việc trì hoãn xuất phát từ sự cân nhắc hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng công việc thì đó không phải là thói xấu. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần là sự chần chừ, né tránh trách nhiệm thì cần phải phê phán và loại bỏ.

Để khắc phục thói quen trì hoãn, mỗi người cần rèn luyện tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm đối với công việc của mình. Việc lập kế hoạch cụ thể, chia nhỏ nhiệm vụ và hoàn thành từng bước sẽ giúp giảm áp lực và tạo động lực hành động. Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy, hiểu rằng hành động ngay từ bây giờ chính là cách tốt nhất để tiến gần hơn đến mục tiêu. Đồng thời, môi trường gia đình và nhà trường cũng cần có sự định hướng, giáo dục để giúp mỗi người nhận thức rõ tác hại của thói xấu này.

Tóm lại, trì hoãn là một thói xấu phổ biến nhưng hoàn toàn có thể khắc phục nếu mỗi người có ý thức thay đổi bản thân. Việc nhận ra và phê phán thói quen này không chỉ giúp mỗi cá nhân hoàn thiện mình mà còn góp phần xây dựng một xã hội năng động, trách nhiệm và phát triển hơn. Mỗi chúng ta cần bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất, làm việc đúng lúc, đúng hạn để từng bước hoàn thiện bản thân và hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.

Bài mẫu 6

Trong quá trình hoàn thiện bản thân, con người không chỉ cần phát triển những phẩm chất tốt đẹp mà còn phải nhận ra và loại bỏ những thói xấu. Một trong những thói xấu đáng phê phán chính là sự ích kỷ – khi con người chỉ biết nghĩ đến lợi ích của bản thân mà không quan tâm đến người khác.

Ích kỷ là thái độ sống chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, sẵn sàng bỏ qua hoặc làm tổn hại đến người khác để đạt được mục đích của mình. Người ích kỷ thường không muốn chia sẻ, không quan tâm đến cảm xúc của người khác và luôn coi mình là trung tâm.

Thói xấu này gây ra nhiều hậu quả tiêu cực. Trước hết, nó làm rạn nứt các mối quan hệ. Một người chỉ biết đến bản thân sẽ khó có được tình bạn, tình đồng nghiệp hay tình cảm gia đình bền vững. Thứ hai, ích kỷ làm giảm tinh thần đoàn kết trong tập thể. Trong công việc nhóm, nếu mỗi người chỉ nghĩ cho riêng mình, tập thể sẽ không thể đạt được hiệu quả cao. Cuối cùng, ích kỷ còn khiến con người trở nên cô lập, mất đi sự tôn trọng từ người khác.

Trong thực tế, biểu hiện của ích kỷ xuất hiện ở nhiều nơi. Có người không muốn chia sẻ kiến thức với bạn bè để giữ lợi thế cho riêng mình. Có người chỉ nhận phần lợi về mình nhưng lại đẩy khó khăn cho người khác. Những hành động này tuy nhỏ nhưng tích tụ lại sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và làm việc.

Một số người cho rằng ích kỷ là cần thiết để bảo vệ lợi ích cá nhân trong xã hội cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu ích kỷ vượt quá giới hạn, nó sẽ trở thành tiêu cực. Con người cần biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, bởi sự phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi có sự hợp tác và sẻ chia.

Để khắc phục thói xấu này, mỗi người cần rèn luyện lòng vị tha và tinh thần trách nhiệm. Hãy học cách đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu và chia sẻ. Đồng thời, cần xây dựng lối sống tích cực, biết cho đi và giúp đỡ người khác.

Tóm lại, ích kỷ là một thói xấu cần được nhận diện và loại bỏ. Khi mỗi người biết sống vì người khác, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn.

Bài mẫu 7

Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, nó cũng kéo theo một thói xấu đáng lo ngại: sống ảo. Đây là một hiện tượng ngày càng phổ biến và cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Sống ảo là việc con người quá chú trọng đến hình ảnh của bản thân trên mạng xã hội, thậm chí xây dựng một “phiên bản” không đúng với thực tế. Người sống ảo thường đăng tải những hình ảnh, câu chuyện được “tô vẽ” nhằm gây ấn tượng với người khác, chạy theo lượt thích, bình luận mà quên đi giá trị thật của cuộc sống.

