Soạn bài Nói và nghe - Luyện tập và vận dụng - Ôn tập Học kì 1 SGK Ngữ Văn 10 HK1 Kết nối tri thức - siêu ngắnChọn thực hiện theo nhóm học tập các nội dung nói và nghe sau đây Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa... Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Chọn thực hiện theo nhóm học tập một trong các nội dung nói và nghe sau: Nội dung 1 Video hướng dẫn giải Thảo luận về một vấn đề đời sống hoặc văn học có nhiều ý kiến khác nhau do các bạn tự chọn, dựa trên những hiểu biết và trải nghiệm riêng của mình (chú ý sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ). Phương pháp giải: - Giới thiệu ngắn gọn về vấn đề đời sống hoặc văn học. - Phân tích cụ thể, rõ ràng về vấn đề đời sống hoặc văn học, đồng thời có những ngữ liệu cụ thể, sinh động. - Đánh giá về vấn đề này. Lời giải chi tiết: VD: Bàn về thơ, nhà phê bình văn học Belinsky (1811- 1848) cho rằng: Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó là nghệ thuật. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên? Gợi ý bài làm: 1. Mở bài: Dẫn dắt và trích dẫn câu nói cần nghị luận, nêu vấn đề nghị luận: Giá trị của thơ. 2. Thân bài - Giải thích ý nghĩa câu nói: Vai trò của cuộc đời với thơ ca, giá trị của thơ ca là cả nội dung và hình thức nghệ thuật. - Thơ trước hết là cuộc đời. + Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của văn chương là gắn bó sâu sắc với cuộc sống và vì cuộc sống - giá trị nhân đạo. + Thơ được kết tinh bởi những rung động và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ với thế giới xung quanh nên chất liệu thơ chính là những chất liệu từ cuộc sống. Đó có thể là những sự vật hoặc từ chính cuộc đời nhà thơ. + Lấy dẫn chứng phân tích: Sang thu, Tây Tiến... phân tích chất liệu cuộc đời được sử dụng để sáng tạo bài thơ. + Đánh giá lại giá trị của thơ. - Thơ là nghệ thuật: + Nếu cuộc đời bước vào trong thơ mà không được trau chuốt sẽ thô sơ và không có tính nghệ thuật. + Tất cả chất liệu cuộc sống được phát hiện và chọn lựa đều phải được mài giũa mới trở thành hình ảnh thơ. + Nhà thơ thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật để đưa cuộc sống bình thường vào những bài thơ dạt dào cảm xúc + Dẫn chứng: thơ Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Huy Cận... 3. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa câu nói và rút ra bài học tiếp nhận văn học. Nội dung 2 Video hướng dẫn giải Giới thiệu và đánh giá về một tác phẩm văn học (thơ trữ tình, truyện thần thoại, sử thi, kịch bản chèo, tuồng dân gian....) theo danh mục được gợi ý trong các phần Củng cố, mở rộng sau mỗi bài học. Phương pháp giải: - Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tên tác giả,...). - Tóm tắt tác phẩm (vừa đủ để người đọc nắm được nội dung chính). - Phân tích cụ thể, rõ ràng về tác phẩm (chủ đề, nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng) với những cứ liệu sinh động. - Đánh giá về tác phẩm dựa trên các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục. - Khẳng định giá trị của tác phẩm. Lời giải chi tiết: Bài tham khảo 1: 1. Vài nét về tác giả Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ, một nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Với phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác ông đã tạo nên những tác phẩm rất có giá trị về mặt nội dung cũng như nghệ thuật và Chữ người tử tù là một tác phẩm như thế. 2. Giới thiệu về tác phẩm Chữ người tử tù - Xuất xứ: Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng đăng trên tạp chí Tao đàn số 29 vào năm 1938, sau đó đã được in trong tập Vang bóng một thời và được đổi tên thành Chữ người tử tù. - Nội dung: Trong truyện ngắn này, Nguyễn Tuân tập trung ca ngợi cái đẹp, cái tài, cái thiên lương. + Nhân vật trung tâm mà tác giả tập trung khắc họa đó là Huấn Cao – một tử tù của triều đình nhưng đặc biệt nổi tiếng khắp vùng với biệt tài viết chữ. Đó là một con người trọng nghĩa khí, là hiện thân của cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. + Không chỉ có nhân vật Huấn Cao mà tấm lòng trong sáng, biết thưởng thức và giữ gìn cái đẹp còn được thể ở nhân vật thầy thơ lại và viên quản ngục. Đặc biệt, tấm lòng của viên quản ngục được Nguyễn Tuân coi là “một thanh âm trong trẻo chen vào một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ". - Nghệ thuật: Chữ người tử tù còn đặc biệt xuất sắc bởi những giá trị nghệ thuật mà tác giả xây dựng. + Đầu tiên phải kể đến nghệ thuật tạo tình huống truyện thật độc đáo đó là cuộc gặp gỡ chốn lao tù giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Trên bình diện xã hội họ là kẻ thù. Còn trên bình diện nghệ thuật, họ là những tri kỉ. Tình huống truyện độc đáo đã góp phần khắc họa rõ nét tính cách nhân vật và tô đậm chủ đề của tác phẩm. + Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng hết sức đặc sắc. Nhân vật được xây dựng từ cái nhìn tài hoa của người nghệ sĩ với bút pháp lãng mạn, đặt nhân vật trong mối liên hệ tương phản và cách miêu tả gián tiếp. + Nghệ thuật tạo dựng cảnh cho chữ. Tác giả đã sử dụng triệt để thủ pháp đối lập để miêu tả cảnh cho chữ “xưa nay chưa từng có”, qua đó góp phần khắc họa rõ nét tính cách nhân vật. Nguyễn Tuân còn đặc biệt cho thấy mình là bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ với việc sử dụng một loạt các từ Hán Việt rất đắt giá tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính và bi tráng. 3. Tổng kết Truyện ngắn Chữ người tử tù là một tác phẩm xuất sắc cho thấy tài năng nghệ thuật tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Nhà văn Nam Cao từng nhận định sâu sắc: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, mà chỉ có thể là những tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than. Nhà văn không được trốn tránh sự thật mà phải đứng trong lao khổ để đón lấy những tiếng vang động của đời”. Quan điểm ấy nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, cho thấy nghệ thuật chân chính phải hướng đến con người, mang giá trị nhân sinh. Quan điểm này cũng là kim chỉ nam cho tác phẩm Bến quê, nơi từng câu chữ, từng hình tượng nhân vật đều phảng phất tiếng nói trân trọng đời sống bình dị, tình cảm con người. Nhân vật trung tâm Nhĩ là hình ảnh tiêu biểu của người nghệ sĩ và con người giàu lòng yêu thương. Ông từng đi nhiều vùng đất, trải qua đủ cung bậc cuộc sống, nhưng cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh. Từ giường bệnh, Nhĩ nhìn bãi bồi bên kia sông – bến quê thân thuộc – và mới nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của nơi mình sinh ra. Đồng thời, Nhĩ nhận ra nỗi vất vả và tình yêu thầm lặng của người vợ, Liên, với sự hy sinh và chăm sóc tận tụy suốt đời cho chồng. Hình ảnh bến quê mang nhiều giá trị biểu tượng. Đó là những cành hoa bằng lăng tím thẫm, bãi bồi màu mỡ phơi mình bên sông, chuyến đò ngang mỗi ngày; là người vợ đảm đang, thủy chung; là bầy trẻ tinh nghịch và hàng xóm tốt bụng. Tất cả tạo nên một không gian thân thương, ấm áp, vừa là điểm tựa bình