Soạn bài Con gà thờ SGK Ngữ văn 12 tập 1 Chân trời sáng tạo

Bạn cho biết tục thờ cúng thường gắn với thái độ, tình cảm gì? Việc cung cấp các thông tin liên quan đến tục lệ “lên lão" trong đoạn này có tác dụng gì đối với thiên phóng sự.

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Tác phẩm Việc làng xoáy sâu vào vấn đề ăn uống, tiền bạc của tầng lớp nông dân, kể cả những kẻ có chức dịch ở vùng nông thôn Bắc Bộ để lột tả hết sự tréo ngoe và khổ cực trong cuộc sống của chính họ.

Trước khi đọc

Trả lời Câu hỏi Trước khi đọc trang 100 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Bạn hiểu gì về tục thờ cúng của người Việt?

Phương pháp giải:

Liên hệ bản thân để trả lời câu hỏi

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Tục thờ cúng llà một phong tục truyền thống của người Việt, được lưu truyền qua nhiều thế hệ và thường gắn với sự thành tâm, sùng bái thần linh. 

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Tục thờ cúng tổ tiên là một phần quan trọng của văn hóa dân gian Việt Nam. Nó kết hợp ý thức về tổ tiên và tình cảm biết ơn, tưởng nhớ đối với cội nguồn, quá khứ. Dưới góc độ nghi lễ, thờ cúng là việc thực hành một loạt động tác như khấn, vái, quì, lạy của người gia trưởng, tộc trưởngThờ cúng tổ tiên thể hiện sự phản ánh hoang đường quyền hành của người gia trưởng và được thực hiện theo quy định của quan niệm, phong tục và tập quán của từng cộng đồng, dân tộc.

Tục thờ cúng thường gắn với

1. Lòng thành kính và tôn nghiêm:

- Thể hiện sự tôn trọng đối với các vị thần linh, tổ tiên, những người có công với đất nước, gia đình.

- Mong muốn được cầu phước, cầu an, bày tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ.

2. Lòng biết ơn:

- Tưởng nhớ đến công lao của những người đã khuất, những người có công với gia đình, đất nước.

- Biết ơn những gì họ đã hy sinh cho thế hệ sau.

3. Lòng tin vào thế giới tâm linh:

- Tin tưởng vào sự tồn tại của các vị thần linh, tổ tiên.

- Mong muốn được phù hộ, che chở trong cuộc sống.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 1

Trả lời Câu hỏi 1 Trong khi đọc trang 101 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Chú ý nhận định "đáng lẽ cũng là bậc sướng"

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn đầu văn bản

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Từ "đáng lẽ": để mô tả một những gì sẽ xảy ra theo mong đợi ban đầu, nhưng thực tế lại khác.

Qua đây, người đọc có thể dự đoán được cuộc sống của nhân vật ông chủ nhà trọ hiện tại và điều tác giả đang muốn nhấn mạnh

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- “Đáng lẽ”: Đây là một cụm từ chỉ sự mong đợi hoặc kỳ vọng. Nó ám chỉ rằng có một điều gì đó nên xảy ra, nhưng không thực sự đã xảy ra.

- “Cũng là bậc sướng”: Đây là phần thể hiện sự phân vân và suy ngẫm. Nó cho thấy rằng mặc dù không phải lúc nào chúng ta cảm thấy hạnh phúc, nhưng thực tế là có những khoảnh khắc đáng quý trong cuộc sống.

Trong tác phẩm “Con gà thờ” của Ngô Tất Tố, nhận định “đáng lẽ cũng là bậc sướng” phản ánh một thực tế xã hội nông thôn Việt Nam, nơi mà dù có điều kiện kinh tế khá giả nhưng vẫn phải chịu nhiều áp lực từ những tục lệ không còn phù hợp. 

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 2

Trả lời Câu hỏi 2 Trong khi đọc trang 101 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Việc cung cấp các thông tin liên quan đến tục lệ “lên lão" trong đoạn này có tác dụng gì đối với thiên phóng sự.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Việc cung cấp các thông tin liên quan đến tục lệ “lên lão" đã giúp thiên phóng sự tăng thêm tính chân thực, cụ thể hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Giúp người đọc hình dung đầy đủ thông tin về tục lệ lên lão, tăng tính chân thực hấp dẫn cho việc lên lão.

Việc cung cấp thông tin về tục lệ “lên lão” trong đoạn văn không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh và đời sống văn hóa của làng quê mà còn làm nổi bật được tính cách và quan điểm của nhân vật “ông chủ” - người vừa muốn tuân thủ truyền thống nhưng cũng không kém phần cầu kỳ và đua đòi.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 3

Trả lời Câu hỏi 3 Trong khi đọc trang 104 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Câu này là lời kể hay lời nhận xét, bình luận?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Lời bình luận

Trong khi đọc 4

Trả lời Câu hỏi 4 Trong khi đọc trang 105 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Các chi tiết trong đoạn này thể hiện điều gì trong cách đối xử với gà và với người của nhân vật “ông chủ"?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Ông chủ coi trọng con gà cúng hơn bà cụ - bà mẹ của ông ta. Từ đó cho thấy, ông chủ là người mê tín dị đoan, coi trọng việc cúng bái hơn là chăm sóc người mà đẻ ra chính bản thân mình. Ông ta mải chạy theo hủ tục, lệ làng lạc hậu, có thể thấy rõ qua việc ông ta đối xử với con gà và với bà mẹ của mình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Ông chủ quan tâm đối đãi với con gà còn hơn cả con người – mẹ của ông.

