Soạn bài Viết - Luyện tập và vận dụng - Ôn tập Học kì 2 SGK Ngữ Văn 10 HK2 Kết nối tri thức - siêu ngắn

Viết một bài văn nghị luận thể hiện những điều bạn cảm nhận được qua tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của danh nhân Nguyễn Trãi.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chọn một trong các đề sau:

Đề 1: Viết một bài văn nghị luận thể hiện những điều bạn cảm nhận được qua tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của danh nhân Nguyễn Trãi.

Đề 2: Tình thế lựa chọn khó khăn nhưng đầy ý nghĩa mà bạn đã trải qua trong hành trình rèn luyện – trưởng thành của mình.

Hãy viết về chủ đề trên.

Đề 3: Trong những tác phẩm mà bạn đã tìm đọc được theo gợi ý ở các bài trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai, tác phẩm nào để lại cho bạn nhiều ấn tượng và suy nghĩ nhất? Hãy viết một bài nghị luận bàn về tác phẩm đó theo các vấn đề nội dung và nghệ thuật tự chọn.

Đề 4: Theo quan sát và trải nghiệm của bạn, ở không gian sinh hoạt cộng đồng nào còn thiếu những quy định, hướng dẫn về hành vi ứng xử cần có cho mọi người? Trong vai người được một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ủy nhiệm, bạn hãy hoàn thành một bản nội quy hay hướng dẫn nơi công cộng góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, có văn hóa.

Đề 1

Video hướng dẫn giải

Viết một bài văn nghị luận thể hiện những điều bạn cảm nhận được qua tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của danh nhân Nguyễn Trãi.

Phương pháp giải:

- Nhớ lại những kiến thức đã học khi tìm hiểu về danh nhân Nguyễn Trãi (cuộc đời, con người, sự nghiệp, …)

- Dựa vào những hiểu biết cá nhân và kiến thức đã học để viết bài văn theo yêu cầu.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

     Nguyễn Trãi người anh hùng đại tài không chỉ thể hiện tài năng quân sự mà còn yêu nước hết lòng tận trung ái quốc, yêu mến quê hương đất nước. Ông thể hiện trình độ trong quân sự, đồn thời còn là bậc anh hùng. Khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Nguyễn Trãi, tôi cảm thấy khâm phục, kính trọng ông, Nguyễn Trãi con người văn võ song toàn của dân tộc. Tuy ông đã trải qua nhiều bất hạnh oan uổng và trở thành thảm kịch trong lịch sử nước ta nhưng những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà vẫn còn mãi đến bây giờ.

     Nguyễn Trãi có tên hiệu là Ức Trai, quê gốc nằm ở tỉnh Hải Dương. Ông trưởng thành trong gia đình mà cha và mẹ đều nổi tiếng. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa, văn học và yêu nước. Nhưng từ nhỏ ông đã chịu nhiều đau thương 5 tuổi mất mẹ, 10 tuổi mất ông ngoại. Năm 1400, khi nhà Hồ tổ chức kỳ thi, ông đỗ Thái học sinh, cha với con đều cùng nhau làm quan nhà Hồ. Sau khi quân Minh sang xâm lược, nhà Hồ thất thủ, cha ông bị bắt sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi tham gia nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến chống giặc Minh góp sức mình cho cuộc kháng chiến chống quân Minh.

     Vào thời gian năm 1428, khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh thành công, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo – được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta. Sau một thời gian làm quan, trước cảnh triều đình có nhiều biến chuyển khi gian thần lộng hành khắp nơi, Nguyễn Trãi đã xin vua quay về ở ẩn. Về sau khi quay lại triều đình giúp vua Lê Thái Tông, ông và gia đình bị dính vào oan án Lệ Chi Viên hãm hại vua, bị tru di tam tộc, trở thành vụ án thảm khốc nhất trong lịch sử nước nhà.

     Cuộc đời của ông là cuộc đời của một đại anh hùng dân tộc, một nhân vật lịch sử toàn tài hiếm có và cũng là cuộc đời của một con người chịu oan khiên thảm khốc. Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, một nhà văn, một nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã đóng góp nhiều cho nước nhà, đặc biệt ông đã để lại nhiều tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán, văn chính luận, thơ trữ tình kiệt xuất và được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

      Các tác phẩm xuất sắc như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo và nhiều chiếu, biểu, có giá trị khác. Các tác phẩm ông có tư tưởng chính đó là sự nhân nghĩa, yêu nước thương dân. Hai tập thơ Ức Trai thi tập (chữ Hán) và Quốc âm thi tập (chữ Nôm) nằm trong số các tác phẩm vô cùng giá trị. Thơ trữ tình của ông giản dị, giàu hình ảnh có tính ước lệ. Nguyễn Trãi thiên tài văn học nổi tiếng có sự kết tinh của tinh thần Văn học Lí – Trần. Khi đọc các sáng tác của ông ta có thể thấy nội dung, thơ Nguyễn Trãi có sự kết hợp giữa lòng yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Qua đó, ta thấy được những nỗi ưu tư trăn trở về dân về nước, thấy được khí tiết thanh cao, lòng yêu thiên nhiên cây cỏ của ông.

     Không chỉ thơ mà các tác phẩm chính luận cũng có tư tưởng chủ đạo là tư tưởng nhân nghĩa, mệnh trời, tư tưởng nhân dân, sống theo tư tưởng đạo Nho nhưng không gò bó, câu nệ tiểu tiết mà vô cùng khoáng đạt, rộng rãi. Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo được đánh giá là “thiên cổ hùng văn”, bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc. Quân trung từ mệnh tập được đánh giá là “có sức mạnh bằng 10 vạn quân”. Các tác phẩm chính luận của ông đều có luận điểm vững chắc, lập luận sắc bén, giọng điệu linh hoạt khiến người đọc phải cảm thán về tính thuyết phục của nó.

      Thơ văn Nguyễn Trãi là đỉnh cao chói lọi trong nền văn học dân tộc, ông là nhà văn có nhiều cống hiến to lớn cho văn học đất nước, cùng với các bài chiếu, biểu, lục, ông đã xây đắp nền móng văn hóa tư tưởng cho dân tộc. Không thể phủ định được Nguyễn Trãi là một nhân vật tài đức có đủ, trí dũng song toàn trong lịch sự Việt Nam thời phong kiến, là một nhân vật không ai không thán phục và kính ngưỡng. Nguyễn Trãi không chỉ góp phần viết nên các trang hào hùng trong lịch sử giữ nước mà còn có công xây đắp nền móng vững chãi cho nền văn học dân tộc. Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, gắn bó thiết tha với cảnh vật thiên nhiên đất nước, thể hiện tình yêu ngôn từ Việt nồng thắm. Tên tuổi ông sẽ mãi mãi sáng như ánh sao khuê, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Nguyễn Trãi (1380-1442) là bậc đại anh hùng dân tộc, là một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử nước nhà, là danh nhân văn hóa thế giới nhưng đồng thời cũng là người phải chịu những oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. 

Nguyễn Trãi xuất thân trong gia đình cha là nhà nho nghèo, mẹ thuộc dòng dõi quí tộc nhà Trần. Nguyễn Trãi sớm mồ côi mẹ, thuở nhỏ được sự nuôi dạy cẩn thận của của ông ngoại Trần Nguyên Đán.

