Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương SGK Ngữ văn 9 tập 2 Cánh diều

Nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh được giới thiệu thế nào?

Quảng cáo

Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ.

Đọc hiểu 1

Trả lời Câu hỏi 1 Đọc hiểu trang 5 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh được giới thiệu thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương, tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.

- Trương Sinh có tính đa nghi.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Vũ Thị Thiết: quê ở Nam Xương, tính tình thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp.

- Trương Sinh: có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá mức

- Vũ Thị Thiết:

+ Quê Nam Xương.

+ Tính tình: tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.

- Trương Sinh:

+ Cùng quê Nam Xương.

+ Thất học, có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá mức.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 2

Trả lời Câu hỏi 2 Đọc hiểu trang 6 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Người vợ muốn nhắn gửi điều gì với chồng qua lời tiễn đưa này?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Vũ Thị Thiết muốn nhắn gửi chồng: nàng không cần công danh phù phiếm, chỉ mong chàng bình an trở về. Hơn nữa nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng, coi hạnh phúc gia đình là trên hết.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Vũ Thị Thiết muốn nhắn gửi rằng nàng không cần chồng công danh phù phiếm, chỉ mong chàng bình an trở về.

Qua lời tiễn đưa này, Vũ Thị Thiết chỉ mong chồng mình có thể bình yên mà trở về. Hạnh phúc mà nàng hướng đến chính là sự sum vầy, đoàn tụ của gia đình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 3

Trả lời Câu hỏi 3 Đọc hiểu trang 7 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Tình huống bất ngờ nào xuất hiện?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Tình huống bất ngờ xuất hiện là: đứa con nói với Trương Sinh rằng trước đây cũng có người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế con. Trương Sinh nghi vợ ngoại tình nên đã la lên cho hả giận.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Tình huống bất ngờ: đứa con nói với Trương Sinh rằng trước đây cũng có người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế con.

Tình huống bất ngườ xuất hiện: Hết hạn đi lính, Trương Sinh trở về, nhưng Vũ Nương chưa được hưởng hạnh phúc sum họp gia đình được bao lâu thì xảy ra bi kịch. Trong một lần, bé Đản buột miệng nói "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ im thin thít...". 

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 4

Trả lời Câu hỏi 4 Đọc hiểu trang 7 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Người vợ đã nói gì khi bị chồng nghi ngờ?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Khi bị chồng nghi ngờ, Vũ Thị Thiết đã có những lời nói:

+ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu.

+ Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.

+ Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót.

+ Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

+ Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu.

+ Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.

+ Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót.

+ Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Khi nàng bị chồng nghi oan:

+ “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu... Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguội lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót...'.

+…

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 5

Trả lời Câu hỏi 5 Đọc hiểu trang 8 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Chú ý các chi tiết kì ảo trong phần 3

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Chi tiết kì ảo thứ nhất: Phan Lang đêm nằm mộng thấy có người xin chàng thả rùa xanh mà chàng vừa bắt được (Linh phi hóa thân)

- Chi tiết kì ảo thứ hai: Vũ Nương và Phan lang được Linh Phi cứu sống và cho ở nơi động rùa dưới thủy cung. Sau đó, Phan Lang được hồi sinh và trở về trần gian

- Chi tiết kì ảo thứ ba: linh hồn Vũ Nương trở về trên bến sông khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng nói vài lời tỏ minh rồi từ từ biến mất trong sương khói mịt mờ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Chi tiết kì ảo 1: Phan Lang đêm nằm mộng thấy có người xin chàng thả rùa xanh mà chàng vừa bắt được.

- Chi tiết kì ảo 2: Vũ Nương và Phan lang được Linh Phi cứu sống và cho ở nơi động rùa dưới thủy cung. Sau đó, Phan Lang được hồi sinh và trở về trần gian

- Chi tiết kì ảo 3: linh hồn Vũ Nương trở về trên bến sông khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nói vài lời tỏ minh rồi từ từ biến mất trong sương khói mịt mờ.