Các chi tiết trong đoạn văn thể hiện rõ sự mâu thuẫn trong cách đối xử của “ông chủ” với gà và với người. Mặc dù “ông chủ” có điều kiện kinh tế tốt nhưng lại quá chú trọng vào việc chuẩn bị con gà theo đúng tục lệ, thể hiện sự cầu kỳ và lòng tự trọng của bản thân trong mắt làng xóm. Điều này cũng phản ánh một phần văn hóa và xã hội nông thôn, nơi mà việc giữ gìn truyền thống và danh dự gia đình có thể chiếm ưu tiên hơn cả mối quan hệ giữa người với người.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong khi đọc 5

Trả lời Câu hỏi 5 Trong khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Việc tác giả thuật lại một cách chi tiết cách luộc gà nhằm mục đích gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Giúp cho thiên phóng sự chân thực và hấp dẫn hơn qua cách luộc gà độc đáo.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Giúp cho thiên phóng sự chân thực và hấp dẫn hơn qua cách luộc gà độc đáo.

Việc tác giả mô tả chi tiết cách luộc gà không chỉ làm cho câu chuyện trở nên sinh động và hấp dẫn hơn mà còn nhấn mạnh sự chú trọng đến nghi lễ và hình thức bên ngoài, thay vì giá trị bên trong của con người và mối quan hệ giữa họ. Qua đó, Ngô Tất Tố đã phê phán những hủ tục lạc hậu và sự giả tạo trong xã hội, đồng thời thể hiện sự đồng cảm với những người dân làng phải chịu đựng những áp lực không cần thiết từ những tục lệ cũ kỹ. Đây là một trong những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải qua tác phẩm của mình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 1

Trả lời Câu hỏi 1 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết văn bản trên thuộc thể loại phóng sự?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Văn bản đã ghi lại những sự việc trong tục “lên lão" của một ngôi làng nọ, tục lệ này có liên quan đến tín ngưỡng của làng này. 

- Có số liệu xác thực về số cân nặng của con gà dùng để thờ cúng.

- Miêu tả hành động luộc gà rất độc đáo.

- Thủ pháp tâm lí và cách miêu tả cận cảnh.

Xem thêm
Cách 2

Dấu hiệu:

- Sự việc trong tục “lên lão" của một ngôi làng nọ, tục lệ này có liên quan đến tín ngưỡng của làng này. 

- Có số liệu xác thực về số cân nặng của con gà dùng để thờ cúng.

- Miêu tả hành động luộc gà rất độc đáo.

- Thủ pháp tâm lí và cách miêu tả cận cảnh.

Xem thêm
Cách 2

Sau khi đọc 2

Trả lời Câu hỏi 2 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Nhân vật “ông chủ" mua đôi gà cúng về để  làm tục lệ “lên lão"

- Nhân vật “ông chủ" chăm nuôi đôi gà cúng và yêu cầu mọi người trong gia đình phải gọi “gà" là “người"

- Đôi gà cúng sống sót qua trận gió bắc.

- “Ông chủ" nuôi gà theo phương pháp bào chế: luyện cám như luyện thuốc tễ và đem viên lại mỗi viên độ lớn bằng đầu ngón tay và mớm cho gà ăn

- Đôi gà lớn nhanh và đạt được số cân nặng đúng như ước mong của ông chủ khiến ông ta rất hài lòng, “ông chủ" cảm thấy mãn nguyện với tục “lên lão" của mình

Xem thêm
Cách 2

Trong tác phẩm “Con gà thờ” của Ngô Tất Tố, các sự việc chính được thuật lại theo trình tự như sau:

1. Ông chủ nhà trọ chuẩn bị cho lễ “lên lão” với việc sửa soạn cỗ xôi và con gà thờ.

2. Mô tả chi tiết về việc chọn gà và quá trình chăm sóc gà của ông chủ.

3. Sự kiện ông chủ đem gà đi cúng và phản ứng của dân làng.

Xem thêm
Cách 2

Sau khi đọc 3

Trả lời Câu hỏi 3 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Xác định ngôi kể, điểm nhìn trong văn bản và nêu tác dụng của ngôi kể, điểm nhìn ấy.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

- Ngôi kể: thứ nhất

- Điểm nhìn: nhân vật trong văn bản

→ Tác dụng: Người kể chuyện xưng “tôi" đã trực tiếp kể lại những gì đã chứng kiến, trải qua. 

Sau khi đọc 4

Trả lời Câu hỏi 4 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Liệt kê một số ví dụ về lời miêu tả, lời kể, lời bàn luận - trữ tình của nhân vật “tôi" và nêu tác dụng của cách kết hợp miêu tả với trần thuật trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

“Ở thôn quê, như vậy cũng là tiên cách. Quan bất phiền, dân bất nhiễu, suốt năm lúc nào cũng ung dung.”

→ Nhân vật “tôi" bàn luận về “ông chủ"

“Đôi gà mới lạ làm sao! Nó lớn bằng con chim câu và trọc lông lốc như đầu ông sư. Từ cổ đến đuôi toàn là thứ thịt đỏ hỏn, lơ thơ điểm ít sợi lông tơ. Mỗi con ở hai vút cánh, đều có hai cái lông cánh lớn bằng vảy ốc và cong vểnh lên như miếng cau khô để ngửa.”

→ Nhân vật “tôi" miêu tả, kể và bàn luận về sự lạ lùng của đôi gà cúng

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Một số ví dụ về lời miêu tả, lời kể, lời bàn luận - trữ tình của nhân vật “tôi” có thể kể đến như:

- Miêu tả: “Gà sống mã đỏ, chân vàng, vặt lông và luộc chín rồi, còn đủ bốn cân.”