Ông thi đỗ và làm quan cho nhà Hồ cùng với cha năm 1400. Đến 1407, giặc Minh đến cướp nước ta, cha Nguyễn Trãi bị bắt đưa về Trung Quốc, Nguyễn Trãi theo cha, nhưng đến biên giới, nghe lời cha, Nguyễn Trãi quay lại tìm cách rửa nhục cho nước.

Ông bị giặc Minh giam lỏng 10 năm ở thành Đông Quan, sau đó trốn thoát được, tìm vào Lam Sơn phò tá Lê Lợi tiến hành cuộc kháng chiến chống Minh đến toàn thắng năm 1427.

Ông hăm hở tái thiết xây dựng đất nước nhưng bị gian thần ghen ghét, bị nghi ngờ, không được tin dùng nhiều.

Năm 1439, ông xin về ở ẩn, nhưng đến 1440, vua trẻ Lê Thái Tông lại mời ông ra giúp nước.

Năm 1442, nhà vua đi duyệt võ ở Chí Linh, có ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, rồi đột ngột băng hà ở Lệ Chi Viên. Nguyễn Trãi bị gian thần vu cho tội giết vua và bị xử án tru di tam tộc. 

Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, tìm con cháu, sưu tầm lại thơ văn của ông và khẳng định nhân cách, tấm lòng, tâm hồn lớn của Nguyễn Trãi với câu nói nổi tiếng “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”.

Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự, giáo dục, nhà lập pháp tài ba của dân tộc ta. Không chỉ vây, ông còn là cây đại thụ đầu tiên của văn học Việt Nam. Ông là tác giả xuất sắc về nhiều thể loại văn học cả ở lĩnh vực chữ Hán và chữ Nôm . Ông để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Đó là “Đại cáo bình Ngô”, “Quân trung từ mệnh tập”…

Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo được đánh giá là “thiên cổ hùng văn”, bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc. “Quân trung từ mệnh tập” được đánh giá là “có sức mạnh bằng 10 vạn quân”. Các tác phẩm chính luận có luận điểm vững chắc, lập luận sắc bén, giọng điệu linh hoạt. Trong đó luận điểm cơ bản cốt lõi là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân.

Ông còn là nhà thơ trữ tình sâu sắc. Thơ ông bộc lộ tâm hồn, con người ông từ khía cạnh bình thường, trần thế hòa quyện với con người anh hùng vĩ đại. Đọc thơ Nguyễn Trãi, ta thấy những nỗi ưu tư trăn trở về dân về nước, thấy được khí tiết thanh cao, lòng yêu thiên nhiên cây cỏ của ông.

Nguyễn Trãi có đóng góp lớn vào việc phát triển chữ Nôm và Việt hóa thơ Đường qua việc sử dụng thuần thục thể thơ thất ngôn xen lục ngôn. Nguyễn Trãi đưa vào thơ những hình ảnh dân dã quen thuộc một cách tự nhiên, tinh tế.

Ông được đánh giá là thiên tài văn học, là hồn thơ kết tinh tinh hoa văn hóa Lí-Trần, là người mở đường cho cả một giai đoạn mới của thơ viết bằng tiếng Việt. Thơ văn ông hội tụ đủ hai nguồn cảm hứng lớn của văn học dân tộc là yêu nước và nhân đạo.

Nguyễn Trãi không chỉ được khâm phục vì tài năng quân sự xuất chúng mà còn là người tận trung ái quốc, yêu nước, yêu dân và cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Ông là hình mẫu văn võ song toàn, xứng đáng là một trong những bậc anh hùng của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, sinh năm 1380 tại Nhị Kê, Hà Tây, trong một gia đình có truyền thống văn hóa, văn học và yêu nước. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh, mẹ là Trần Thị Thái – con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Từ nhỏ, ông đã chịu nhiều mất mát khi lên sáu tuổi mẹ qua đời, mười tuổi mất ông ngoại. Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh và cùng cha ra làm quan nhà Hồ. Khi giặc Minh xâm lược năm 1407, cha ông bị bắt sang Trung Quốc.

Với lời cha dặn rằng “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha”, Nguyễn Trãi đã tham gia nghĩa quân Lam Sơn và góp công lớn vào cuộc kháng chiến chống quân Minh suốt hơn mười năm, đưa đất nước giành độc lập. Sau khi chiến thắng, ông bị gian thần đố kỵ hãm hại, buộc phải cáo quan về Côn Sơn. Năm 1440, khi Lê Thái Tông mời ông ra giúp việc triều đình, xảy ra vụ án Lệ Chi Viên, Nguyễn Trãi cùng gia tộc bị tru di tam tộc. Mãi đến năm 1464, Lê Thánh Tông mới minh oan, đồng thời sưu tầm lại tác phẩm và tìm lại con cháu.

Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, quân sự, ngoại giao và đồng thời là một đại thi hào của dân tộc. Ông để lại kho tàng tác phẩm giá trị về nhiều lĩnh vực, từ quân sự, chính trị với “Quân trung từ mệnh tập” và “Bình Ngô đại cáo”, đến lịch sử, địa lý với “Lam Sơn thực lục” và “Dư địa chí”, hay văn học với “Ức Trai thi tập” bằng chữ Hán và “Quốc Âm thi tập” bằng chữ Nôm, đánh dấu bước tiến quan trọng của thơ ca tiếng Việt. Thơ văn của ông giàu triết lý, tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, đồng thời thấm đẫm tình yêu thiên nhiên. Thơ chữ Hán vừa trữ tình, trí tuệ, hào hùng và lãng mạn, còn thơ Nôm là tiên phong trong dòng thơ Nôm, nhiều bài giàu trải nghiệm đời sống, tinh luyện và đăng đối cổ điển, đồng thời ông sáng tạo hình thức thất ngôn xen lục ngôn và đưa tục ngữ vào thơ, góp phần làm giàu ngôn ngữ văn học Việt Nam.

Nguyễn Trãi là nhân vật tài đức vẹn toàn, trí dũng song toàn, dù có số phận bi thương, nhưng những đóng góp của ông đã xây dựng nền móng văn hóa, tư tưởng và văn học cho dân tộc. Tên tuổi ông sẽ mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, tỏa sáng như ánh sao Khuê.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Đề 2

Video hướng dẫn giải

Tình thế lựa chọn khó khăn nhưng đầy ý nghĩa mà bạn đã trải qua trong hành trình rèn luyện – trưởng thành của mình.

Hãy viết về chủ đề trên.

Phương pháp giải:

- Xác định và nêu tình thế lựa chọn khó khăn nhưng ý nghĩa là tình thế nào.