Thói xấu này gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực. Trước hết, nó khiến con người đánh mất bản thân, sống phụ thuộc vào sự đánh giá của người khác. Nhiều người cảm thấy buồn bã, tự ti khi bài đăng của mình không nhận được sự chú ý như mong đợi. Thứ hai, sống ảo làm giảm chất lượng các mối quan hệ thực tế. Thay vì dành thời gian cho gia đình, bạn bè, nhiều người lại mải mê với thế giới ảo. Cuối cùng, việc chạy theo hình ảnh “hoàn hảo” trên mạng còn tạo ra áp lực tâm lý, khiến con người luôn cảm thấy không đủ tốt.

Thực tế cho thấy, không ít bạn trẻ sẵn sàng chi tiền để có những bức ảnh “lung linh”, hay thậm chí làm những hành động nguy hiểm chỉ để có nội dung đăng tải. Điều này không chỉ phản ánh sự lệch lạc trong nhận thức mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đáng lo ngại.

Có ý kiến cho rằng sống ảo không hoàn toàn xấu, vì mạng xã hội là nơi để con người thể hiện bản thân. Điều này đúng, nhưng cần phân biệt giữa việc chia sẻ chân thực và việc giả tạo. Khi việc thể hiện bản thân trở thành sự phô trương, đánh mất giá trị thật thì đó chính là lúc sống ảo trở thành một thói xấu cần phê phán.

Để hạn chế tình trạng này, mỗi người cần sử dụng mạng xã hội một cách có ý thức. Hãy tập trung vào việc phát triển bản thân trong đời thực thay vì chạy theo hình ảnh ảo. Đồng thời, gia đình và nhà trường cần định hướng cho giới trẻ hiểu rõ giá trị của cuộc sống thật.

Tóm lại, sống ảo là một thói xấu phổ biến trong xã hội hiện đại. Mỗi người cần tỉnh táo để không bị cuốn vào vòng xoáy này, biết trân trọng cuộc sống thực và những giá trị chân thật xung quanh mình.

Bài mẫu 8

Trong xã hội hiện đại, khi cơ hội phát triển ngày càng mở rộng, con người càng cần nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, một trong những thói xấu phổ biến và đáng phê phán nhất hiện nay chính là thói lười biếng. Đây không chỉ là biểu hiện của sự trì trệ mà còn là nguyên nhân kìm hãm sự tiến bộ của mỗi cá nhân và cả xã hội.

Lười biếng là trạng thái con người không muốn làm việc, ngại cố gắng, luôn tìm cách trì hoãn hoặc né tránh trách nhiệm. Người lười biếng thường thích hưởng thụ hơn là lao động, thích kết quả nhưng lại không muốn bỏ ra công sức. Thói xấu này có thể biểu hiện ở nhiều mức độ: từ việc trì hoãn bài tập, không chịu học hành, cho đến việc thiếu trách nhiệm trong công việc.

Thói lười biếng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, nó khiến con người mất đi cơ hội phát triển bản thân. Khi không chịu học hỏi và rèn luyện, năng lực sẽ ngày càng thụt lùi. Bên cạnh đó, lười biếng còn tạo ra thói quen ỷ lại, phụ thuộc vào người khác, làm giảm giá trị của bản thân trong xã hội. Thực tế cho thấy, những người thành công đều là những người chăm chỉ, kiên trì, trong khi người lười biếng thường dễ thất bại và bị tụt lại phía sau.

Một số ý kiến cho rằng lười biếng đôi khi chỉ là biểu hiện của việc “nghỉ ngơi cần thiết”. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa nghỉ ngơi hợp lý và lười biếng. Nghỉ ngơi là để tái tạo năng lượng, còn lười biếng là né tránh trách nhiệm. Nếu viện cớ nghỉ ngơi để biện minh cho sự lười nhác, con người sẽ dần đánh mất ý chí vươn lên.

Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của thói lười biếng để tự rèn luyện bản thân. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ như hoàn thành công việc đúng hạn, xây dựng kế hoạch học tập rõ ràng, kiên trì theo đuổi mục tiêu. Chỉ khi vượt qua được sự lười biếng, con người mới có thể tiến bộ và đạt được thành công trong cuộc sống.

Bài mẫu 9

Trong cuộc sống, con người không thể tồn tại tách biệt mà luôn cần gắn bó với cộng đồng. Thế nhưng, vẫn có không ít người sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân mà bỏ qua quyền lợi của người khác. Đây là một thói xấu cần được phê phán mạnh mẽ.