- Bàn luận: “Người ta đua nhau tự tăng số cân ấy lên, ít nhất cũng là năm cân, nhiều thì có khi sáu cân, bảy cân…”

Cách kết hợp miêu tả với trần thuật trong văn bản giúp người đọc hình dung rõ nét về không gian và nhân vật, đồng thời cảm nhận được sâu sắc hơn về tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật “tôi”.

- Ví dụ về lời miêu tả:

+ “Đôi gà mới lạ làm sao! Nó lớn bằng con chim câu và trọc lông lốc như đầu ông sư. Từ cổ đến đuôi toàn là thứ thịt đỏ hỏn, lơ thơ điểm ít sợi lông tơ. Mỗi con ở hai vút cánh, đều có hai cái lông cánh lớn bằng vảy ốc và cong vểnh lên như miếng cau khô để ngửa.”

+ “Đôi gà mỗi ngày mỗi thấy chóng lớn như thổi. Trong hơn một năm nó đã xù xù như hai con công. Lông đẹp, cánh đẹp, ống chân bóng nhoáng như ngà, tiếng háy ồ ồ như tiếng còi tàu thủy”.

+ …

- Ví dụ về lời kể:

+ “Ông ta luyện cám như luyện thuốc tễ và đem viên lại mỗi viên lớn độ bằng đầu ngón tay. Đến bữa, ông ấy ngậm nước trong miệng, rồi ôm con gà vào lòng, một tay vành hai mỏ gà, một tay ấn viên cám vào. Sau khi đã mớm cho nó hớp nước, ông ta sè sẽ lấy tay vuốt vào cổ nó, để cho viên cám từ từ trôi xuống dưới diều, mới lại bóp tiếp viên khác”

- Ví dụ về lời bàn luận:

+ “Ở thôn quê, như vậy cũng là tiên cách. Quan bất phiền, dân bất nhiễu, suốt năm lúc nào cũng ung dung.”

- Tác dụng của cách kết hợp miêu tả với trần thuật: giúp sự việc, câu chuyện được kể lại cụ thể hơn, người đọc có thể dễ dàng hình dung được sự lạ lùng của đôi gà cúng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 5

Trả lời Câu hỏi 5 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Nêu ít nhất hai ví dụ về chi tiết, sự kiện hiện thực và thái độ, đánh giá của người viết đối với các chi tiết đó. 

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

“Mỗi con gà đó, từ cổ đến chân có thể cao đến gần hai thước, hai cánh của nó cũng phải đến hơn một thước, tôi không hiểu rằng luộc vào nồi nào cho vừa, nhưng vẫn yên lặng để xem họ làm ra sao.”

→ Thái độ tò mò, muốn quan sát cách luộc con gà cúng của người viết

“Nửa đêm, cả sáu nồi nước đều sủi. Người ta liền bưng cả hai mâm gà xuống đó. Dưới hai ngọn đèn dây sáng như ban ngày, năm sáu cái gáo chĩa vào các nồi múc nước giội từ đầu gà trở xuống. Và cứ giội luôn như thế không lúc nào ngươi, hết nồi nước ấy, họ lại nấu nồi nước khác, trong bếp không lúc nào không sẵn nước sôi. Giội đến gần sáng thì gà vừa chín. Té ra cái kiểu luộc gà của họ là vậy."

→ Quá trình luộc con gà cúng

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Hai ví dụ về chi tiết, sự kiện hiện thực và thái độ, đánh giá của người viết:

1. Chi tiết: Ông chủ chọn gà - Thái độ: Phê phán sự cầu kỳ không cần thiết.

2. Sự kiện: Dân làng đánh giá cao gà lớn - Đánh giá: Phản ánh sự hư danh và giả tạo trong xã hội.

- Ví dụ 1: “Mỗi con gà đó, từ cổ đến chân có thể cao đến gần hai thước, hai cánh của nó cũng phải đến hơn một thước, tôi không hiểu rằng luộc vào nồi nào cho vừa, nhưng vẫn yên lặng để xem họ làm ra sao.”

=> Thể hiện sự tò mò của tác giả về cách luộc gà để làm lễ “lão làng”.

-  Ví dụ 2: “Dùng tre làm cốt và dây quấn ngoài, họ buộc cho hai con gà ngỏng cổ, giương cánh, đứng trên mặt mâm. Rồi họ lấy những ruột non, ruột già và bộ dạ dày của nó chằng từ đầu mỏ quặt sang hai cánh, làm cho con gà thành ra cái hình con phượng ngậm bức cuốn thư. Cả đám xúm lại ngắm nghía, ai đấy đều cho là được”.

=> Thể hiện sự ngạc nhiên trước cảnh “tạo hình” biến gà thành phượng để chuẩn bị thao tác luộc gà.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 6

Trả lời Câu hỏi 6 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Nêu chủ đề, thông điệp, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo và phân tích sự phù hợp giữa các yếu tố đó trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Chủ đề: lên án hủ tục cổ hủ của làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám

Cảm hứng chủ đạo: lên án, phê phán, chế giễu

Thông điệp: tác giả lên án những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào tâm trí những nông dân cần cù, chất phác nơi đây, họ xem đó là điều hiển nhiên phải thực hiện. Nếu như người dân thực hiện tốt những hủ tục đó, người đó sẽ được ca tụng hết lời. Thiên phóng sự đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của câu tục ngữ “Phép vua còn thua lệ làng", tố cáo những hủ tục cổ hủ của chốn làng quê và gửi gắm những giá trị nhân sinh sâu sắc, quý giá.