yên, vừa là nơi khởi nguồn cho khát vọng được trân trọng, yêu thương và bảo vệ. Nhân vật Nhĩ chiêm nghiệm rằng con người phải vượt qua vòng vèo, chùng chình để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống. Với cách xây dựng nhân vật và tình huống truyện độc đáo, Nguyễn Minh Châu đã khắc họa tâm lý tinh tế của Nhĩ. Dù từng đi khắp nơi, giờ đây chỉ nhìn từ cửa sổ, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp quê hương và tình yêu thầm lặng của vợ. Những chi tiết như việc Liên vá áo, chăm sóc, âu yếm cho chồng hay bầy trẻ “chua lòm mùi nước dưa” đều mang tính biểu tượng về sự tần tảo, ân nghĩa và nét thuần phác của đời sống quê hương. Khi Nhĩ nhờ con trai thực hiện ước muốn đặt chân lên bãi bồi bên kia sông nhưng thất bại, nhà văn khéo léo phản ánh nghịch lý cuộc đời: những giá trị quan trọng thường bị lướt qua, và con người phải nỗ lực để nhận ra, trân trọng chúng. Nhan đề Bến quê cũng chính là thông điệp nghệ thuật và nhân sinh: thức tỉnh con người trân trọng vẻ đẹp bình dị của quê hương, giá trị gia đình, tình cảm con người và sự giản dị mà sâu sắc của cuộc sống. Nguyễn Minh Châu từng nói: “Văn học và nghệ thuật là hai đường tròn đồng tâm, tâm điểm là con người”. Điều này thể hiện rõ qua Nhĩ, người trải qua bôn ba cuộc đời, cuối cùng mới tìm thấy chốn bình yên, nơi gia đình và quê hương là điểm tựa tinh thần vững chắc. Truyện ngắn Bến quê không chỉ phản ánh hiện thực đời sống mà còn gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về con người và giá trị nhân sinh. Nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu thể hiện qua hình ảnh giàu biểu tượng, dòng tâm lý tinh tế, tình huống truyện độc đáo và giọng trần thuật đầy cảm xúc. Tác phẩm nhắc nhở mỗi người về sự trân trọng gia đình, về những vẻ đẹp giản dị mà đích thực trong cuộc sống, đồng thời khẳng định giá trị chân chính của nghệ thuật: hướng tới con người, vị nhân sinh và khơi gợi lòng nhân ái. Mùa thu với vẻ đẹp lãng mạn và trữ tình từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc trong thi ca Việt Nam. Hữu Thỉnh – một nhà thơ trưởng thành từ môi trường quân đội – với ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế và giàu cảm xúc, đã vẽ nên một bức tranh Sang thu vừa quen thuộc, vừa mới lạ, phản ánh những rung động tâm hồn trước thiên nhiên, đồng thời gửi gắm những suy ngẫm về cuộc đời. Bài thơ tập trung khai thác vẻ đẹp thiên nhiên mùa thu kết hợp với cảm xúc chủ thể trữ tình. Hữu Thỉnh sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh ẩn dụ và nhân hóa để làm nổi bật vẻ đẹp tinh tế của mùa thu. Ví dụ, hình ảnh “hương ổi” trong câu:
cho thấy tác giả không trực tiếp mô tả sắc thu, mà gợi liên tưởng cho người đọc về hương thơm nồng nàn, sắc vàng ươm của những ngày cuối hạ đầu thu. Động từ mạnh “phả” tạo hiệu ứng bùng tỏa, khiến thiên nhiên trở nên sống động và gần gũi. Những dấu hiệu khác của mùa thu được Hữu Thỉnh nhận thức tinh tế qua đa giác quan, như hình ảnh sương thu:
Sương thu được nhân hóa với từ láy tượng hình “chùng chình”, diễn tả chuyển động chậm rãi, nhè nhẹ, mang đến nhịp điệu êm đềm, thơ mộng. Từ “se” và “về” hiệp vần, tạo cảm giác thanh bình, dễ chịu như chính cảm xúc của mùa thu len lỏi vào tâm hồn con người. Không gian thiên nhiên trong Sang thu được mở rộng ở chiều cao, chiều rộng và chiều sâu của bầu trời, dòng sông, cánh chim và đám mây:
