Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 10

I. PHẦN ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: (Lược một đoạn: Anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội dù anh đỗ ĐH Bách Khoa và mặc cho người cha ngăn cản.

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 11 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau:

(Lược một đoạn: Anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội dù anh đỗ ĐH Bách Khoa và mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường, bà mẹ thường xuyên viết thư đến địa chị một hòm thư để gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa – người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.)

            Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang. […]

            Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc ...", lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít... Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? ".

            Nghĩa ơi! Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.

            Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới.

(Gọi con, Bảo Ninh, nhandan.vn, ngày 19/8/2005)   

Chú thích:

          Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952, tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê ông ở Xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. Bảo Ninh được biết tới với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và thời hậu chiến. Ông là nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại giai đoạn từ sau 1975 tới nay.

Truyện ngắn “Gọi con” trong tập truyện “Chuyện xưa kết đi, được chưa” xuất bản năm 2009 của nhà văn Bảo Ninh là một tác phẩm giàu cảm xúc, khắc họa nỗi lòng người mẹ có con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra điểm nhìn và sự dịch chuyển điểm nhìn trong văn bản.

Câu 3. Phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ được sử dụng trong những câu văn sau:

            “Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? "

Câu 4. Hình ảnh “Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng.” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản trên, lí giải vì sao?

II. VIẾT

 Câu 1.

 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá vẻ đẹp phẩm chất nhân vật người mẹ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2.

            “Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng.”

(John Maxwell, Tôi tư duy, tôi thành đạt, NXB Lao động xã hội, 2012)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị dưới góc nhìn của tuổi trẻ về Tư duy số đông.

Đáp án

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương pháp:

- Vận dụng kiến thức về ngôi kể

- Căn cứ vào đại từ xưng hô, cách gọi tên nhân vật trong đoạn trích.

Cách giải:

Ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản: Ngôi thứ ba

Câu 2:

Phương pháp:

- Điểm nhìn là vị trí, góc độ từ đó câu chuyện được kể

- Phân tích các đoạn văn để nhận diện sự thay đổi điểm nhìn: đoạn nào từ góc nhìn của người kể, đoạn nào từ góc nhìn của nhân vật.

Cách giải:

- Truyện được kể theo điểm nhìn bên ngoài, toàn tri - điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba

- Có sự dịch chuyển điểm nhìn từ điểm nhìn của người kể chuyện sang điểm nhìn của nhân vật người mẹ

Câu 3:

Phương pháp:

- Nhận diện câu hỏi tu từ

- Phân tích tác dụng

Cách giải:

Tác dụng của câu hỏi tu từ:

- Nhấn mạnh tâm trạng đau khổ, mong ngóng, chờ đợi con trong vô vọng qua đó thấy được tình yêu thương con vô bờ của người mẹ.

- Tạo giọng điệu khắc khoải, day dứt, buồn thương cho câu văn

Câu 4:

Phương pháp:

- Phân tích từ ngữ giàu giá trị biểu cảm

- Liên hệ với hoàn cảnh nhân vật và bối cảnh chiến tranh.

Cách giải:

Hình ảnh gợi suy nghĩ:

- Cho đến lúc chết người mẹ vẫn không thôi chờ đợi, mong mỏi người con trở về

- Chiến tranh để lại những đau thương, mất mát mãi không bao giờ nguôi ngoai

Câu 5:

Phương pháp:

Gợi ý:

- Thông điệp về tình mẫu tử thiêng liêng

- Thông điệp về những nỗi đau mà chiến tranh để lại…

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Thông điệp ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản là: Tình mẫu tử là bất diệt, nhưng cũng có thể trở thành nỗi đau dai dẳng nhất khi chiến tranh cướp đi người con. Bởi lẽ, xuyên suốt đoạn trích, hình ảnh người mẹ kiên nhẫn viết từng bức thư dù biết chẳng bao giờ đến tay Nghĩa, gương mặt lẳng lặng chờ đợi "âm thầm, rụt rè và vô vọng" cho đến phút cuối đời đã khắc họa một sự thật nghiệt ngã: chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng người lính mà còn giết chết niềm vui, sự bình an trong lòng người mẹ suốt cả cuộc đời còn lại.

II. PHẦN VIẾT

Câu 1:

Phương pháp:

Gợi ý:

- Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ qua đoạn trích:

+ Tình yêu thương con vô bờ bến: Vì lo cho Nghĩa nên bà viết thư hỏi thăm động viên, thư dù bị trả về nhưng người mẹ vẫn cứ viết với hy vọng những lá thư ấy sẽ đến tay con mình; Sống trong hy vọng, khắc khoải chờ đợi ngày con trở về, thậm chí trong giấc mơ cũng thấy con.

 + Giàu đức hi sinh: Luôn nghĩ cho các con, vì không muốn những đứa con khác lo lắng cho mình nên bà giữ kín những nỗi niềm trong lòng cho đến tận lúc qua đời.

=> Nhân vật người mẹ tiêu biểu cho vẻ đẹp của những người phụ nữ Việt Nam, hết lòng yêu thương, hi sinh tất cả vì con.