- Có thể miêu tả chi tiết hơn về thời gian, bối cảnh, hoàn cảnh lựa chọn hay vấn đề cần lựa chọn là gì, …

- Dựa vào cách viết bài luận về bản thân đã được học để viết bài văn về chủ đề theo yêu cầu.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

     Trong cuộc sống, chúng ta luôn phải đối mặt với sự lựa chọn, lựa chọn những ngã rẽ trong cuộc sống. Những lựa chọn ấy có thể là quyết định từ sâu trong suy nghĩ của mình hoặc là quyết định không mong muốn, đôi khi bản thân cảm thấy mình như người vô hình trong quá trình đưa ra lựa chọn ấy. Mỗi người luôn phải đưa ra những sự lựa chọn dẫn lối tương lai, đôi khi sự lựa chọn ấy chưa chắc đã là tương lai của bạn, số phận có thể sẽ đưa bạn đến với lối đi khác trong cuộc đời. Tôi cũng đã trải qua nhiều quá trình lựa chọn có sự phân vân, có sự băn khoăn và lựa chọn có ý nghĩa nhất của tôi chính là lựa chọn học chuyên môn tiếng Anh.

     Ai cũng có một sở thích của riêng mình, có một môn học mà bạn thích nhất hoặc giỏi nhất, tôi cảm thấy hứng thú với ngoại ngữ và đặc biệt là tiếng Anh – English. Khi còn học cấp hai tôi đã cảm thấy môn ngoại ngữ khá thú vị, nó mở ra những cánh cửa đến với vùng đất mới, không chỉ giúp ta có thêm một ngôn ngữ mới mà còn giúp ta biết thêm về văn hóa nước ngoài. Thời niên thiếu, mọi người chắc hẳn cũng hay xem phim nước ngoài trên truyền hình hay nghe nhạc US-UK, tôi thích những bản nhạc US-UK, những bản nhạc Âu Mỹ và nó dẫn lối cho tôi đến với môn ngoại ngữ, học tiếng Anh. Có thể sẽ có nhiều bạn cảm thấy học tiếng Anh rất khó, nhiều phụ huynh chưa thấy được ý nghĩa của ngoại ngữ nên không ủng hộ con mình học ngoại ngữ nhưng bố mẹ tôi rất ủng hộ tôi theo học ngoại ngữ. Bố mẹ tôi cũng như bao gia đình khác, có chăng chỉ là bố tôi từng tiếp xúc với tiếng Nga nên ông khá hiểu tầm quan trọng của tiếng nước ngoài và khuyến khích tôi học ngoại ngữ nhiều hơn. Thật ra hồi đầu tôi khá phân vân giữa việc đăng kí học ngoại ngữ hay học chuyên văn khi vào trường cấp ba vì tôi cảm thấy môn văn của tôi ổn hơn. Trong cuộc họp gia đình về việc đăng kí tham gia thi thử vào trường chuyên của tôi, mọi người có hỏi nguyện vọng muốn học chuyên môn gì của tôi và muốn thi vào trường nào. Cả bố và mẹ đều ủng hộ tôi nên tham gia thi thử và hướng tôi theo chuyên ngoại ngữ, tư tưởng của bố mẹ rất thoải mái và họ cũng đưa ra một số định hướng chọn trường đại học cũng như công việc tương lai của tôi.

     Việc thi thử vào trường chuyên của tỉnh có lẽ không phải là mong muốn của tôi nhưng lại là sự an bài của số phận, tôi cảm thấy nó là một quyết định đúng vì thi thử giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị cho kì thi chính thức của trường huyện. Lựa chọn học chuyên ngoại ngữ của tôi cũng chỉ mới đấy thôi, ngay trước kì thi tuyển sinh vào lớp 10, tôi mới chính thức đưa ra sự lựa chọn của mình về môn học. Mỗi khi đứng trước sự lựa chọn thì chúng ta đều có sự phân vân, băn khoăn giữa các lựa chọn với nhau và để có thể tự tin đưa ra quyết định, tôi đã phải suy nghĩ rất lâu. Tôi đã nghe rất nhiều bản nhạc US-UK, đọc một số mẩu truyện ngắn viết bằng tiếng Anh và hứng thú của tôi với ngoại ngữ ngày một tăng. Vậy nên tôi đã đưa ra quyết định học chuyên ngoại ngữ, đầu tiên sẽ là môn tiếng Anh và hi vọng sau này tôi có thể học thêm một vài ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Nhật,… Tôi đã quyết định lựa chọn học chuyên ngoại ngữ một phần vì sở thích và một phần vì học ngoại ngữ cũng giúp ích rất nhiều cho tôi trong tương lai.

     Có lẽ lần lựa chọn môn học là lựa chọn mà tôi phải mất rất lâu mới có thể đưa ra quyết định, lựa chọn này cũng là một con đường dẫn lối cho tương lai của tôi. Không chỉ mở đường tương lai mà lựa chọn này cũng là lựa chọn đánh dấu mốc thời gian trưởng thành, phải tự quyết định hành vi và việc làm của mình. Đây cũng chính là lựa chọn có ý nghĩa nhất trong cuộc sống của tôi, học thêm ngôn ngữ mới, tương lai có thể sẽ tươi sáng hơn. Quyết định của bạn dù có khó khăn hay gian khổ thì nó cũng là con đường mà bạn lựa chọn, là điều bạn mong muốn, là lối đi trong tương lai của bạn.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

 Chúng ta sinh ra trên đời để làm gì? Chẳng phải để tạo ra những giá trị tốt đẹp, cống hiến, xây dựng xã hội văn minh hay sao? Tuy nhiên, để có được thành công rực rỡ, tạo ra những giá trị tốt đẹp đó thì chúng ta phải trải qua nhiều khó khăn, bởi lẽ: “Đời người là cuộc hành trình vượt qua những thử thách”. Cuộc hành trình vượt qua những khó khăn thử thách được hiểu là việc con người sẵn sàng đón nhận, đối mặt với khó khăn, thử thách trong cuộc sống với một tinh thần, năng lượng tích cực. Là một con người và đặc biệt là giới trẻ, chúng ta cần có tinh thần vượt khó để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong cuộc đời, mỗi con người ai cũng sẽ phải trải qua những khó khăn gian khổ để trưởng thành và khôn lớn. Câu nói khuyên chúng ta hãy lạc quan, mạnh mẽ bước qua những thử thách đó để đến với thành công, đến với quả ngọt, sự cố gắng luôn được đền đáp xứng đáng. Người có tinh thần vượt khó khăn, thử thách là những người luôn cố gắng vươn lên trong công việc và cuộc sống, gặp khó khăn không chùn bước, vấp ngã biết đứng dậy và đi tiếp, không bỏ cuộc. Muốn kiếm tìm bất cứ một thành công nào cho bản thân mình, chúng ta phải can đảm đối diện với thử thách. Con người hơn nhau ở sự cố gắng. Chính vì thế, khi đứng trước khó khăn ta đừng nản chí, nản lòng. Thay vào đó, ta hãy quyết tâm, cố gắng, nỗ lực hết mình để tìm kiếm thành công. Sự thất bại chính là trải nghiệm để cho con người trưởng thành và khôn lớn. Vì thế, ta hãy mạnh mẽ bước qua gian khổ để tiến đến với hạnh phúc. Ngoài ra, ta cũng cần phải phê phán những người hay nản chí, bỏ cuộc khi gặp khó khăn, thử thách, sống buông lơi, dựa dẫm vào người khác mà không cố gắng vươn lên. Mỗi người có một cuộc đời để sống và đều phải trải qua những khó khăn, hãy đối diện với nó bằng sự dũng cảm, kiên định, kiêu hãnh để đúc rút ra bài học và đi đến cái đích của sự thành công.