- Phan Lang đêm nằm mộng thấy có người xin chàng thả rùa xanh mà chàng vừa bắt được (Linh phi hóa thân):

+ Điều kì ảo ở đây là có một thế giới dưới nước (Thủy cung) và Linh phi hóa thân thành chú rùa đi ngao du và sa vào lưới.

+ Việc Phan Lang cứu một con rùa là điều hết sức bình thường nhưng chú rùa đó là Linh phi, đã báo mộng và mong chàng thả ra.

+ Phan Lang tưởng chừng không liên quan đến câu chuyện nhà Vũ Nương nhưng chính chàng sau này trở thành cầu nối cho vợ chồng Vũ Nương.

+ …

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 6

Trả lời Câu hỏi 6 Đọc hiểu trang 9 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Vũ Nương là ai? Chi tiết nào không có thật?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Vũ Nương là người ngày trước bị vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử nhưng được các nàng tiên trong cung cứu giúp.

- Chi tiết không có thật: các nàng tiên trong cung nước rẽ một đường nước cho Vũ Nương thoát chết.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

- Vũ Nương: là người phụ nữ bị chồng vu oan, gieo mình xuống sông tự tử nhưng được các nàng tiên trong cung cứu giúp.

- Chi tiết không có thật: các nàng tiên trong cung nước rẽ một đường nước cho Vũ Nương thoát chết.

- Vũ Nương chính là Vũ Thị Thiết.

- Chi tiết không có thật: “Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá, còn đâu mà gặp ông.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Đọc hiểu 7

Trả lời Câu hỏi 7 Đọc hiểu trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Truyện kết thúc thế nào?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Trương Sinh lập đàn tràng dài ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang, Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa sau có năm mươi chiếc xe cờ tán, lúc ẩn, lúc hiện.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Vũ Nương được chồng lập đàn giải oan, hiện về trên sông từ biệt chồng rồi biến mất.

Truyện Người con gái Nam Xương kết thúc: Trương Sinh nghe Phan Lang kể, biết vợ bị oan, bèn lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương trở về, ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, lúc ẩn, lúc hiện, nói với chồng lời tạ từ rồi vĩnh viễn trở về chốn làng mây cung nước. Đây là một kết thúc phần nào có hậu.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 1

Trả lời Câu hỏi 1 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, chú ý các tình tiết, sự kiện chính

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Vũ Nương là cô gái xinh đẹp, thùy mị, nết na khiến chàng Trương đem lòng yêu mến và cưới về làm vợ. Ngày chồng tòng quân, nàng đau lòng, dặn dò và mong chồng bình an trở về. Ở nhà, nàng một lòng một dạ chăm sóc con trai và chăm sóc mẹ chồng những ngày cuối đời. Khi chồng trở về, bế con ra thăm mộ mẹ, đứa nhỏ đã tiết lộ bố nó đêm nào cũng đến thăm nó khiến Trương Sinh đem lòng nghi ngờ, ghen tuông. Trương Sinh về nhà đã chửi mắng nàng và đuổi nàng đi mặc cho nàng van xin và thanh minh. Để chứng minh tấm lòng chung thủy của mình Vũ Nương đã nhảy sông tự tử. Sau này, khi Trương Sinh hiểu ra oan khuất của nàng đã vô cùng đau xót nhưng nàng không thể trở về nhân gian được nữa mà mãi ở lại nơi thủy cung.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Vũ Nương là người phụ nữ nết na xinh đẹp. Trương Sinh thấy vậy bèn xin mẹ hỏi cưới nàng về. Sau đó, chiến tranh ập đến, Trương Sinh phải đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Nghe nó kể lại Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết, đánh đuổi vợ ra khỏi nhà. Vũ Nương thanh minh không được đành phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh Phi lúc hóa rùa đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Biết vợ bị oan Trương Sinh đã lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đa tạ chàng rồi biến mất.