Dòng sông màu thu “dềnh dàng” gợi cảm giác chậm rãi, êm đềm, trôi như cố tình để người đọc cảm nhận rõ nét sự chuyển giao từ hè sang thu. Đối lập với sự trôi chậm của dòng sông là “vội vã” của đàn chim bay về phương Nam, tạo nhịp điệu đối lập sinh động. Động từ “vắt” đặt cho mây cũng nhân hóa, làm mây trở nên chủ động, tinh nghịch. Những hình ảnh này khắc họa rõ nét sự biến chuyển tinh tế của cảnh vật và nhịp điệu giao mùa. Hữu Thỉnh còn thể hiện sự chuyển hóa cảm xúc của con người qua thiên nhiên, khi những dư âm của mùa hạ vẫn còn: nắng, mưa, sấm. Các từ như “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “bớt bất ngờ” diễn tả thời lượng và mức độ hiện diện, đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng cho những biến động, thử thách trong cuộc sống. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” là ẩn dụ cho những con người đã trải qua nhiều gian truân, từng trải, từng bị thử thách nhưng vẫn vững vàng. Bài thơ không dựa vào màu sắc rực rỡ hay miêu tả chi tiết, mà sử dụng những nét chấm phá tinh tế để gợi hồn thu: nhẹ nhàng, trong sáng, êm đềm và mênh mang. Thông qua Sang thu, Hữu Thỉnh đã kết hợp tài tình giữa cảm xúc con người và thiên nhiên, làm nổi bật chủ thể trữ tình và mang đến cho người đọc trải nghiệm thẩm mỹ sâu sắc. Như vậy, giá trị nghệ thuật của Sang thu không chỉ nằm ở hình ảnh, nhịp điệu hay âm hưởng thơ, mà còn ở khả năng khơi gợi cảm xúc, rung động tâm hồn và suy ngẫm về cuộc đời, về sự chuyển giao tinh tế của thiên nhiên và cuộc sống.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Nội dung 3 Video hướng dẫn giải Lớp học của bạn đã có những hoạt động trải nghiệm gì trong thời gian qua? Hãy lập đề cương cho bản báo cáo kết quả của một trong những hoạt động trải nghiệm đó và trình bày trước nhóm học tập Phương pháp giải: - Bao quát được diễn biến của cuộc thảo luận về cuộc trải nghiệm (những ý kiến đã nêu, những điều đã được làm rõ, những điều cần được trao đổi thêm...). - Thể hiện được thái độ tán thành hay phản đối trước những ý kiến đã phát biểu. - Tôn trọng người đối thoại để cùng tìm tiếng nói chung về vấn đề. Lời giải chi tiết: Bài tham khảo 1: Đề cương báo cáo kết quả hoạt động trải nghiệm của lớp 10A1 1. Số lượng người tham gia Tổng số 45 người trong đó: + Học sinh của lớp là 40 thành viên. + Giáo viên và đại biểu của lớp là 5 người. 2. Kết quả - Buổi trải nghiệm diễn ra an toàn, đúng kế hoạch thực tế. - Học sinh của lớp tham gia vui vẻ. - Hăng say khám phá những điều lý thú, bổ ích, tích lũy được nhiều điều hay về truyền thống. lịch sử, tham quan và tìm hiểu rõ về các di tích, danh lam thắng cảnh. - Bày tỏ lòng biết ơn đến các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì độc lập dân tộc. 3. Bài học kinh nghiệm - Lớp cần tích cực nêu cao tinh thần đoàn kết. - Cần hăng hái tham gia các hoạt động hơn. - Mong muốn các bậc phụ huynh và GVCN tạo ra những chuyến đi ý nghĩa.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Trong những hoạt động tập thể, trò chơi kéo co được mọi người vô cùng ưa chuộng và yêu thích. Môn thể thao này vừa giúp mọi người rèn luyện sức khỏe, vừa nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết. Ở bài thuyết minh này, tôi sẽ cung cấp cho các bạn quy tắc, luật lệ của môn kéo co để chúng ta có thêm hiểu biết và chấp hành đúng yêu cầu của trò chơi. Để bắt đầu một trận đấu kéo co, chúng ta không thể thiếu dây thừng. Kích thước của dây thừng thông thường dao động từ 7 đến 15 mét, có thể dài hoặc ngắn hơn tùy thuộc vào số lượng người tham gia. Giữa dây sẽ có một sợi dây đỏ để dùng để đánh dấu, phân cách hai đội.