Tư tưởng: Thể hiện tư tưởng tiến bộ: con người và đời sống cần giải phóng khỏi những trói buộc vô nghĩa để hướng tới sự văn minh, tiết kiệm, hợp lý

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Chủ đề chính của văn bản là sự phê phán những hủ tục lạc hậu và sự giả tạo trong xã hội nông thôn.

Cảm hứng chủ đạo là lòng trắc ẩn và sự đồng cảm với những người dân làng.

Thông điệp mà tác giả muốn truyền đạt là sự cần thiết của việc đổi mới và bỏ qua những tục lệ không còn phù hợp.

Tư tưởng: tiến bộ 

- Chủ đề: Lên án thủ tục lạc hậu “lên lão làng” của một làng quê Việt Nam.

- Cảm hứng chủ đạo: lên án thủ tục lạc hậu qua đó muốn phê phán 1 vài thành phần mê tín dị đoan, coi trọng con gà hơn cả tính mạng con người.

- Thông điệp: Tác giả đã lên án phê phán sâu sắc những thủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân Việt Nam thưở xưa. Qua đó tác giả muốn gửi gắm những giá trị nhân văn sâu sắc.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Sau khi đọc 7

Trả lời Câu hỏi 7 Sau khi đọc trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ…) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản

Phương pháp giải:

Đọc kĩ văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Cách khai thác các tuyến nhân vật, các sự kiện, ngôi kể, điểm nhìn, cách tố cáo, phê phán… trong Con gà thờ hoàn toàn mới. Phóng sự Con gà thờ vẽ nên bức tranh hoàn chỉnh về những tồn tại tiêu cực nơi làng quê Việt Nam trong một thời gian rất dài và đến tận ngày nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Từ đó, nhà văn đưa ra thái độ phủ định gần như triệt để nhiều mặt tiêu cực của xã hội lạc hậu. Ông đặt ra vấn đề rằng, phải gấp rút cải tạo bộ mặt của làng quê Việt và giải phóng người nông dân khỏi chế độ phong kiến và ý thức hệ phong kiến thối nát.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Nghệ thuật viết phóng sự của Ngô Tất Tố thể hiện qua việc sử dụng ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn từ nhân vật “tôi”, thủ pháp miêu tả sinh động và trần thuật chặt chẽ. Cách sắp xếp sự kiện chi tiết và ngôn ngữ giàu hình ảnh giúp văn bản thêm phần chân thực và hấp dẫn, qua đó hiệu quả trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản.

Trong văn bản “Con gà thờ” tác giả Ngô Tất Tố đã vận dụng một cách khéo léo trong việc lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn kết hợp với các thủ thuật miêu tả, trần thuật… để thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Ngô Tất Tố đã tái hiện một bức tranh hoàn chỉnh về làng quê VN, nơi tồn tại những hủ tục lạc hậu và người dân tuân theo một cách thái quá, khó hiểu. Qua đó thể hiện ước nguyện muốn giải phóng người nông dân khỏi chế độ phong kiến và ý thức hệ phong kiến thối nát.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Bài tập sáng tạo

Trả lời Bài tập sáng tạo trang 107 SGK Văn 12 Chân trời sáng tạo

Vẽ một bức tranh về con gà thờ hoặc viết một đoạn văn (độ dài 200 chữ), thể hiện suy nghĩ của bạn về nhân vật ông chủ con gà thờ.

Phương pháp giải:

Dựa vào văn bản đọc hiểu

Đưa ra suy nghĩ của bản thân

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Con gà thờ là tác phẩm đặc tả những hủ tục xưa cũ. Trong đó, nhân vật ông chủ con gà thờ là nhân vật trung tâm. Những người dân có tư tưởng bị trói buộc như con trâu cọc sau lũy tre làng. Trăm năm bám rễ với những tư tưởng hủ lậu khiến họ chẳng dám dứt mình ra vì sợ bị coi khinh. Nếu như người ta không còn khổ sở vì bị lệ làng chèn ép thì lại tự làm khổ mình vì kèn cựa với những người xung quanh. Cỗ nhà anh to, cỗ nhà tôi sẽ phải to hơn. Ông chủ con gà thờ mải mê với việc phải nuôi đôi gà cúng nhà mình, chăm lo cho nó từng bữa ăn đến giấc ngủ đến nỗi quên mất người mẹ già đang ốm nặng. Ông ta mải mê chạy theo những cái danh phù phiếm mà quên mất nhìn vào những giá trị cốt lõi bên trong. Ngô Tất Tố dùng ngòi bút của mình để vạch ra những án nạn ở chốn cửa Khổng sân Trình, cụ phê phán tâm lý háo danh một cách tiêu cực của dân làng nhưng không vì thế mà lên án một cách phiến diện. Không chỉ là phê phán, cụ còn cảm thông với người dân, chỉ ra gốc rễ của những tư tưởng cổ hủ đó và vạch mặt những kẻ đã gây ra cảnh khổ cho họ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Trong “Con gà thờ” của Ngô Tất Tố, nhân vật ông chủ được khắc họa với những nét tính cách đặc trưng, phản ánh một bộ phận không nhỏ trong xã hội nông thôn Việt Nam thời bấy giờ. Ông chủ là người có điều kiện kinh tế khá giả, nhưng lại bị xiềng xích bởi những tục lệ lạc hậu, thể hiện qua việc chuẩn bị con gà thờ với nhiều cầu kỳ và tỉ mỉ đến mức quá mức cần thiết. Điều này không chỉ làm lộ rõ sự mâu thuẫn giữa việc giữ gìn truyền thống và cái tôi của bản thân, mà còn cho thấy sự chênh lệch giữa giá trị vật chất và tinh thần trong cách sống của ông. Nhân vật ông chủ cũng thể hiện sự đối lập giữa việc đối xử với con gà và với con người. Ông ta coi trọng con gà hơn cả mối quan hệ với những người xung quanh, phản ánh một thực trạng xã hội nơi hình thức và nghi lễ được đặt lên hàng đầu. Qua đó, Ngô Tất Tố đã phê phán một cách tinh tế những hủ tục và sự giả tạo, đồng thời bày tỏ sự đồng cảm với những người dân làng phải chịu đựng những áp lực từ những tục lệ không còn phù hợp với thời đại. Đoạn văn không chỉ là sự phản ánh về một nhân vật, mà còn là tiếng nói về một vấn đề xã hội sâu sắc, đáng để suy ngẫm.