Vũ Nương là người con gái quê ở Nam Xương, không chỉ xinh đẹp mà còn có tư dung tốt đẹp. Điều ấy khiến cho Trương Sinh - một chàng trai trong làng yêu mến, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong cuộc sống vợ chồng, biết chồng là một người hay ghen, nàng luôn sống giữ gìn khuôn phép để gia đình hòa thuận. Vậy mà chồng nàng, sau khi đi lính chỉ vì một lời ngây thơ của con trẻ, chưa làm rõ đầu đuôi câu chuyện đã giở thói ghen tuông. Dù Vũ Nương hết lòng giải thích nhưng vẫn vô dụng. Nàng quyết định tìm đến cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Sau này, khi đã hiểu rõ mọi chuyện, Trương Sinh cảm thấy hối hận thì cũng đã muộn. Chàng cho người lập đàn giải oan cho vợ, Vũ Nương hiện về lúc ẩn lúc hiện.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 2

Trả lời Câu hỏi 2 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Tìm và phân tích các chi tiết mà tác giả đã sáng tạo để khắc họa nhân vật Vũ Nương, qua đó, nêu nhận xét, đánh giá của em về số phận, phẩm chất của nhân vật này.

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Chi tiết tác giả đã sáng tạo:

- Khi chồng đi lính chưa được bao lâu thì Vũ Nương sinh bé Đản và một mình gánh vác hết việc nhà chồng nhưng nàng chứ bao giờ chểnh mảng chuyện con cái. Để con trai bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha, nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản.

=> Nhận xét về số phận, phẩm chất của nhân vật này: 

- Là người mẹ yêu con hết mực

- Chồng đi xa vẫn một lòng chung thủy, thương nhớ chồng khôn nguôi, mong chồng trở về bình yên vô sự, ngày qua tháng lại một mình vò võ nuôi con.

- Vì vậy, người chồng đa nghi vì nghe lời con trẻ ngây thơ nên nghi oan, cho rằng nàng đã thất tiết, mắng nhiếc, đánh và đuổi nàng đi mặc nàng đau khổ, khóc lóc bày tỏ nỗi oan.

=> Hiện lên với số phận của nạn nhân trong chiến tranh, khắc khổ nhưng vẫn giữ phẩm chất tốt đẹp.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Các chi tiết mà tác giả đã sáng tạo để khắc họa nhân vật Vũ Nương:

- Khi xa chồng:

* Đối với chồng:

Nàng là người vợ chung thuỷ, yêu chồng tha thiết; nỗi buồn nhớ cứ dài theo năm tháng, luôn ngóng trông tin tức của chồng “khi bướm lượn đầy trời mây che kín núi thì nỗi buồn chân trời góc bể k thể nào ngăn được”.

* Đối với mẹ chồng:

- Nàng là con dâu hiền thảo, hết lòng thương yêu chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau “nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật...khuyên lơn”.

- Nàng lo lắng chu toàn khi mẹ chồng mất “nàng hết lời thương xót...như đối với cha mẹ đẻ mình”.

* Khi bị chồng nghi oan:

- Nàng đã phân trần với chồng mong chồng hiểu:

+ Lời thoại 1: “Thiếp vốn con kẻ khó… cho thiếp”

⇒ Nàng nói tới thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thuỷ chung, trong sáng cầu xin chồng không.

+ Lời thoại 2: “Thiếp sỡ dĩ … Vọng Phu kia nữa” ⇒ Nỗi dau đớn, thất vọng, tuyệt vọng đành cam chịu số phận, hoàn cảnh (Bị đối sử bất công, gia đình tan nát,…)

- Lời thoại 3: Lời nói của nàng ở bến Hoàng Giang “Kẻ bạc mệnh … phỉ nhổ”.

⇒ Lời thề ai oán và phẫn uất, quyết lấy cái chết để chứng minh cho sự oan khuất và sự trong sạch của mình. Đây cũng là hành động quyết liệt để bảo toàn danh dự, vừa có nỗi tuyệt vọng, vừa có sự chỉ đạo của lý trí.