Đối với bộ môn kéo co, mọi đối tượng đều có thể tham dự nếu đáp ứng tốt về thể lực. Số lượng người thi đấu nằm trong khoảng từ 10 đến 16 người, thậm chí nhiều hơn, chia làm hai đội. Vị trí đứng tùy thuộc vào sự sắp xếp của mỗi đội chơi. Luật chơi của bộ môn kéo co vô cùng dễ hiểu và dễ thực hiện. Trước hết, chúng ta cần chuẩn bị đầy đủ các vật dụng cần thiết như gắng tay, giày thể thao nhằm đảm bảo an toàn cho cơ thể. Tiếp theo, kẻ vạch phân chia ranh giới giữa hai đội. Sau khi các thủ tục chuẩn bị hoàn tất, người chơi vào tư thế sẵn sàng: tay nắm chặt dây, chân chùng xuống. Khi nghe hiệu lệnh của trọng tài thì tiến hành kéo dây về phía mình. Đội nào kéo dây đỏ về vượt qua vạch kẻ trước thì giành chiến thắng. Mặc dù hiện nay có không ít những trò chơi, bộ môn thể dục hấp dẫn khác nhưng kéo co vẫn là môn thể thao được mọi người yêu thích trong các hoạt động tập thể. Hi vọng những quy tắc, luật lệ mà tôi nêu trên sẽ giúp ích cho các bạn. Hiện nay, dã ngoại là hoạt động tập thể được nhiều người ưa thích. Có rất nhiều địa điểm du lịch, danh lam thắng cảnh mà chúng ta có thể tham quan. Đối với những người ưa khám phá, mạo hiểm thì các hoạt động tập thể, trải nghiệm ở địa bàn rừng núi là sự lựa chọn hàng đầu. Để có một chuyến đi dã ngoại an toàn, chúng ta cần lưu ý một số quy tắc như sau: Thứ nhất, cần lên kế hoạch, lộ trình cụ thể cho buổi dã ngoại. Việc làm này là vô cùng cần thiết bởi nó sẽ tránh cho bạn và mọi người những rủi ro không đáng có trong suốt chuyến đi. Thứ hai, cần lựa chọn trang phục phù hợp. Khi tham gia các hoạt động tập thể ở rừng núi, chúng ta cần mặc quần áo dài tay, đi giày cao cổ hoặc những trang phục gọn gàng, ôm sát cơ thể để tránh bị côn trùng cắn. Đặc biệt, không nên chọn đồ vật, quần áo sáng màu, quá rực rỡ vì sẽ thu hút các loài côn trùng, thú dữ. Thứ ba, nâng cao cảnh giác khi đi đường rừng. Trong rừng ẩn chứa rất nhiều rủi ro, nguy hiểm. Chúng ta sẽ không thể biết được có bao nhiêu loài động vật đang ẩn nấp sau các tán cây cao và rậm. Hãy quan sát xung quanh để tránh bị rắn, rết cắn nhé! Thứ tư, cần chuẩn bị các vật dụng, túi thuốc dự phòng. Trong các hoạt động tập thể, chúng ta không tránh khỏi những lúc bị trầy xước, chấn thương. Chính vì vậy, một túi thuốc bao gồm: bông, băng, cồn sát trùng, băng dính cá nhân, thuốc cảm cúm, thuốc đau bụng,... là hết sức cần thiết. Thứ năm, ta cần chọn vị trí thoáng đãng, cao ráo để tiến hành cắm trại hoặc tổ chức các hoạt động tập thể. Tránh những nơi ẩm thấp, có cây, gỗ mục vì đó là nơi sinh sống ưa thích của các loại côn trùng.
Cuối cùng, tuyệt đối không tự ý đi một mình hoặc tách đoàn đi riêng lẻ. Mọi người nên đi cùng nhau để hỗ trợ trong một vài trường hợp cần thiết. Trên đây là một số quy tắc an toàn được đúc rút từ những người có kinh nghiệm. Các bạn có thể tham khảo và trang bị cho bản thân những vật dụng hữu ích. Một buổi hoạt động tập thể chỉ vui vẻ khi mọi thành viên được an toàn.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
|
Danh sách bình luận