Cuộc sống của chúng ta đầy rẫy những khó khăn và thử thách. Nếu như chúng ta không có bản lĩnh, ý chí và nghị lực để vượt qua thì mãi mãi chúng ta sẽ không thoát khỏi cái hố sâu đó. Như vậy, bản lĩnh có vai trò quan trọng làm nên sự tồn tại của một con người. Bản lĩnh chính là việc dám nghĩ, dám sống, dám làm những gì mà mình cho là đúng, không ảnh hưởng đến người khác. Bản lĩnh còn chính là sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường vượt qua tất cả để dành được điều mà mình mong đợi. Bản lĩnh là một đức tính cần được rèn luyện, gọt giũa của mỗi người để có thể tìm cho mình một con đường đi đúng đắn nhất. Khi chúng ta có bản lĩnh, sẽ không phải cúi đầu, không phải băn khoăn, không phải lo nghĩ sẽ phải làm gì, làm như thế nào. Bản lĩnh sẽ khiến con người quyết đoán hơn. Bản lĩnh sẽ làm nên một con người khác biệt, bạn sẽ tự thấy mình không giống ai. Bản lĩnh sẽ khiến cho bạn tự tin hơn, vươn đến những ước mơ mà bạn đã từng suy nghĩ đến. Là một người sống bản lĩnh thì chắc chắn rằng bạn sẽ không ngần ngại làm sai và sửa sai, bởi bạn biết rằng thành công nào cũng sẽ đánh đổi bởi những thất bại. Nếu như bạn để mất bản lĩnh của mình, mọi việc sẽ rất khó khăn để thực hiện. Bản lĩnh không phải là một bản chất có sẵn, nó là cả một quá trình rèn luyện, phấn đấu. Những người có bản lĩnh thường là những kẻ sẽ thành công nhanh hơn và chắc chắn hơn. Bản lĩnh là một đức tính tốt đối với mỗi người. Chúng ta hãy cố gắng rèn luyện cho mình một bản lĩnh, kiên cường để có thể trở thành một công dân có ích.

Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta phải đứng trước những lựa chọn khó khăn, và việc quyết định chọn một con đường đôi khi không hề dễ dàng, nhất là khi lựa chọn đó có thể đem lại nỗi buồn, nước mắt. Tôi muốn kể cho các bạn nghe về một trải nghiệm như vậy của bản thân, một tình thế khó khăn nhưng đầy ý nghĩa trong hành trình trưởng thành của mình.

Lên lớp 8, gia đình tôi vì một lý do phức tạp đã chuyển về một vùng quê xa để sinh sống trong một thời gian ngắn. Với một cô bé đã quen với nhịp sống sôi động ở thành phố, tôi cảm thấy rất buồn chán và cô đơn. Ngôi nhà mới xây trước mặt là dòng sông nhỏ chảy ra biển, với hàng phi lao rì rào trong gió như đang trò chuyện, nhưng chính sự yên bình và trong lành ấy lại làm nỗi buồn của tôi thêm sâu sắc.

Giữa lúc đó, tôi để ý trên cành cây si gần nhà có một tổ chim chào mào nhỏ với những quả trứng sắp nở. Bố tôi nói chim mẹ thường bay về tổ, nhưng ông lo lắng khi cơn bão sắp đến, không biết tổ nhỏ bé ấy có vững chãi được không. Một sáng, tiếng chim non vang lên, báo hiệu chim đã nở, nhưng cũng là lúc cơn bão ập tới. Tôi nhớ sau trận mưa, bố mang về một chú chim chào mào con, chưa mọc đủ lông, còn bị thương ở cánh – có lẽ nó đã rơi khỏi tổ. Bố tôi nhặt chú chim với mong muốn cứu sống nó.

Thật may, chú chim non đã lớn lên từng ngày nhờ những hạt cám tôi đút vào mỏ. Nó trở thành thành viên thân thiết trong gia đình, chỉ có đôi cánh bị thương khiến nó không thể bay cao, chỉ nhảy theo từng bước chân tôi trong nhà. Từ đó, tôi cảm thấy vui vẻ hơn, yêu ngôi nhà mới hơn, và tìm thấy một người bạn nhỏ đáng yêu để chia sẻ nỗi cô đơn.

Thế nhưng, niềm vui ấy không kéo dài lâu. Mùa đông năm sau, chú chim bị bệnh, cánh đau xệ khiến nó sốt cao. Ở nơi tôi sinh sống, dịch vụ thú y còn hạn chế, và tôi phải đứng trước lựa chọn khó khăn: mang chú chim đi gần trăm cây số để cứu hay chỉ ở bên, sưởi ấm và chuẩn bị tinh thần cho điều xấu nhất. Sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ qua điện thoại, tôi nhận ra cơ hội sống sót của chú chim rất thấp, và tôi chỉ có thể chấp nhận thực tế rằng nó sẽ ra đi.

Chú chim nhỏ ra đi sau hơn hai tuần bệnh tật, khiến tôi buồn và khóc rất nhiều. Nhưng từ câu chuyện này, tôi nhận ra một bài học quan trọng: không có gì tồn tại mãi mãi, đặc biệt là những điều mà ta yêu thương. Chúng ta cần trân trọng và yêu thương thật nhiều khi còn có thể. Dù đã ra đi, tôi tin chú chim nhỏ đã được sống một cuộc đời hạnh phúc, ít nhất là khi ở bên tôi.

Câu chuyện về ngôi nhà nhỏ và chú chim chào mào sẽ mãi là một kỷ niệm đẹp trong tôi. Việc đứng trước lựa chọn khó khăn và chấp nhận mất mát ấy đã dạy tôi trưởng thành hơn, biết yêu thương và trân trọng những điều quý giá trong cuộc sống.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Đề 3

Video hướng dẫn giải

Trong những tác phẩm văn học mà bạn đã tìm đọc được theo gợi ý ở các bài học trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai, tác phẩm nào đã để lại cho bạn nhiều ấn tượng và suy nghĩ nhất? Hãy viết một bài nghị luận bàn về tác phẩm đó theo các vấn đề nội dung và nghệ thuật tự chọn.

Phương pháp giải:

- Nhớ lại kiến thức về các tác phẩm văn học đã học ở học kì II và chọn một văn bản bạn thấy ấn tượng nhất.

- Nghị luận về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã chọn dựa trên kiến thức đã học về viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

     Giữa bộn bề ngột ngạt của cuộc sống xô bồ, tìm về với những áng văn Thạch Lam viết về thiên nhiên thơ mộng trữ tình, ta thấy lòng nhẹ nhõm và bình yên đến lạ! Bức tranh quê trong đa số tác phẩm truyện ngắn Thạch Lam, luôn chứa đựng những gì tinh khôi và đẹp đẽ nhất, Thạch Lam là một cây bút được coi là hàng đầu của văn xuôi Việt Nam. Thạch Lam đã để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị trong đó có tác phẩm Dưới bóng hoàng lan. tác phẩm là truyện ngắn không có cốt truyện. Nó không kể một câu chuyện mà nó gợi sâu suy nghĩ. Thời gian đọng lại không gian tĩnh lặng hé lộ kín đáo bi kịch đời người màn người đọc phải cảm nhận kĩ mới cảm nhận được. Đó chính là cái thú vị cái đặc sắc của tác phẩm.

     Truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan viết về nhân vật Thanh thông qua một lần trở về quê hương, thăm bà, gặp lại những người anh luôn yêu thương, tôn trọng. Thanh mồ côi cha mẹ, sống cùng bà, hai bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, tuổi thơ của Thanh tuy đầy sự vất vả nhưng luôn tràn đầy hơi ấm, tình yêu, sự chở che của người bà. Thanh ra tỉnh làm rồi đi về hàng năm, các ngày nghỉ nhưng lần trở về này đã cách kỳ trước hai năm. Có phải đời sống thị thành đã nhiều lúc khiến Thanh quên rằng người bà tóc bạc phơ đang sống những ngày cuối cùng trong đời mỏi mắt trông chờ anh, đáp lại tiếng gọi bà ơi một cái bóng nhẹ từ bên trong vụt ra rơi xuống mặt bàn anh chàng định thần nhìn con mèo của nhà anh chàng. Từ khi Thanh lên thành phố công tác thì ngôi nhà vốn neo người của bà cháu anh càng trở nên hoang vắng, quạnh quẽ hơn “Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ trong căn vườn, tựa như bao nhiêu sự ồn ào ngoài kia đều ngừng lại trên bậc cửa”. Tuy đã xa nhà một thời gian dài nhưng mỗi lần trở về thăm quê, với Thanh ngôi nhà ấy vẫn như ngày nào vậy, tựa như tình yêu thương nơi người bà “ …cảnh tượng gian nhà cũ không có gì thay đổi, cũng y như ngày chàng đi khi xưa”. Ngôi nhà thân thuộc ấy phần nào lại khiến cho anh chàng cảm thấy hồi hộp bồi hồi đến kì lạ khiến chàng thấy cảm động quá.

     Đọc tác phẩm, người đọc có thể thấy ở Thanh toát lên một tình yêu quê hương da diết, một thứ tình cảm gắn bó thiêng liêng với ngôi nhà, mà hơn cả là với người bà mà anh rất mực yêu thương, kính trọng. Mỗi lần về thăm quê, Thanh đều có cảm giác bồi hồi, mừng rỡ, đó là thứ tình cảm của một người con xa quê khi được trở về nơi mái nhà thân yêu, nơi quê hương mình được sinh ra, được lớn lên. Thanh cảm thấy thời gian như quay ngược lại, không gian đứng lặng, phong cảnh vẫn y nguyên, gian nhà vẫn tịch mịch và bà chàng vẫn tóc bạc phơ và hiền từ. Các trang văn của Thạch Lam luôn vậy, nhẹ nhàng, giản dị nhưng lại có sức lay động đến bình dị đến vậy. Theo bước chân của Thanh, người đọc như được hòa nhập làm một với nhân vật, được ngắm nhìn khung cảnh bình yên và thong thả của chốn xưa. Câu văn ngắn gọn mà chan chứa tình cảm của bà “Đi vào trong nhà không nắng cháu” đã khiến cho người đọc thấy xúc động khôn nguôi, sự quan tâm dù rất nhỏ bé nhưng lại thể hiện được tình cảm, tấm lòng bao la của người bà đối với Thanh, luôn quan tâm đến cháu từ những thứ nhỏ nhặt nhất. Trở về thăm nhà sau hai năm xa quê, gặp lại bà, được nhận những yêu thương, quan tâm của bà, Thanh có cảm giác như được trở về với tuổi thơ khi còn nhỏ “…tất cả những ngày thuở nhỏ trở lại với chàng”.

      Hình ảnh người bà tuy xuất hiện không hẳn nhiều nhưng chỉ với vài chi tiết, những hành động, những lời nói quan tâm của bà dành cho Thanh, ta cũng có thể cảm nhận được trọn vẹn tình cảm bao la của người bà. Từ lời quan tâm “Đi vào trong nhà không nắng cháu” đến lời thúc giục cháu đi rửa mặt rồi nghỉ ngơi “Con rửa mặt đi, rồi đi nghỉ không mệt. Trời nắng thế này mà con không đi xe ư?…”. Bà sợ cháu đi đường xa về mệt, bà sửa gối chiếu, dùng phất trần để phủi bụi trên giường, bà giục cháu nghỉ ngơi còn mình thì xuống bếp nấu ăn vì sợ cháu đói. Đối với Thanh khi ở bên bà lúc nào cũng có cảm giác được che chở, được quan tâm thì đối với bà, người cháu dù có lớn khôn đến đâu thì với bà lúc nào cũng là một đứa nhỏ cần được yêu thương, chăm sóc: “ …Ở đấy, bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu chàng”. Hình ảnh người bà đã thể hiện trọn vẹn chất thơ trong truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam, khiến người đọc thấy cảm động trước tình cảm gia đình – tình bà cháu thiêng liêng.

     Không gian trong truyện ngắn cũng được Thạch Lam thành công miêu tả một cách sống động, hình ảnh khu vườn xưa hiện lên trước mắt Thanh với con đường Bát Tràng rêu phủ với những vòm ánh sáng lọt qua vòm cây với bức tường hoa thấp chạy thẳng đến đầu nhà với cả một mùi lá tươi non phảng phất trong không khí. Một khu vườn với cây hoàng lan vốn quen thuộc nhưng lại rất mát mẻ và dịu dàng đối với Thanh đến lạ thường. Và trong không gian bóng hoàng lan ấy, hình ảnh những cô thiếu nữ xinh xắn trong tà áo trắng, mái tóc đen lánh buông trên cổ nhỏ, bên cạnh mái tóc bạc trắng của bà chàng cũng khiến Thanh hơi dao động phần nào. Chàng cảm thấy không gian náo nhiệt ồn ào ngoài kia như đang dừng lại trên bậc cửa.

     Hình ảnh cây hoàng lan xuyên suốt câu truyện gắn với những kỉ niệm khi xưa của Thanh và cũng là nhân chứng cho tình yêu trong sáng của đôi trẻ Thanh – Nga. Tình yêu nhẹ nhàng giữa Thanh và Nga cũng khiến cho người đọc cảm thấy xúc động bởi nó trong sáng, lại rất đáng yêu, qua những đoạn đối thoại của Thanh và Nga, lời yêu chưa từng được nói ra nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được bao nhiêu tình ý chứa trong đó. Thạch Lam đã đưa chất thơ vào thể hiện sự nhẹ nhàng, tinh tế khi Thanh cài lên mái tóc Nga bông hoa hoàng lan, đó cũng chính là khoảnh khắc lãng mạn, tinh tế của đôi lứa. Dù cho tình yêu của Thanh và Nga có chưa đầy sự gian khổ, khó khăn khi Thanh một lần nữa phải lên đường thì nó vẫn bền vững như ngày nào dưới sự chứng kiến của cây hoàng lan, Nga vẫn sẽ đợi Thanh, vẫn sẽ hái hoa hoàng lan cài lên tóc mỗi mùa hoa nở như khi Thanh đang ở bên cạnh. Tình yêu chưa lời ngỏ, chuyện tình chưa đi được đến hồi kết nhưng sự nhẹ nhàng của tình yêu ấy cũng đủ để lay động biết bao tâm hồn.

      Truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan là một câu chuyện nhẹ nhàng, giản dị nhưng đầy tinh tế, sâu sắc, bởi nó mang đến cho người đọc cảm giác thư thái, nhẹ nhàng thông qua câu chuyện của Thanh. Sở dĩ nó mang lại cho con người biết bao cảm xúc yêu thương, trìu mến bởi nó khơi gợi được thứ tình cảm gắn bó, sâu kín ở mỗi người, đó là tình yêu quê hương, tình cảm gia đình, tình yêu đầu đời. Đọc truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan, người đọc không chỉ cảm thán bởi tình cảm gia đình, tình bà cháu hay tình yêu đôi lứa của Thanh và Nga mà còn thán phục trước vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng mà đầy chất trữ tình.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Nhà thơ lừng danh người Mỹ Ralph Emerson từng nói: “Yêu cái đẹp là thường thức. Tạo ra cái đẹp là nghệ thuật. Nhưng biết trân trọng cái đẹp mới là người nghệ sĩ chân chính.” Có lẽ từ lâu, nhà văn Nguyễn Tuân đã thấm nhuần tư tưởng này, bởi cả cuộc đời ông là một hành trình say mê đi tìm cái đẹp thanh cao, cái đẹp của chuẩn mực tạo hóa. Tác phẩm Chữ người tử tù của ông đã khắc họa thành công chân dung vẻ toàn mỹ, một vẻ đẹp dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn toả sáng và trường tồn với thời gian.

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) xuất thân trong một gia đình Nho giáo, quê ở làng Mọc, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông là nhà văn lớn, có đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam hiện đại, cả đời say mê tìm kiếm cái đẹp trong cuộc sống để thổi hồn vào các tác phẩm những làn gió mới, những vẻ đẹp nhân văn cao đẹp. Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Sông Đà (1960)… Truyện ngắn Chữ người tử tù, xuất bản lần đầu với tên Dòng chữ cuối cùng năm 1939 trên tạp chí Tao Đàn, sau này in trong tập Vang bóng một thời và đổi tên như hiện nay, đã khắc họa hình tượng Huấn Cao – một con người tài hoa, lỗi lạc, giữ tâm hồn thanh cao dù bị đặt vào hoàn cảnh ngục tù tối tăm.

Thành công của một tác phẩm truyện ngắn phụ thuộc vào tình huống truyện đặc sắc, nơi mà khoảnh khắc ấy làm nổi bật sự sống, như Nguyễn Minh Châu từng nói: “Tình thế của câu chuyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”. Chữ người tử tù là một câu chuyện như thế, khi Nguyễn Tuân đặt nhân vật vào nghịch cảnh trớ trêu, cuộc hội ngộ giữa hai thế lực đối lập: một bên là con người tài hoa khí phách, một bên là quyền lực tăm tối của xã hội phong kiến. Cuộc gặp gỡ diễn ra kịch tính, lôi cuốn, và cuối cùng, vẻ đẹp thiên lương tao nhã thắng thế trước sự tàn bạo, xấu xa của xã hội.

Tác phẩm xây dựng thành công tuyến nhân vật chính diện, đại diện cho cái đẹp thanh cao trong tâm hồn, dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, thực tại xã hội có đen tối, cũng không thể làm vẩn đục nhân cách của họ. Trước tiên là hình tượng Huấn Cao – một vị anh hùng sa cơ thất thế. Trong mắt chế độ phong kiến, ông bị gọi là kẻ “phản nghịch”, cầm đầu nguy hiểm cần tiêu diệt. Nguyễn Tuân có thể đã dựa trên nguyên mẫu Cao Bá Quát – một người tài hoa, tinh thần quả cảm, và nghệ sĩ tài hoa chữ nghĩa – để sáng tạo hình tượng này. Huấn Cao vừa là người nghệ sĩ vừa là vị quan giữ chức huấn đạo, người nắm giữ vẻ đẹp tinh thần và đạo đức.

Nhà văn khắc họa Huấn Cao qua nhiều bình diện, thể hiện cái đẹp thanh cao đạt đến chân – thiện – mỹ. Ông là nghệ sĩ tài hoa lừng danh, xuất hiện gián tiếp qua lời kể của viên quản ngục và thầy thơ lại, là người “vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, đồng thời có khả năng “bẻ khoá và vượt ngục”. Huấn Cao hội tụ khí chất văn võ song toàn, một nhân vật phi thường. Cái tài hoa của ông còn được bộc lộ qua phản ứng của viên quản ngục, người chỉ cần đôi câu đối của Huấn Cao để treo trong nhà là “y đã mãn nguyện”, như thể trên đời không gì hạnh phúc hơn.

Huấn Cao còn là anh hùng khí phách hiên ngang, dù đối diện án tử, vẫn giữ nhân cách thanh cao, không nhún nhường trước cường quyền. Trước lời giễu cợt của lính cai ngục, ông im lặng, “lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng”, như lời cảnh báo dứt khoát. Trong ngục tù tăm tối, ông thản nhiên đón rượu thịt, coi như một việc bình thường, không sợ cường quyền, khinh bạc chế độ. Khi hỏi về mong muốn, ông trả lời thẳng thừng: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là ngươi đừng đặt chân vào đây.” Câu nói ấy thể hiện tinh thần bất khuất và lòng trung thực của người nghệ sĩ.

Nguyễn Tuân còn miêu tả Huấn Cao là người có tấm lòng thiên lương cao cả. Ông không ham danh lợi, chỉ trao chữ cho đúng người, coi trọng cái đẹp thanh cao. Trước sự đối đãi chân tình “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục, Huấn Cao bị cảm động, thể hiện tấm lòng nhân hậu, không muốn phụ lòng người.

Ngoài Huấn Cao, tác phẩm còn xây dựng viên quản ngục – một người yêu cái đẹp, có tâm hồn nghệ sĩ nhưng bị lạc giữa xã hội xô bồ, dung tục. Hai nhân vật chính diện được đặt song song để soi chiếu lẫn nhau, tỏa sáng vẻ đẹp tâm hồn tao nhã. Viên quản ngục như “một thanh âm trong trẻo chen vào bản đàn hỗn loạn”, sống giữa rối ren nhưng vẫn giữ tâm hồn thanh cao, biết trân trọng cái đẹp và nể trọng người tài.

Vào một đêm hoang vắng tại trại giam tỉnh Sơn, trong buồng giam tối tăm, chật hẹp, mùi ẩm mốc bốc lên, xung quanh đầy mạng nhện, phân chuột, phân gián, ánh lửa đỏ rực từ ngọn đuốc chiếu sáng cảnh tượng “một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh”. Viên quản ngục “khúm núm”, thầy thơ lại “run run bưng chậu mực”, vị thế nhân vật dường như đổi dời, người nắm quyền khép nép trước tử tù. Cái đẹp không tồn tại đơn độc, nó chiến thắng cái xấu, nhân đạo hóa những tâm hồn, giúp họ thức tỉnh, tìm lại bản chất nhân nghĩa vốn có.