Nhân vật ông chủ con gà thờ trong "Con gà thờ" không chỉ là một người nông dân mê tín mà còn là biểu tượng cho những người bị lệ thuộc vào hủ tục lạc hậu. Ông tin rằng việc thờ cúng con gà sẽ mang lại may mắn, nhưng lại bỏ qua việc chăm sóc mẹ mình, người đáng được ông hiếu thảo và quan tâm. Sự mù quáng và lệ thuộc này không chỉ khiến cuộc sống của ông trở nên vô nghĩa mà còn phản ánh một hiện thực đáng buồn về sự thống trị của hủ tục trong đời sống nông thôn. Ngô Tất Tố qua nhân vật này đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về việc cần phải nhìn nhận lại và loại bỏ những hủ tục lạc hậu để sống tốt đẹp hơn.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Con gà thờ (Nguyễn Tuân)
+

Con gà thờ

(trích Phóng sự Việc làm)

Nguyễn Tuân

Ở làng V.Đ, ông chủ nhà trọ của tôi đáng lẽ cũng là bậc sướng.

Dẫu không phải là tay cự phú, trong nhà cũng có gần sáu mẫu ruộng, một con trâu cái, một con lợn nái, thóc lúa đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia, tiền bạc tiêu đâu sẵn đó, nếu chỉ bảy, tám chục đồng trở lại, dù là việc bất thình lình, cũng không phải vay của ai.

Gia đình lại rất đề huề. Trên thì bà mẹ gần tám mươi tuổi, vẫn còn sáng suốt, tỉnh táo, không loà, không điếc, cũng không lẫn lộn, dưới thì đàn con sáu đứa, trai có, gái có, đứa nào cũng ngoan ngoãn dễ bảo. Cái cô con gái đầu lòng mới mười lăm tuổi, mà đã bốn năm ông tổng”, ông bá muốn hỏi cho con. Bà vợ ông ấy chưa nhận lời ai, sợ rằng gả chồng cho cô này, công việc đồng áng sẽ không đủ người coi sóc.

Tuy cũng là nhà làm ruộng, nhưng mà quanh năm chỉ tối, ông ấy không hề phải đặt cày lên vai. Cho đến những lúc sớm cạn, mà ta, người ta đánh nhau vỡ đầu vì tranh nhau cái bàu tát nước, ông ấy cũng chỉ đủng đỉnh ra đồng với cái cuốc bổ để xem chỗ nào còn nước, chỗ nào hết nước, đâu nên cấy trước, đâu nên cấy sau, và anh thợ cày có chịu làm việc, hay chỉ ngồi hàng, ngồi quán. Ấy đó, công việc ông ấy đại khái có vậy.

Ở thôn quê, như vậy cũng là tiên cách". Quan bất phiền, dân bất nhiễu, suốt năm lúc nào cũng ung dung.

Nhưng mấy tháng gần đây, ông ấy lại rất vất vả. Chỉ vì có hai con gà. Năm đó, ông ta chẳng đã năm mươi nhăm tuổi à? Theo tục làng dó, dàn ông năm mươi sáu tuổi mới lên lão làng.  Nhưng từ ba mươi tháng Một cái năm năm mươi nhăm tuổi, đã phải sửa một cỗ xôi và một con gà để đem ra đình lễ thần, rồi biểu dân. Cỗ xôi không quan hệ lắm, miễn được gạo trắng và dẻo, đóng vào đầy một chiếc quả “phù trang” của làng. Duy có con gà thì hơi cầu kì một chút.

Nó phải là thứ gà sống mã dỏ, chân vàng, vặt lông và luộc chín rồi, còn đủ bốn cân. Lệ làng định rõ như thế.

Thế nhưng ít ai chịu giữ đúng lệ. Người ta đua nhau tự tăng số cân ấy lên, ít nhất cũng là năm cần, nhiều thì có khi sáu cân, bảy cân, hễ gà càng lớn bao nhiêu, ông chủ càng được dân làng kính trọng bấy nhiêu. Nghe nói từ đời Thiệu Trị, Tự Đức

chỉ đó, có ông lão nuôi được con gà nặng bảy cân rưỡi, đến nay cả làng vẫn còn ca

tụng. Họ bảo ông đó đã hết lòng thành kính đối với quỷ thần, nhờ có quỷ thần phù

hộ, cho nên gà của ông ta mới lớn như vậy!