- Lời đối thoại, tự bạch sắp xếp hợp lý

⇒ Khắc hoạ tâm lý và tính cách nhân vật.

 – Nhân vật Vũ Nương được miêu tả qua lời của người kể chuyện:

+ “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỷ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.”; do chồng đa nghi nên “Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà."; khi mẹ chồng ốm, “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.”; khi bà cụ mất, “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.")

- Nhân vật Vũ Nương qua lời nói của nhân vật này với chồng:

+ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gầm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thể là đủ rồi.”, “Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.".... Ý của Vũ Nương là không tham vinh hoa phú quý, chỉ mong chồng bình an trở về.

=> Vũ Nương là người thùy mị, nết na, yêu chồng thương con, hiếu thuận,...

- Tác giả đã tạo ra tình huống nghi ngờ để khắc hoạ bi kịch của nhân vật Vũ Nương: Trương Sinh nghi ngờ lòng chung thuỷ của Vũ Nương qua lời nói của đứa con: "Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bể Đản cả.". Kì thực, đó là cái bóng của Vũ Nương ở trên vách: "ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Sự nghi ngờ này đã dẫn đến kết cục đau đớn cho Vũ Nương: "gieo mình xuống sông mà chết".

=> Số phận của nhân vật Vũ Nương: kém may mắn, bất hạnh, phải chịu cái chết oan uổng do lòng ngờ vực, thiếu hiểu biết và thiếu niềm tin của chồng.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 3

Trả lời Câu hỏi 3 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

- Các chi tiết kì ảo thể hiện tập trung ở phần (3), trước hết là không gian nghệ thuật - cung điện, đến đài sang trọng ở dưới nước của rùa thần, là nơi ở của vợ vua kiền Nam Hải, nơi sinh sống của các nàng tiên. Không gian ki lạ này gắn liền với một chi tiết ki áo khác, đó là: "Tôi (Vũ Nương) ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuông sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết", ... Học sinh (HS) có thể nêu thêm các chi tiết khác.

- Yếu tố kì ảo có tác dụng mở ra những diễn biến tiếp theo cho câu chuyện, đẩy cốt truyện vận động, đồng thời giúp tác giả tiếp tục khắc họa số phận, phẩm chất của nhân vật Vũ Nương (số phận bất hạnh vì Vũ Nương vẫn luôn bị ám ảnh, dằn vặt bởi nỗi oan chưa được giải toả; là người có tình nghĩa, luôn hướng về gia đình, quê nhà và luôn khát khao được giải oan để giữ khí tiết thanh sạch) và thể hiện tư tưởng nhân đạo (cảm thông với những người phụ nữ có số phận kém may mắn; yêu mến, trân trọng những con người có tâm hồn và phẩm chất cao đẹp).

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Không gian Vũ Nương hiện về: “Vũ Nương ngồi trên chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện”.

=> Làm hoàn chỉnh phẩm chất đẹp đẽ vốn có của Vũ Nương – một người ở thế giới khác vẫn khao khát phục hồi danh dự.

- Biểu hiện của yếu tố kì ảo:

+ Các chi tiết kì ảo thể hiện tập trung ở phần (3): không gian nghệ thuật – cung điện, đền đài sang trọng ở dưới nước của rùa thần, là nơi ở của vợ vua biển Nam Hải, nơi sinh sống của các nàng tiên. Không gian kì ảo này gắn liền với một chi tiết kì ảo khác, đó là: “Tôi (Vũ Nương) ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết”.

- Tác dụng: Mở ra những diễn biến tiếp theo cho câu chuyện, đẩy cốt truyện vận động, đồng thời giúp tác giả tiếp tục khắc họa số phận, phẩm chất của Vũ Nương (người phụ nữ tư dung tốt đẹp nhưng số phận bất hạnh, vẫn luôn ám ảnh bởi nỗi oan chưa được hóa giải, luôn hướng về gia đình) và thể hiện tư tưởng nhân đạo (cảm thông với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến).