Chữ người tử tù là một thiên truyện gần tới sự toàn diện, toàn mỹ. Tác phẩm thể hiện phong cách nghệ thuật tinh tế của Nguyễn Tuân, tạo dựng tình huống truyện độc đáo, khắc họa tính cách nhân vật qua thủ pháp đối lập, tương phản, ngôn ngữ trang trọng giàu hình ảnh. Qua truyện, tác giả khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của cái đẹp và thể hiện lòng yêu nước thầm kín của mình.

Nguyễn Tuân là một con người tài hoa tuyệt đỉnh, là bậc thầy về truyện ngắn. Sáng tác của ông được chia thành hai giai đoạn: trước và sau Cách mạng tháng Tám. Ở giai đoạn trước, ông được coi là nhà văn “duy mĩ”, say mê cái đẹp và coi cái đẹp là đỉnh cao của nhân cách con người. Tập truyện Vang bóng một thời là tiêu biểu cho thời kỳ này, thể hiện sự say mê cái đẹp quá khứ, tìm kiếm những phong tục, thú vui tao nhã trong xã hội xưa. Trong đó, thú chơi chữ của Huấn Cao và viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù là minh chứng điển hình cho nhân cách cao đẹp, thiên lương trong sáng, đồng thời nổi bật tài năng văn chương và tư tưởng của Nguyễn Tuân.

Huấn Cao trong truyện là người có tài viết chữ đẹp nhưng vì chống lại triều đình mà bị lãnh án tử hình. Trước khi thi hành án, ông được đưa đến trại giam nơi có viên quản ngục và thầy thơ lại yêu quý nét chữ, trân trọng người tài, nên biệt đãi tù nhân, mong muốn Huấn Cao cho chữ. Nhận thấy tấm lòng chân thành ấy, người tử tù với thiên lương trong sáng đã cho chữ trong hoàn cảnh éo le chưa từng có. Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ giữa hai con người khác biệt: một bên là Huấn Cao, người tài hoa nhưng đối đầu triều đình, một bên là viên quan coi ngục, đại diện cho trật tự xã hội phong kiến nhưng khao khát ánh sáng chữ nghĩa. Dù đối lập về xã hội, họ lại tri âm, tri kỉ với nhau trên bình diện nghệ thuật. Nguyễn Tuân đặt nhân vật vào tình huống đối nghịch để tạo kịch tính, cảnh cho chữ trở thành nút thắt được tháo gỡ.

Huấn Cao hiện lên là con người tài hoa uyên bác, khí phách hiên ngang, anh hùng bất khuất và có thiên lương trong sáng. Sở tài viết chữ đẹp được miêu tả gián tiếp qua cuộc đối thoại của viên quản ngục và thầy thơ lại, khiến viên quan coi ngục đau đáu một lòng xin chữ Huấn Cao để treo ở nhà riêng: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm.” Nguyễn Tuân miêu tả sở nguyện của viên quản ngục để làm nổi bật tài hoa nghệ sĩ mà bao người khao khát có được. Huấn Cao là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, không sợ lời đe dọa của lính áp giải, tự do hiên ngang dỗ gông để trận mưa rệp rơi xuống đất, thản nhiên nhận rượu thịt như một người tù tự do trong nhà lao. Ông khinh bạc viên quan coi ngục với câu nói: “Ngươi hỏi ta muốn gì ư? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.” Huấn Cao không khuất phục uy quyền, bạo lực, hòa quyện chất nghệ sĩ với anh hùng, tạo nên nét độc đáo khác biệt trong Vang bóng một thời. Thiên lương trong sáng của ông còn thể hiện ở việc cho chữ, chỉ trao cho những người tri kỉ, nhưng khi hiểu tấm lòng của viên quản ngục, ông mỉm cười nhắc thầy thơ lại chuẩn bị để đáp lại sự chân tình ấy. Giọng Huấn Cao trở nên từ tốn, hòa dịu: “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh về trại nghỉ, thì đem mực, bút và cả bó đuốc xuống đây ta cho chữ.” Ông khẳng định: “Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ.” Dù thân xác bị giam cầm, tâm hồn Huấn Cao luôn tự do và thanh cao.

Cảnh cho chữ trong truyện được Nguyễn Tuân miêu tả “xưa nay chưa từng có”, vừa lạ vừa đẹp. Đêm cuối cùng trước khi thi hành án, buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Ánh đuốc đỏ rực, khói tỏa mờ mịt, chỉ có Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh.” Thầy thơ lại run run bưng chậu mực, viên quản ngục nâng tấm lụa trắng. Tư thế đối lập: người tù ung dung, tự tại, hai người tự do khúm núm, run run. Tư thế ấy không phải cúi đầu hèn nhát mà là thành kính trước cái đẹp, đồng thời vị thế bị đảo ngược: người quyền lực lại không có uy, người tử tù giữ quyền sinh sát. Huấn Cao còn khuyên viên quản ngục: “Thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.” Lời khuyên chân thành ấy khiến viên quản ngục cảm động: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.” Cả ba người đồng điệu, chung tấm lòng yêu tha thiết cái đẹp, cái đẹp chữ viết gắn liền với cái đẹp tâm hồn và nhân cách.

Qua tác phẩm, Nguyễn Tuân cho thấy ba thái độ con người đối với cái đẹp. Thái độ thứ nhất là hủy diệt, thể hiện qua những tên lính hách dịch, tàn bạo, cùng chính quyền phong kiến bảo thủ muốn hủy diệt người tài để gìn giữ quyền lực tàn ác. Thái độ thứ hai là yêu mến cái đẹp và quý trọng người tài, qua tấm lòng, hành động của viên quản ngục và thầy thơ lại, sẵn sàng mạo hiểm để hoàn thành sở nguyện cao đẹp là xin chữ Huấn Cao. Thái độ thứ ba là sự cao thượng và rộng lượng của Huấn Cao, nghệ sĩ tài ba, người có thiên lương trong sáng, chỉ trao chữ cho người xứng đáng. Nhân vật này tượng trưng cho sự kết hợp giữa tài năng, đạo đức và nhân cách cao đẹp, là biểu hiện của cái đẹp gắn liền với cái thiện.

Nguyễn Tuân thể hiện rõ tư tưởng về nghệ thuật và nhân phẩm con người. Nhân cách đẹp là sự kết hợp giữa tài, tâm và thiện, và cái đẹp luôn gắn với đạo đức. Cái đẹp tồn tại ngay cả trong môi trường xấu xa, nhưng càng bị thử thách, nó càng rực rỡ. Chỉ có cái đẹp mới cảm hóa được tâm hồn, làm con người trở nên cao thượng hơn. Tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân thể hiện qua bút pháp tương phản, tả thực và lãng mạn đan xen, khắc họa con người và cảnh vật chi tiết, tỉ mỉ, gây ấn tượng sâu sắc. Chỉ có người yêu mến, trân trọng cái đẹp vô cùng mới có thể sáng tác được Chữ người tử tù – câu chuyện hiện thân của hai con người có nhân cách cao đẹp như Huấn Cao và viên quản ngục.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Đề 4

Video hướng dẫn giải

Theo quan sát và trải nghiệm của bạn, ở không gian sinh hoạt cộng đồng nào còn thiếu những quy định, hướng dẫn về hành vi ứng xử cần có cho mọi người? Trong vai người được một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ủy nhiệm, bạn hãy hoàn thành một bản nội quy hay hướng dẫn nơi công cộng góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, có văn hóa.