Dù chẳng dám mong nối gót được ông cụ ấy, nhưng ông chủ nhà trọ của tôi cũng vẫn cả quyết không chịu thua ai trong hồi gần đây. Hồi cuối năm kia, nghe nói ở dưới làng Hồ có giống gà tốt, ông ấy muốn mua, đã phải thân hành đến nơi để được tự mình kén chọn. Sau mười mấy ngày lăn lóc ở vùng Hồ, ông ấy vui mừng trở về với hai con gà con nhốt trong một chiếc lồng khiếu.

Đôi gà mới lạ làm sao! Nó lớn bằng con chim câu và trọc lông lốc như đầu ông sư. Từ cổ đến đuôi toàn là thứ thịt dỏ hơn, lơ thơ điểm ít sợi lông to. Mỗi con ở hai vút cánh, đều có hai cái lông cánh lớn bằng vảy ốc và cong vênh lên như miếng cau khô để ngửa.

Ông ấy báo với tôi rằng:

– Những nhà hà tiện thường chỉ nuôi có một con. Bởi vì lệ làng chỉ có một con. Nhưng mà con gà độ bốn, năm cân, tất nhiên phải nuôi trong khoảng hai năm trở ra, Giả sử nuôi đến nửa chừng, chẳng may nó chết, thì không thể nào mua đâu được nữa. Bởi vậy tôi phải mua phòng hai con. Nhờ giời, nếu có còn cả, thì, một con lễ đình, còn một con nữa tôi đem lễ chùa, chứ không dám bán mà cũng không dám để ăn. Vì rằng mình đã thành tâm nuôi về việc thờ, nếu đem bán hay để ăn, ấy là đắc tội với quỷ thần.

Tiếp đó, ông ấy lại khoe:

– Đôi gà này nếu đem bán cho, chẳng qua độ bốn, năm hào một con. Họ thấy mình chuốc, nên họ bóp mắt, bóp mũi. Tôi phải trả một đồng một con họ mới chịu bán. Tuy vậy, kể cũng không đắt. Giống gà này quý lắm. Nó mới bỏ mẹ mà đã lớn bằng bấy nhiêu. Nếu khéo nuôi, sau này có thể lớn bằng con ngỗng.

Luôn bữa đó, ông ta sửa lễ ra đình để trình với “đức thượng đẳng” là mình đã mua được gà, rồi đem cả đôi quý vật thả vào nếp chuồng ở đầu nhà trên.

Chuồng ấy, ông ta làm riêng để nhốt gà thờ, cũng mới hoàn thành độ một tháng trước. Cửa chuồng ngoảnh về phía nam. Cậm chuồng xây gạch làm bức tường con, để giữ rắn, chuột. Quanh chuồng lại có bốn bức rào bằng phên nứa, ngăn hẳn khu đất đầu nhà thành cái vườn vuông, để làm chỗ cho gà ăn... chơi.

Ròng rã gần hai năm nay, những việc lấy nước cho gà uống, tung thóc cho gà ăn và sớm mai mở cửa cho gà ra vườn, chiều tối bắc cầu cho gà lên chuồng, đều do tự tay ông ấy làm lấy, không dám giao cho người nào, vì sợ người khác làm không cẩn thận. Trừ ra cái việc hai ngày một lần múc nước, quét rửa chuồng gà thì anh thợ cày được thay.

Hồi cuối năm ngoái, một trận gió bắc nổi lên giữa khi ấm áp, đã gây cho làng V. Đ cái nạn gà toi. Ông ấy lập tức sai vợ sửa cái sỏ lọn và một mâm xôi làm lễ ra đình, để cúng các đấng “bộ hạ”, khấn ngài phù hộ cho gà nhà mình. Sau đó, bao nhiêu gà của làng ấy chết hết. Riêng đôi gà này vẫn được mạnh khoẻ như thường. Ông ấy cho là các đấng “bộ hạ” thiêng lắm.

Đúng như ông ấy ước mong. Đội gà mỗi ngày mỗi thấy chóng lớn như thổi. Trong hơn một năm nó đã xù xù như hai con công. Lông đẹp, cánh đẹp, ống chân bóng nhoáng như ngà, tiếng gáy ở ổ như tiếng còi tàu thuỷ. Nhưng cả hai con đều gầy như hạc.

Ông ấy cắt nghĩa như vậy:

– Cái phép nuôi gà cũng như nuôi lợn, lúc nó còn non, phải hãm cho nó dùng béo, thì nó mới lớn. Nếu khi nó còn dạng lớn mà đã béo rồi, ấy là nó sẽ không lớn được nữa.

Thế rồi, bắt đầu từ cuối tháng Tám, cái tháng cách ngày “lễ thờ” độ một trăm ngày, công việc nuôi gà của ông ta bỗng thấy thay đổi khác hẳn.

Khu vườn của gà không dùng đến nữa. Sớm ra, ông ấy bắt gà ở chuồng xuống lồng, tối đến ông ấy bắt gà ở lồng lên chuồng. Trong tháng đầu, đồ ăn của gà đã xen thêm ngô, mỗi ngày bốn bữa, hai bữa ngô và hai bữa thóc. Từ tháng thứ hai trở đi, hai món ấy đều bị bãi cả, ông ta cho gà ăn cám.