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 4

Trả lời Câu hỏi 4 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa các chi tiết kì ảo và chi tiết đời thường ở một đoạn văn cụ thể trong văn bản

Phương pháp giải:

Có thể chọn các đoạn khác nhau để phân tích, nhưng cần chi ra sự kết hợp giữa chi tiết đời thường và chi tiết ki ảo

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Đoạn "Lúc đến nhà ... biến đi mất"

Ở đoạn trên, các chi tiết như Phan kể chuyện với Trương ở nhà, Trương lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang, Trương gọi vợ, ... là các chỉ tiết đời thường, trần tục, hoàn toàn có thể có thật. Còn các chỉ tiết như Trương nhận lại chiếc hoa vàng, Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện, bông nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất, ... là chỉ tiết không có thật. Ngay trong một chi tiết nhỏ cũng có sự kết hợp các yếu tố đời thường và kì ảo. Chẳng hạn: việc Trương nhận lại chiếc hoa vàng từ Phan. Chiếc hoa vàng là một vật dụng có thật, một đổ vật của  Vũ Nương, Nhưng việc Phan nhận chiếc hoa vàng từ Vũ Nương ở chỗ của Linh Phi để rồi về nhà trao lại cho Trương thì lại là kì ảo. Nhìn chung, sự kết hợp giữa các chi tiết trên giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, vừa hư vừa thực, vừa gắn với những vấn để của cuộc sống hàng ngày, gần gũi với mọi người vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú và ước mơ của tác giả về những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Mối quan hệ giữa yếu tố thực và yếu tố kì ảo trong văn bản là nhờ yếu tố kì ảo để nói lên cái thực. Yếu tố kì ảo đóng vai trò làm cầu nối đưa ta vào một thế giới huyền diệu và bí ẩn.

* Yếu tố thực:

- Sáng tác dựa trên một câu chuyện xảy ra và được lưu truyền trong dân gian, Nguyễn Dữ muốn mượn chuyện xưa để nói chuyện nay (thế kỉ XVI, thời Nguyễn Dữ sống).

- Chiến tranh, loạn lạc gây ra đau khổ cho con người: Trương Sinh ra lính, phải xa cách mẹ già, vợ trẻ.

Lễ giáo phong kiến bất công: Người đàn ông được quyền hành hạ, ruồng rẫy người phụ nữ, dẫn đến cái chết đầy oan khuất của người vợ chung thủy, hiếu nghĩa.

* Yếu tố kì ảo:

- Chi tiết kì ảo thứ nhất: Phan Lang đêm nằm mộng thấy có người xin chàng thả rùa xanh mà chàng vừa bắt được (Linh phi hóa thân):

+ Điều kì ảo ở đây là có một thế giới dưới nước (Thủy cung) và Linh phi hóa thân thành chú rùa đi ngao du và sa vào lưới.

+ Việc Phan Lang cứu một con rùa là điều hết sức bình thường nhưng chú rùa đó là Linh phi, đã báo mộng và mong chàng thả ra.

+ Phan Lang tưởng chừng không liên quan đến câu chuyện nhà Vũ Nương nhưng chính chàng sau này trở thành cầu nối cho vợ chồng Vũ Nương.

- Chi tiết kì ảo thứ hai: Vũ Nương và Phan lang được Linh Phi cứu sống và cho ở nơi động rùa dưới thủy cung. Sau đó, Phan Lang được hồi sinh và trở về trần gian:

+ Biết Vũ Nương bị oan nên Linh Phi đã cứu nàng khi nàng tự vẫn và đưa nàng về thủy cung của mình.

+ Sau này, Phan Lang gặp nạn, cũng được Linh Phi cứu và chàng gặp lại Vũ Nương ở Thủy cung. Khi trò chuyện và khuyên nhủ Vũ Nương, Phan Lang cầm theo tín vật của nàng trở về nhân gian → vô lí, hoang đường.