Phương pháp giải:

- Tìm hiểu về không gian sinh hoạt cộng đồng còn thiếu những quy định, hướng dẫn về hành vi ứng xử cho mọi người.

- Dựa vào những kiến thức đã học về cách viết văn bản nội quy, hướng dẫn nơi công cộng để hoàn thành bản nội quy, hướng dẫn theo yêu cầu.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH HÀ NỘI

NỘI QUY, QUY ĐỊNH CÔNG VIÊN THỦ LỆ

1. Quy định chung

- Mọi người đến tham quan, kinh doanh, dịch vụ phải có trách nhiệm giữ gìn an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan, thực hiện nếp sống văn hóa, văn mình, chấp hành các quy định về phòng chống cháy nổ.

- Cấm mọi hình thức xâm phạm đến các khu nuôi nhốt thú, các công trình kiến trúc trong công viên.

- Không hút thuốc lá nơi công cộng, không mang các chất cháy nổ, vũ khí vào công viên.

2. Đối với khách tham quan

- Trong khuôn viên của công viên Thủ Lệ, du khách không được tự ý bám sát vào rào chắn các khu nuôi nhốt thú, không tự ý cho các con vật ăn.

- Nên mặc trang phục thoải mái, chỉnh tề ngăn nắp, không vứt rác bừa bãi ra lối đi gây ảnh hưởng đến mỹ quan chung của công viên.

- Nên đi giày thể thao đế bệt, mang theo mũ, ô dù, nước uống để phòng thời tiết nắng mưa thất thường, vì quãng đường đi bộ tham quan khoảng 3km khá dài.

- Không được tự ý sử dụng các khu vui chơi do cá nhân quản lý, vận hành nhé. Nếu bạn muốn cho trẻ em, hay bản thân vui chơi thì hỏi giá vé, các thứ trước khi sử dụng.

- Du khách có thể đi xe máy hoặc ô tô cá nhân, đến nơi có chỗ gửi xe của công viên giá từ 5.000đ/xe máy - 30.000 đ/xe ô tô tùy loại.

3. Đối với các tổ chức, cá nhân làm kinh doanh, dịch vụ.

- Phải đăng kí hành nghề với cơ quan có thẩm quyền và cam kết chấp hành nội quy trong công viên.

- Làm kinh doanh, dịch vụ đúng nơi quy định, chấp hành sự sắp xếp, điều hành của cơ quan quản lý công viên và chính quyền địa phương.

- Phải có thái độ cư xử văn minh, lịch sự đối với du khách, không tranh giành, chèo kéo, nài ép, đeo bám và có hành vi thiếu văn hóa đối với các du khách.

4. Giá vé, giờ đóng – mở cửa

- Mở cửa từ thứ hai đến chủ nhật, bao gồm cả ngày nghỉ lễ.

- Mở cửa từ: 08:00 - 18:00 hàng ngày.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Phòng GD & ĐT ….                                       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trường ……                                                               Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NỘI QUY LỚP HỌC

Điều 1: Tôn trọng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Kính trọng người lớn, lễ phép với thầy cô giáo, hòa nhã với bạn bè; không đánh nhau gây mất đoàn kết trong lớp học; không nói tục, chửi bậy.

Điều 2: Thi đua học tốt: Đi học đúng giờ (có mặt ở trường trước 15 phút khi buổi học bắt đầu), Nghỉ học phải có lý do, phải có giấy xin phép được phụ huynh ký xác nhận; Học bài, làm bài tập trước khi đến lớp.

Điều 3: Đến lớp học: phải học bài và làm bài tập đầy đủ; phải có đủ đồ dùng học tập; đầu tóc, quần áo gọn gàng nghiêm túc, mặc đồng phục theo đúng quy định của nhà trường; giữ gìn vệ sinh chung của lớp của trường; không xả rác, vứt rác bừa bãi; có ý thức giữ gìn bảo vệ của công.

Điều 4: Học sinh có mặt trong lớp sau khi kết thúc hiệu lệnh báo hiệu bắt đầu tiết học. Trường hợp lớp chưa có giáo viên thì phải giữ trật tự, lớp trưởng hoặc bí thư lên báo cáo với ban giám hiệu.

Điều 5: Trong lớp trật tự chú ý nghe giảng, có ý thức tham gia xây dựng bài; không được nói chuyện riêng, làm việc riêng trong lớp. Chỉ được phát biểu hoặc trình bày ý kiến khi được giáo viên cho phép.

Điều 6: Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể.

Điều 7: Tất cả học sinh phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các điều trong nội quy học sinh. Nếu vi phạm tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT và quy định xử lý học sinh vi phạm của trường.

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG A

NỘI QUY, QUY ĐỊNH CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT A

Thư viện trường THPT A yêu cầu các cán bộ, nhân viên, học sinh trong trường khi đến thư viện cần thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định sau:

I. Nội quy chung

1. Yêu cầu bắt buộc

- Xuất trình Thẻ Cán bộ/Học sinh và check in qua đầu đọc mã vạch tại cửa ra vào.

- Tuân thủ các nội quy, quy định của Thư viện về tra tìm tài liệu, đọc, mượn, truy cập tài liệu, giữ gìn cơ sở vật chất, trang thiết bị.

- Phải giữ gìn tài liệu, trang thiết bị, tài sản, thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá trong ăn mặc, giao tiếp tại Thư viện.

- Không được dùng Thẻ của người khác và không cho người khác sử dụng Thẻ của mình.

- Không được làm hư hại, xáo trộn tài liệu, tài sản; không tự ý thay đổi các chương trình liên quan đến phần mềm trên máy tính.

- Không tự ý sao chụp tài liệu dưới mọi hình thức.

- Không được truy cập thông tin có nội dung không lành mạnh, sử dụng, khai thác, chuyển tải các nguồn tin bất hợp pháp, gây hại cho lợi ích Quốc gia.

- Trước khi chuyển công tác (đối với cán bộ, nhân viên) hoặc trước khi ra trường (đối với HS), cần phải trả các tài liệu, sau đó được cấp Giấy xác nhận “Đã trả hết sách Thư viện”.

- Học sinh phải học chương trình “Hướng dẫn sử dụng thư viện” mới được sử dụng tài liệu tại các phòng của Thư viện.

2. Trường hợp bị mất Thẻ

- Đối với học sinh cần phải làm đơn xin cấp lại Thẻ, có xác nhận của GVCN, sau đó xin xác nhận tại Thư viện để được cấp lại thẻ.

- Đối với cán bộ, nhân viên cần làm đơn xin cấp lại Thẻ, có xác nhận của Hiệu trưởng, sau đó xin xác nhận tại Thư viện để được cấp lại thẻ.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close