Ích kỉ là lối sống đặt cái “tôi” cá nhân lên trên hết, không quan tâm đến cảm xúc hay lợi ích của người xung quanh. Người ích kỉ thường chỉ hành động vì bản thân, sẵn sàng làm tổn hại người khác nếu điều đó mang lại lợi ích cho mình.

Thói ích kỉ làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội. Trong gia đình, người ích kỉ khiến tình cảm trở nên lạnh nhạt. Trong tập thể, họ làm mất đi tinh thần đoàn kết, hợp tác. Xa hơn, nếu xã hội có quá nhiều người ích kỉ, sự phát triển chung sẽ bị cản trở vì thiếu sự sẻ chia và hỗ trợ lẫn nhau.

Có người cho rằng trong cuộc sống cạnh tranh, việc nghĩ cho bản thân là điều cần thiết. Điều này không sai, nhưng nếu quá đề cao lợi ích cá nhân mà quên đi trách nhiệm với cộng đồng thì sẽ trở thành ích kỉ. Con người cần biết cân bằng giữa cái riêng và cái chung.

Do đó, mỗi người cần học cách sống vị tha, biết quan tâm và giúp đỡ người khác. Khi biết sẻ chia, chúng ta không chỉ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn mà còn nhận lại những giá trị tinh thần quý giá.

Bài mẫu 10

Trung thực là một trong những phẩm chất quan trọng của con người. Thế nhưng, trong xã hội hiện nay, thói nói dối lại xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn đề đáng lo ngại.

Nói dối là hành vi cố tình cung cấp thông tin sai sự thật nhằm che giấu hoặc đạt được mục đích cá nhân. Có người nói dối vì sợ bị phạt, có người vì muốn được lợi ích, thậm chí có người coi đó là thói quen.

Hậu quả của việc nói dối là làm mất lòng tin. Khi một người bị phát hiện nói dối, uy tín của họ sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Trong các mối quan hệ, sự thiếu trung thực khiến tình cảm trở nên mong manh, dễ đổ vỡ. Không chỉ vậy, nói dối còn khiến con người sống trong lo sợ và mâu thuẫn nội tâm.

Một số ý kiến cho rằng có những “lời nói dối vô hại” nhằm tránh làm tổn thương người khác. Tuy nhiên, dù với mục đích gì, nói dối vẫn không phải là giải pháp lâu dài. Sự chân thành và khéo léo trong cách nói mới là điều cần thiết. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính trung thực, dám đối diện với sự thật. Chỉ có sự chân thành mới giúp xây dựng niềm tin và các mối quan hệ bền vững.

Bài mẫu 11

Trong cuộc sống, sự trung thực luôn được coi là một trong những phẩm chất quan trọng hàng đầu của con người. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy thói nói dối đang trở nên khá phổ biến, xuất hiện ở nhiều lứa tuổi và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đây là một thói xấu đáng bị phê phán, bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người nói dối mà còn làm suy giảm niềm tin trong các mối quan hệ xã hội.

Nói dối là hành vi cố tình đưa ra thông tin sai sự thật nhằm che giấu sự thật hoặc đạt được mục đích cá nhân nào đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nói dối: có người nói dối vì sợ bị trách phạt, có người vì muốn bảo vệ lợi ích của mình, thậm chí có người coi việc nói dối như một thói quen khó bỏ. Dù xuất phát từ lý do nào, hành vi này vẫn thể hiện sự thiếu trung thực và thiếu trách nhiệm với lời nói của mình.

Thói nói dối gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Trước hết, nó làm mất đi sự tin tưởng giữa con người với nhau. Khi một người bị phát hiện nói dối, người khác sẽ dần mất lòng tin vào họ, từ đó các mối quan hệ cũng trở nên rạn nứt. Trong học tập, việc nói dối có thể dẫn đến gian lận, khiến kết quả không phản ánh đúng năng lực thật. Trong công việc, nói dối có thể gây ra những sai lầm lớn, thậm chí ảnh hưởng đến cả tập thể. Về lâu dài, người nói dối còn phải sống trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi bị phát hiện, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng có những “lời nói dối vô hại”, chẳng hạn như nói dối để tránh làm tổn thương người khác. Quan điểm này không hoàn toàn sai, nhưng cần hiểu rằng nói dối không phải là giải pháp tốt nhất. Thay vì nói dối, chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn cách nói khéo léo, chân thành mà vẫn không gây tổn thương. Nếu lạm dụng những “lời nói dối vô hại”, con người rất dễ hình thành thói quen thiếu trung thực.

Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của thói nói dối để tự rèn luyện bản thân. Hãy học cách nói thật, dám chịu trách nhiệm với hành động của mình. Trung thực không chỉ giúp xây dựng niềm tin mà còn giúp con người sống thanh thản, tự tin hơn. Một xã hội tốt đẹp chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của sự chân thành và trung thực.

Bài mẫu 12

Trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng phát triển, con người dường như trở nên bận rộn hơn với những lo toan cá nhân. Tuy nhiên, chính điều đó lại làm nảy sinh một thói xấu đáng lo ngại, đó là sự vô cảm. Đây là một hiện tượng cần được nhìn nhận nghiêm túc và phê phán, bởi nó làm suy giảm những giá trị nhân văn tốt đẹp của con người.

Vô cảm là thái độ thờ ơ, không quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh, đặc biệt là trước nỗi đau hay khó khăn của người khác. Người vô cảm có thể nhìn thấy người gặp nạn nhưng không giúp đỡ, chứng kiến bất công nhưng không lên tiếng, hoặc đơn giản là không biết chia sẻ, đồng cảm với người xung quanh. Biểu hiện của sự vô cảm ngày nay có thể dễ dàng bắt gặp trong đời sống, từ việc thờ ơ trước tai nạn giao thông cho đến việc lạnh nhạt trong các mối quan hệ.

Hậu quả của thói vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Trước hết, nó khiến xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu đi tình người. Khi mỗi cá nhân chỉ sống cho riêng mình mà không quan tâm đến người khác, những giá trị như yêu thương, sẻ chia sẽ dần bị mai một. Bên cạnh đó, sự vô cảm còn khiến những người gặp khó khăn cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng vì không nhận được sự giúp đỡ cần thiết. Về lâu dài, nếu thói vô cảm lan rộng, xã hội sẽ mất đi sự gắn kết, trở nên rời rạc và thiếu nhân văn.

Một số người cho rằng việc “không can thiệp” là cách để tránh rắc rối cho bản thân. Tuy nhiên, đây thực chất là sự ngụy biện cho thái độ thờ ơ. Con người không thể sống tách biệt hoàn toàn khỏi cộng đồng, và mỗi hành động nhỏ như giúp đỡ người khác cũng góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn.

Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình lòng nhân ái và sự đồng cảm. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ như giúp đỡ người gặp khó khăn, quan tâm đến người thân, bạn bè. Khi biết sống vì người khác, cuộc sống của chúng ta cũng trở nên ý nghĩa hơn.

Bài mẫu 13

Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phổ biến của mạng xã hội, con người có nhiều cơ hội để thể hiện bản thân. Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo một thói xấu đáng phê phán, đó là thói khoe khoang.

Khoe khoang là hành vi phô trương quá mức những gì mình có hoặc đạt được nhằm gây sự chú ý và khẳng định bản thân trước người khác. Điều này có thể thể hiện qua việc khoe tiền bạc, thành tích, ngoại hình hay các mối quan hệ. Không ít người sử dụng mạng xã hội như một “sân khấu” để thể hiện cuộc sống hào nhoáng, đôi khi không đúng với thực tế.

Thói khoe khoang mang lại nhiều hệ lụy tiêu cực. Trước hết, nó khiến con người trở nên hời hợt, chú trọng đến hình thức bên ngoài hơn là giá trị thực. Ngoài ra, việc khoe khoang còn dễ tạo ra sự ganh đua, đố kị trong xã hội, làm mất đi sự chân thành trong các mối quan hệ. Người thường xuyên khoe khoang cũng dễ bị đánh giá là thiếu khiêm tốn và khó nhận được sự tôn trọng từ người khác.

Có ý kiến cho rằng việc chia sẻ thành công cá nhân là điều bình thường và cần thiết. Điều này không sai, nhưng cần phân biệt rõ giữa chia sẻ và khoe khoang. Chia sẻ mang tính chân thành, nhằm lan tỏa giá trị tích cực, còn khoe khoang lại mang tính phô trương, nhằm thể hiện bản thân một cách quá mức.

Do đó, mỗi người cần học cách sống khiêm tốn, biết trân trọng giá trị thật của bản thân. Thành công thực sự không nằm ở việc được bao nhiêu người ngưỡng mộ, mà nằm ở giá trị mà ta tạo ra cho chính mình và cho xã hội.

Bài mẫu 14

Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phổ biến của mạng xã hội, con người có nhiều cơ hội để thể hiện bản thân. Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo một thói xấu đáng phê phán, đó là thói khoe khoang.

