Soạn bài Đọc kết nối chủ điểm Xuân Diệu SGK Ngữ văn 12 tập 1 Chân trời sáng tạoTrong đoạn trích, tác giả đã dùng những từ ngữ, hình ảnh nào để bàn về đặc điểm sáng tác của Xuân Diệu? Theo bạn, thơ Xuân Diệu thuộc phong cách sáng tác cổ điển hay lãng mạn? Căn cứ vào đâu để khẳng định như vậy? Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Câu 1 Trả lời Câu hỏi 1 Sau khi đọc trang 15 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Trong đoạn trích, tác giả đã dùng những từ ngữ, hình ảnh nào để bàn về đặc điểm sáng tác của Xuân Diệu? Theo bạn, thơ Xuân Diệu thuộc phong cách sáng tác cổ điển hay lãng mạn? Căn cứ vào đâu để khẳng định như vậy? Phương pháp giải: Đọc kĩ nội dung văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 - Phong cách lãng mạn - Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời. Ông chính là “ông hoàng của tình yêu” luôn tràn đầy sự tươi mới, yêu đời mãnh liệt.
Xem thêm
Cách 2
- Những từ ngữ, hình ảnh bàn về đặc điểm sáng tác của Xuân Diệu: + Lối dùng chữ đặt câu quá Tây, ý tứ mượn trong thơ Pháp + Dáng dấp yêu kiều, cốt cách phong nhã, vẻ đài các hiền lành của điệu thơ + Say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi + Hồn thơ phức tạp, rung động tinh vi - Căn cứ vào đặc điểm thơ, thơ Xuân Diệu thuộc phong cách sáng tác lãng mạn
Xem thêm
Cách 2
Câu 2 Trả lời Câu hỏi 2 Sau khi đọc trang 15 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo Bạn nhận xét gì về cách tác giả so sánh hình ảnh “con cò" trong thơ Xuân Diệu với hình ảnh “con cò" trong thơ Vương Bột? Phương pháp giải: Đọc kĩ nội dung văn bản Lời giải chi tiết: Cách 1 “Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều (Lạc hà dữ cô lộ tề phi: Thu Thủy cộng trường thiên nhất sắc, dịch là: Ráng chiều và cánh cò đơn chiếc lặng bay: Nước mùa thu cùng trời mùa thu một sắc) đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới” (Hoài Thanh). Vì Vương Bột quan sát, còn Xuân Diệu vừa quan sát vừa cảm nhận nên có sự cách biệt ấy.
Xem thêm
Cách 2
Cách tác giả so sánh hình ảnh “con cò” trong thơ Xuân Diệu với hình ảnh con cò trong thơ Vương Bột: Con cò của Vương Bột lặng lẽ bay ráng chiều; con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân à có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới.
Xem thêm
Cách 2
Câu 3 Trả lời Câu hỏi 3 Sau khi đọc trang 15 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo “Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy". Hãy tìm hiểu thêm về phong trào Thơ mới để giải thích nhận định này của tác giả đoạn trích. Phương pháp giải: Đọc thêm về phong trào Thơ mới để giải thích nhận định của tác giả Lời giải chi tiết: Cách 1 - Xuân Diệu đến với thơ ca và có những đóng góp mới mẻ về thi pháp với những cách tân nghệ thuật giàu sáng tạo. Nhưng sự cách tân của Xuân Diệu vẫn có gốc rễ rất sâu trong thơ ca truyền thống. - Xuân Diệu là một trí thức Tây học, đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp. Đối với thơ ca Pháp, ông đặc biệt chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng. - Thơ Xuân Diệu thể hiện quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính nhạc của thơ. → Ông là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Niềm say mê mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu ở Xuân Diệu đã dẫn đến một cách tân đặc sắc về cảm hứng, thi tứ, bút pháp; xây dựng hình ảnh, cú pháp, nhịp điệu …
Xem thêm
Cách 3
Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới: Thơ của ông có sự mới lạ về cả nội dung và hình thức. + Về nội dung, khác với các cây bút lãng mạn đương thời luôn tìm cách đối lập với cuộc đời hoặc thoát ly thực tại, ông muốn khẳng định cái tôi trong quan hệ gắn bó với cuộc đời, muốn được sống thật mạnh mẽ. + Về nghệ thuật, nhà thơ chịu ảnh hưởng của thơ ca tượng trưng Pháp và đã tìm đến những cách diễn đạt mới lạ, đổi mới ngôn ngữ. Nhưng sự cách tân này vẫn có gốc rễ từ trong tâm thức dân tộc và vốn văn hóa của thơ ca truyền thống.
Xem thêm
Cách 3
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Xuân Diệu (Hoài Thanh – Hoài Chân)
+
Xuân Diệu Hoài Thanh – Hoài Chân […] Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tử người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta. Đọc những câu: Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm, Sao lại trách người thơ tình lơi lả? hay là: Chính hôm nay gió dại tới trên đồi, Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát; Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt? Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi! ta thấy cái hay ở đây không phải là ý thơ, mà chính là cái lối làm duyên rất có duyên của Xuân Diệu, cái vẻ đài các rất hiền lành của điệu thơ. Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Vả chăng tinh thần một nòi giống có cần gì phải bất di dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt hôm qua? Nêu ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ, rồi bảo: Người Việt Nam phải như thế, là một điều tối vô lí. Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này – Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết. Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi. Sau khi đọc đi đọc lại nhà thơ có tâm hồn phức tạp này, sau khi đã tìm kiếm Xuân Diệu hoài, tôi thấy đây mới thực là Xuân Diệu. Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý đến: Những luồng run rẩy rung rinh lá... cùng cái: Cành biếc run run chân ý nhị. Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy: Linh lung bóng sáng bỗng rung mình. và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này: Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời; Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi! Long lanh tiếng sỏi vang vang hận: Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người. Cũng chỉ Xuân Diệu mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh: Mây biếc về đâu bay gấp gấp, Con cò trên ruộng cánh phân vân. Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới. […] (In trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân, NXB Văn học, Hà Nội, 1988, tr. 103 – 105)
- Thu gọn
|







Danh sách bình luận