Lúc đầu còn là cám nấu với gạo đổ vào chậu sành để gà tự mổ. Hình như nó cũng thấy ngấy không ăn được nhiều, nên sau lại phải dùng theo phương pháp bào chế. Ông ta luyện cám như luyện thuốc tế và đem viên lại mỗi viên lớn độ bằng đầu ngón tay. Đến bữa, ông ấy ngậm nước trong miệng, rồi ôm con gà vào lòng, một tay vành hai mỏ gà, một tay ấn viên cám vào. Sau khi đã móm cho nó hớp nước, ông ta sè sẽ lấy tay vuốt vào cổ nó, để cho viên cám từ từ trôi xuống dưới diều, mới lại bóp tiếp viên khác. Mỗi con gà, mỗi bữa độ vài chục viên, mỗi ngày độ chín, mười bữa, đều do ông ta tự làm, chứ không khiến ai. Thành ra suốt ngày, ông ấy chỉ quanh vào hai con gà mà không lúc nào được nghỉ.

Giữa lúc công việc túi bụi, bà mẹ ông ta lại bị ốm nặng, cả ngày chỉ nằm trên giường và rên hừ hừ. Tuy vậy, những việc cơm cháo, thuốc men cho bà cụ, ông ta giao mặc vợ con, vì mình không có thì giờ trông đến. Bà cụ hình như cũng biết thân mình không quan hệ bằng hai con gà, cho nên, mỗi khi thấy cháu gọi con lên buồng xem bà làm sao, bà ấy lại gạt ngay đi:

– Việc thờ không thể nói chơi. Cứ để thầy mày trông nom cho gà. Gọi lên làm gì!

Hôm ấy nhân bữa 25 tháng Một.

Theo lệ mọi ngày, ông chủ nhà trọ của tôi, vừa ở trên giường xuống đất, mắt nhắm, mắt mở, chạy luôn ngay ra trước chuồng gà để rước gà ra.

Quái lạ! Làm sao hôm nay một trong đôi gà có vẻ khác thường! Thả vào trong lồng, nó cứ rụt cổ mà đứng lù rù. Nhắc cái lồng ra, nó cũng không buồn của cậy.

Hoảng quá! Ông ấy vội bắt nó lên, để xem là chứng bệnh gì. Chung quanh thân thể không thấy vết tích gì hết. Riêng có cái diều cứng rắc và lớn chần chẫn như một quả bưởi.

Vừa ôm con gà, ông vừa gọi người nhà bung rổ cám ra để mình bón thử cho nó mấy viên. Nhưng mà nó không chịu nuốt, viên cám ấn vào trong mỏ, nó lại lắc đầu, lắc cổ cho bật ra.

Với vẻ mặt không còn sắc máu, ông ấy hầm hầm chạy xuống nhà khách sau khi thả con gà ấy vào lồng của nó. Rồi cơn thịnh nộ theo sự lo sợ nổi lên, ông ta bỏ cả cơm nước, gắt vợ gắt con, luôn miệng. Bởi vì, theo ý ông ấy, con gà bị bệnh là do vợ con ông ta đều không thành kính mà ra

– Đã bảo không được gọi “người” là “gà”, cả nhà không đứa nào nghe! Bây giờ còn năm hôm nữa thì được sửa lễ, nếu như “người” có làm sao, chúng bay còn khổ với ông! Ông thì tống cổ mẹ con nhà mày!

Cứ một câu ấy, ông ta nhắc đi nhắc lại đến mấy chục lượt. Các con đều phải nem nép không dám ho he. Hình như chúng cũng tự biết gọi gà là “gà” chính là một cái tội lớn.

Cho được chuộc lại cái lỗi ngạo mạn với gà, một lần nữa bà vợ ông ta lại phải đi chợ mua đồ cúng các bộ hạ của “đức thượng đẳng”. Trước khi đi, bà ấy dặn anh thợ cày ở nhà giã gừng hoà rượu, tẩy uế chuồng gà cho kĩ. Vì sợ chuồng không trai khiết, cho nên sinh ra thế chăng.

Tin tức truyền đi mới chóng làm sao! Bà này mới ra khỏi nhà độ mười lăm phút, họ hàng làng nước kéo đến hỏi thăm rất đông. Người nào, người ấy nét mặt ngơ ngác, giống như đứng trước một tai nạn lớn của người ruột thịt.

Giữa khi ấy, bà mẹ ông chủ nhà tôi ở nhà trên lại nổi con bệnh. Ngồi ở nhà dưới cũng nghe tiếng rên và tiếng “ối chào”. Nhưng không ai nhắc đến bà cụ. Người ta chỉ hỏi chứng bệnh con gà.

Có người bày cho ông ấy nên dùng tỏi tươi giã nhỏ mà bón cho nó. Ông ta nhất định không nghe, cho rằng tỏi tươi là vật uế tạp, nếu cho gà ăn, nó sẽ uế tạp lây đến con gà. Vả chăng, bà vợ ông ấy đã đi mua đồ cúng rồi, nếu lại chữa thuốc cho gà, thì ra mình không tin ở quý thần nữa ư! Phải cứ thành tâm tin ở quý thần, hễ ngài xuất về đi cho thì nó khắc khỏi. Ông ta đáp lại họ mạc, làng nước như vậy.

Nhưng mà ông ta đã bị thất vọng.

Buổi trưa hôm ấy, sau khi bà vợ ở chợ về nhà, đồ lễ đã được sửa soạn một cách hoả tốc, ông ta liền tự ra đình lễ bái và đã cầu khẩn thiết tha. Vậy mà bệnh tình của gà chẳng những không chút thuyên giảm, lại còn trầm trọng hơn nữa. Sáng ngày nó còn chịu đứng và chịu mở mắt, bây giờ chỉ nằm phục dưới đất, hai mắt nhắm nghiền, nước mũi chảy ra rành rạch.

Cả nhà đều luống cuống chỉ lo còn con gà nữa lại mắc bệnh nốt.