- Chi tiết kì ảo thứ ba: linh hồn Vũ Nương trở về trên bến sông khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng nói vài lời tỏ minh rồi từ từ biến mất trong sương khói mịt mờ.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 5

Trả lời Câu hỏi 5 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Chủ đề của văn bản Chuyện người con gái Nam Xương là gì?

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Qua câu chuyện về cuộc đời của nhân vật Vũ Nương, truyện đặt ra vấn đề và số phận oan trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thể hiện sự thương xót đối với những người phụ nữ bất hạnh, kém may mẫn, đồng thời bộc lộ cái nhìn nhận hậu, mong ước những điều tốt đẹp sẽ đến với họ. Truyện cũng ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nết na, hiểu thuận, ...

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Văn bản thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ

Chủ đề: truyện đặt ra vấn đề về số phận oan trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thể hiện sự thương xót đối với những người phụ nữ bất hạnh, kém may mắn; đồng thời bộc lộ cái nhìn nhân hậu, mong ước những điều tốt đẹp sẽ đến với họ. Truyện cũng ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nết na, hiểu thuận, chung thuỷ....

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

CH cuối bài 6

Trả lời Câu hỏi 6 CH cuối bài trang 10 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều

Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề có ý nghĩa nhân sinh mà truyện đặt ra và liên hệ với cuộc sống ngày nay.

Phương pháp giải:

Đọc văn bản, đưa ra lời giải phù hợp

Lời giải chi tiết:

Cách 1

Nhờ chi tiết cái bóng tác giả đã cho thấy rõ phẩm chất của các nhân vật trong truyện. Ngoài ra tác giả còn lên án, tố cáo xã hội phong kiến tàn ác đã khiến số phận người phụ nữ mong manh, bế tắc. Qua đó khiến ta trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của người phụ nữ ngày nay, họ đều có quyền lên tiếng, đấu tranh để bảo vệ cho thân phận của mình.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3

Vấn đề có ý nghĩa nhân sinh mà truyện đặt ra và liên hệ với cuộc sống ngày nay khiến ta trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của người phụ nữ ngày nay, họ đều có quyền lên tiếng, đấu tranh để bảo vệ cho thân phận của mình.

Văn bản "Chuyện người con gái Nam Xương" đã để lại cho em nhiều ấn tượng và bài học nhân sinh sâu sắc. Thật vậy, bài học đầu tiên mà em thấy được đó là số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Họ là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, vô định không bến bờ và phải sống phụ thuộc vào người chồng của mình. Đồng thời, họ cũng không có tiếng nói, bị đè nặng bởi các định kiến phong kiến đến nỗi chẳng thể tự giải oan cho mình. Cuối cùng, họ vẫn khó có thể tự giành cho mình được hạnh phúc, không có quyền được hưởng hạnh phúc ở nhân gian. Bài học thứ hai mà em nhận ra được đó là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những người phụ nữ như Vũ Nương không chỉ có tấm lòng thơm thảo dành cho gia đình nhà chồng, mà còn có đức hy sinh, tấm lòng chung thủy, trinh bạch sâu sắc. Bài học cuối cùng mà em rút ra được từ văn bản đó là hôn nhân và hạnh phúc gia đình bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Chỉ khi sự vun vén đến từ cả người chồng và người vợ thì mọi sự hiểu nhầm đều có thể hóa giải. Chiến tranh chia cắt cũng gây chia cắt và là nguyên nhân gián tiếp phá hoại hôn nhân con người. Đó là những bài học nhân sinh mà em rút ra được từ văn bản.

Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) CD
+

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

- NGUYỄN DỮ -

Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc. Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong số lính đi vào loại đầu. […]

Nàng rót chén rượu đầy tiến chồng mà răng:

- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành dứt. Ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san!

Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là Đản. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:

- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.

Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mồ mẹ, rồi bé đứa con nhỏ đi thăm; đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc. Sinh dỗ dành:

- Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.

Đứa con ngây thơ nói:

- Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nhỏ nói:

- Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.

Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.

Về đến nhà, chàng la um lên cho hả giận. Vợ chàng khóc mà rằng:

- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói; chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói:

- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.

Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết. Chàng tuy giận là nàng thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận cũng động lòng thương, tìm vớt thây nàng, nhưng chẳng thấy tăm hơi dâu cả.

Một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con nói rằng:

- Cha Đản lại đến kia kìa!

Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:

- Đây này!

Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi!

Cùng làng với nàng, có người tên là Phan Lang, khi trước làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang, một đêm chiêm bao thấy có người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, Phan Lang thấy có người phường chài đem vào biếu một con rùa mai xanh, sực nghĩ đến chuyện mộng, bèn đem thả con rùa ấy. Cuối đời Khai Đại nhà Hồ, quân Minh mượn tiếng đưa Trần Thiêm Bình về nước, phạm vào cửa ải Chi Lăng, nhân dân trong nước, nhiều người sợ hãi phải chạy trốn ra ngoài bế, không may đắm thuyền đều chết đuối cả. Thây Phan Lang dạt vào một cái động rùa ở hải đảo, có người đàn bà là Linh Phi trông thấy nói rằng:

- Đây là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa.

Linh Phi bèn lấy khăn dấu mà lau, lấy thuốc thần mà đổ, một chốc Phan Lang liền tỉnh lại. Phan trông thấy cung gấm đền dao thật nguy nga lộng lẫy, mà chưa biết mình đã lọt vào cung nước của rùa thần. Linh Phi bấy giờ mình mặc áo gấm dát ngọc, chân đi giày có vân nạm vàng, cười bảo Phan Lang rằng:

- Tôi là Linh Phi trong động rùa, vợ vua biển Nam Hải, nhớ hồi còn nhỏ đi chơi ở bến sông bị người phường chài bắt được, ngẫu nhiên báo mộng, quả được nhờ ơn. Gặp gỡ ngày nay, há chẳng phải lòng trời xui khiến cho tôi có dịp đền ơn trả nghĩa?

Phi bèn đặt yến ở gác Triêu Dương để thết đãi Phan Lang. Dự tiệc hôm ấy có vô số mĩ nhân, quần áo thướt tha, mái tóc búi xễ. Trong số đó, có một người mặt chỉ hơi điểm qua một chút son phấn trông rất giống Vũ Nương. Phan có ý nhìn trộm, nhưng không dám nhận. Tiệc xong, người đàn bà ấy nói với Phan Lang rằng:

- Tôi với ông vốn người cùng làng, cách mặt chưa bao, đã quên nhau rồi ư?

Bấy giờ Phan mới nhận đích người ấy là Vũ Nương và gạn hỏi duyên cớ. Nàng nói:

- Tôi ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá, còn đâu mà gặp ông.

Phan nói:

- Nương tử nghĩa khác Tào Nga, hờn không Tinh Vệ mà phải ôm mối hận gieo mình xuống nước. Nay thóc cũ không còn, thóc mới vừa gặt, há lại không tưởng nhớ đến quê hương ư?

Vũ Nương nói:

- Tôi bị chồng ruồng rẫy, thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mũi nào về nhìn thấy người ta nữa!

Phan nói:

- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, cỏ gai rợp mắt. Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao? Nghe đến đấy, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:

- Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.

Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương nhân đó cũng đưa gửi một chiếc hoa vàng mà dặn:

- Nhờ nói hộ với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về.

Lúc đến nhà, Phan đem chuyện kể lại với họ Trương. Ban đầu Trương không tin. Nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng, chàng mới sợ hãi mà nói:

- Đây quả là vật dụng mà vợ tôi mang lúc ra đi.

Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.

Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:

- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.

Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.

- Thu gọn

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close