Khoe khoang là hành vi phô trương quá mức những gì mình có hoặc đạt được nhằm gây sự chú ý và khẳng định bản thân trước người khác. Điều này có thể thể hiện qua việc khoe tiền bạc, thành tích, ngoại hình hay các mối quan hệ. Không ít người sử dụng mạng xã hội như một “sân khấu” để thể hiện cuộc sống hào nhoáng, đôi khi không đúng với thực tế.

Thói khoe khoang mang lại nhiều hệ lụy tiêu cực. Trước hết, nó khiến con người trở nên hời hợt, chú trọng đến hình thức bên ngoài hơn là giá trị thực. Ngoài ra, việc khoe khoang còn dễ tạo ra sự ganh đua, đố kị trong xã hội, làm mất đi sự chân thành trong các mối quan hệ. Người thường xuyên khoe khoang cũng dễ bị đánh giá là thiếu khiêm tốn và khó nhận được sự tôn trọng từ người khác.

Có ý kiến cho rằng việc chia sẻ thành công cá nhân là điều bình thường và cần thiết. Điều này không sai, nhưng cần phân biệt rõ giữa chia sẻ và khoe khoang. Chia sẻ mang tính chân thành, nhằm lan tỏa giá trị tích cực, còn khoe khoang lại mang tính phô trương, nhằm thể hiện bản thân một cách quá mức.

Do đó, mỗi người cần học cách sống khiêm tốn, biết trân trọng giá trị thật của bản thân. Thành công thực sự không nằm ở việc được bao nhiêu người ngưỡng mộ, mà nằm ở giá trị mà ta tạo ra cho chính mình và cho xã hội.

Bài mẫu 15

Trong xã hội hiện đại, khi thông tin lan truyền với tốc độ chóng mặt, con người ngày càng dễ bị tác động bởi ý kiến của số đông. Tuy nhiên, việc tiếp nhận và chọn lọc thông tin không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách tỉnh táo. Từ đó, hình thành nên một thói xấu đáng phê phán, đó là thói a dua theo đám đông – một biểu hiện của sự thiếu chính kiến và thiếu bản lĩnh cá nhân.

A dua theo đám đông là việc con người dễ dàng làm theo, tin theo hoặc ủng hộ một ý kiến, hành động nào đó chỉ vì thấy nhiều người khác cũng làm như vậy, mà không có sự suy nghĩ, đánh giá độc lập. Người có thói a dua thường không tự đưa ra quan điểm riêng, mà bị cuốn theo dư luận, trào lưu. Biểu hiện của thói xấu này rất phổ biến, đặc biệt trên mạng xã hội: thấy một thông tin chưa kiểm chứng nhưng vẫn chia sẻ; thấy người khác chỉ trích một cá nhân nào đó thì cũng vội vàng hùa theo mà không tìm hiểu sự thật.

Thói a dua gây ra nhiều hậu quả tiêu cực. Trước hết, nó làm mất đi khả năng tư duy độc lập của con người. Khi quen với việc chạy theo đám đông, cá nhân sẽ không còn thói quen suy nghĩ, phân tích vấn đề một cách khách quan. Điều này khiến con người dễ bị dẫn dắt, thậm chí bị lợi dụng. Bên cạnh đó, a dua còn có thể gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho người khác. Không ít trường hợp một người bị chỉ trích, công kích trên mạng chỉ vì những thông tin sai lệch, nhưng do hiệu ứng đám đông mà sự việc bị đẩy đi quá xa, gây ảnh hưởng đến danh dự, tinh thần của họ.

Có ý kiến cho rằng việc làm theo số đông là “an toàn”, vì nếu nhiều người cùng làm thì khả năng sai sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số đông không phải lúc nào cũng đúng. Lịch sử và cuộc sống đã chứng minh nhiều trường hợp chân lý thuộc về thiểu số. Nếu ai cũng a dua, không ai dám lên tiếng phản biện, thì sai lầm sẽ càng dễ lan rộng.

Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tư duy độc lập và bản lĩnh cá nhân. Trước mỗi thông tin hay sự việc, cần biết phân tích, kiểm chứng thay vì vội vàng tin theo. Đồng thời, cần dũng cảm bảo vệ quan điểm đúng đắn, không bị cuốn theo áp lực của đám đông. Chỉ khi mỗi cá nhân có chính kiến riêng, xã hội mới phát triển lành mạnh và tiến bộ hơn.

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close