Cực chẳng đã, ông ấy phải dùng bài thuốc của người ta mách lúc nãy. Thì ra con gà đã mắc phải bệnh thương thực. Bởi tại hôm trước ông ta nhồi cám cho nó nhiều quá, tiêu hoá không kịp, diều nó trương lên. Từ lúc được ít tỏi tươi vào miệng, giúp sức cho sự tiêu hoá, hình như trong mình nó đã dễ chịu, cho nên thỉnh thoảng nó đã đứng dậy, đôi mắt có lúc mở to. Đến chiều hôm ấy, nó đã nhỏ nhẻ mổ vài hột gạo. Và sáng hôm sau thì nó ăn uống như thường. Trong nhà lúc ấy vui vẻ như tết.

Ông ấy lại phải sửa lễ ra đình để tạ các vị bộ hạ của “đức thượng đẳng”.

Thấm thoắt đến ngày 29 tháng Một.

Sáng sớm hôm ấy, sau khi ra chuồng thăm gà, ông ta liền sai người nhà quét dọn suốt cả nhà trên nhà dưới, rồi đi gánh nước đổ thêm vào bể.

Gần trưa, họ mạc, hàng xóm kéo vào tấp nập. Người ta chia nhau mỗi người đi làm một việc. Bà này rửa bát, bà kia rửa nồi, ông này kê bàn, ông kia kê phản, năm bảy ông khác vào chuồng bắt lợn làm thịt.

Chừng đến quá trưa, con lợn bị giết đã thành ra mấy chục mâm dấm ghém, là liệt bày khắp cả mấy toà nhà.

Họ hàng ăn xong bữa ấy, mặt trời đã xế về tây. Bấy giờ người ta bắt đầu lọ đến

việc thờ.

Những người làm giúp lúc này chia làm hai đội. Một đội sắp sửa quang gánh gánh mấy thúng gạo ra giếng để vo, vì sợ vo bằng nước bể hột gạo xám đi, sau này xôi sẽ không trắng. Còn một đội nữa thì đi dun nước để làm lông gà.

Gần tối, đôi gà đã vặt lông xong. Con nào con ấy màu da trắng nõn. Cả họ đều khen là béo và lớn.

Sau khi mấy anh con trai dùng dịp nhổ râu nhổ hết những sợi lông to ở đầu, ở cổ, ở quanh hai mỏ đôi gà, ông chủ nhà tôi quyết định để con bị ốm hôm nọ lễ chùa, còn con không ốm thì đem lễ đình, và tươi cười nói với mấy ông nhiều tuổi trong họ:

– Công việc nuôi gà của tôi thế là đã xong rồi. Bây giờ còn việc luộc gà xin mặc các cụ. Nếu luộc được khéo, cả họ nhà ta sẽ được tiếng khen.

Ô hay! Luộc gà chẳng qua đến bỏ vào nước mà đun là cùng, có sao, ông này lại nói như vậy? Hay là trong cái việc ấy ở đây còn có bí quyết gì chăng. Tôi đương tự hỏi như vậy thì một ông già trong đám dõng dạc đáp lời ông chủ tôi:

– Cái đó, cụ cứ yên tâm, chúng tôi sẽ bắt anh em làm cho thật khéo.

Rồi thì ông đó ngoảnh ra gọi bọn ít tuổi:

– Ai biết chẳng gà thì đem gà ra chằng đi.

Sau một tiếng dạ rất gọn, mấy anh con trai linh lợi bưng hai con gà đặt vào hai chiếc mâm đồng và để lên một cái bàn kê ở gian giữa. Rồi một người khác đem đến cho họ một bó thảnh trẻ và một cuộn dây gai.

Dùng tre làm cốt và dây quấn ngoài, họ buộc cho hai con gà ngỏng cổ, giương cánh, đứng trên mặt mâm. Rồi họ lấy những ruột non, ruột già và bộ dạ dày của nó chẳng từ đầu mỏ quặt sang hai cánh, làm cho con gà thành ra cái hình con phượng ngậm bức cuốn thư. Cả đám xúm lại ngắm nghía, ai nấy đều cho là được. Bấy giờ họ mới giục nhau dun nước luộc gà.

Mỗi con gà đó, từ cổ đến chân có thể cao đến gần hai thuốc, hai cánh của nó cũng phải đến hơn một thước, tôi không hiểu rằng luộc vào nồi nào cho vừa, nhưng vẫn yên lặng để xem họ làm ra sao.

Luôn trong một lúc thấy họ bắc bếp đến sáu chiếc nồi ba mươi, nổi nào nước cũng gần đầy đến miệng. Nửa đêm, cả sáu nồi nước đều sủi. Người ta liền bưng cả hai mâm gà xuống đó. Dưới hai ngọn đèn hai dây sáng như ban ngày, năm sáu cái gáo chĩa vào các nồi múc nước giội từ đầu gà trở xuống. Và cứ giội luôn như thể không lúc nào ngơi, hết nồi nước ấy, họ lại nấu nồi nước khác, trong bếp không lúc nào không sẵn nước sôi. Giỏi đến gần sáng thì gà vừa chín. Té ra cái kiểu luộc gà của họ là vậy. Chờ cho đôi gà đều nguội, họ cởi hết các dây chằng, đặt vào trong giữa mâm xôi rồi đem ra đình và đưa lên chùa.

Lễ xong, con gà của ông chủ nhà tôi cân được bảy cân. Ông ấy sung sướng bảo tôi:

– Đời tội như thế là mãn nguyện!

 (In trong Việc làng, Ngô Tất Tố, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr. 83 – 95)

- Thu gọn

Group ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close