 + Vẻ đẹp tâm hồn người mẹ được thể hiện sinh động qua hành động, lời nói và diễn biến tâm trạng; ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Trong đoạn trích "Gọi con", nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn cao quý, tiêu biểu cho phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam thời chiến. Trước hết, đó là tình yêu thương con vô bờ bến. Dù những bức thư gửi cho Nghĩa liên tục bị trả về nguyên vẹn, người mẹ vẫn nhẫn nại viết, vẫn kiên trì gửi với hy vọng mong manh rằng có ngày con sẽ nhận được. Bà sống trong khắc khoải chờ đợi, ngay cả trong giấc mơ cũng thấy con trở về. Tình yêu ấy còn thể hiện qua nỗi đau đáu khi tự hỏi "con ở phương nào?" hay "sao con im lặng lâu thế?", những câu hỏi tu từ chất chứa bao day dứt, nhớ thương. Bên cạnh đó, người mẹ còn giàu đức hy sinh thầm lặng. Suốt bao năm, bà giấu kín nỗi đau mất con, không bao giờ kể với Tân hay những đứa con khác, chỉ âm thầm viết vào những trang thư chẳng thể gửi đi. Gương mặt bà "lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng" cho đến tận khi nhắm mắt xuôi tay. Vẻ đẹp ấy được nhà văn khắc họa sinh động qua hành động viết thư, lời độc thoại nội tâm và những hình ảnh giàu cảm xúc, khiến người đọc không khỏi xót xa, trân trọng. Qua nhân vật người mẹ, Bảo Ninh đã gửi gắm niềm tri ân sâu sắc đến những người phụ nữ Việt Nam đã âm thầm chịu đựng mất mát vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Câu 2:

Phương pháp:

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận

Thân bài:

- Giải thích ý kiến của John Maxwell và khái niệm “ư duy số đông”

- Bàn luận

+ Tư duy số đông hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời sống: chính trị, văn hoá, xã hội…

+ Chúng ta thường có xu hướng tham vấn ý kiến của nhiều người và đặt niềm tin vào những quan điểm của đại đa số.

+ Khi số đông tham gia bàn bạc, giải quyết vấn đề nào đó, thường đưa ra những quyết định, giải pháp sáng suốt, hợp lý do đó con người có suy nghĩ rằng số đông bao giờ cũng đúng.

+ Đem đến con người cảm giác an toàn, có chỗ dựa, được bảo vệ và giảm áp lực nặng nề về trách nhiệm…

- Nêu nhận thức của bản thân, rút ra thông điệp bài học.

- Mở rộng vấn đề trao  đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.

Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

Cách giải:

Bài văn tham khảo:

Trong cuộc sống hiện đại, con người thường có xu hướng tìm kiếm sự an toàn trong đám đông. Nhà tư tưởng John Maxwell đã từng nhận định: "Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng." Câu nói ấy đã chạm đến một hiện tượng tâm lý phổ biến, đặc biệt có ý nghĩa dưới góc nhìn của tuổi trẻ hôm nay.

Trước hết, cần hiểu "tư duy số đông" là gì. Đó là xu hướng tin rằng quan điểm, hành vi hay quyết định của phần lớn mọi người là đúng đắn và đáng làm theo. Người có tư duy số đông thường sợ khác biệt, sợ bị cô lập, vì vậy họ chọn cách hòa mình vào tập thể, cho rằng "mọi người đều thế thì chắc không sai". Tư duy này hiện hữu ở khắp mọi lĩnh vực từ chính trị, văn hóa đến xã hội, từ việc lựa chọn nghề nghiệp, xu hướng thời trang đến cách thể hiện quan điểm cá nhân.

Trong nhiều trường hợp, tư duy số đông mang lại những lợi ích nhất định. Chúng ta thường có xu hướng tham vấn ý kiến của nhiều người và đặt niềm tin vào những quan điểm của đại đa số bởi số đông khi tham gia bàn bạc, giải quyết vấn đề thường đưa ra những quyết định sáng suốt, hợp lý. Tư duy số đông cũng đem đến cho con người cảm giác an toàn, có chỗ dựa, được bảo vệ và giảm áp lực nặng nề về trách nhiệm. Khi làm theo số đông, nếu sai, ta có thể an ủi mình rằng "ai cũng thế".

Tuy nhiên, nhìn sâu hơn, tư duy số đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt với tuổi trẻ. Nó dần thui chột tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và bản lĩnh cá nhân. Một bạn trẻ luôn chạy theo trào lưu, sợ bị gọi là "lạc hậu" sẽ dễ dàng đánh mất chính kiến, thậm chí đánh mất ước mơ của riêng mình. Lịch sử đã chứng minh, nhiều phát minh vĩ đại, những tư tưởng tiến bộ ban đầu đều bị số đông phản đối. Nếu các nhà khoa học, nghệ sĩ, doanh nhân thành công chỉ biết nghe theo số đông, thế giới sẽ chẳng có những đột phá làm thay đổi cuộc sống.

Vậy, thái độ đúng đắn trước tư duy số đông là gì? Là tuổi trẻ, chúng ta cần tỉnh táo tiếp thu ý kiến số đông nhưng không để nó lấn át tiếng nói của lương tri và khát vọng cá nhân. Hãy học cách đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Dám nghĩ khác, dám làm khác không có nghĩa là chống đối tất cả, mà là dám sống thật với chính mình.

Tóm lại, tư duy số đông là con dao hai lưỡi. Nếu biết tận dụng, nó giúp ta học hỏi và hòa nhập. Nếu để nó chi phối, nó sẽ nhấn chìm cá tính và khát vọng. Tuổi trẻ hôm nay cần bản lĩnh để vừa là một phần của cộng đồng, vừa giữ được ngọn lửa riêng của chính mình, bởi thế giới luôn cần những con người dám sống khác biệt để tạo nên những giá trị mới.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 9

    I. ĐỌC HIỂU Thu muộn Đã đi vào lãng quên mùi vị bánh nướng, bánh dẻo, hạt cốm Vòng bọc trong lá sen buộc sợi rơm vàng duyên dáng.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 8

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 7

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Lược dẫn: Trong tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng với Thúy Vân và Vương Quan (là hai em của Kiều) đi chơi xuân. Khi trở về, gặp một nấm mộ vô danh ven đường, không người hương khói. Kiều hỏi thì được Vương Quan cho biết đó là mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi danh tài sắc nhưng bạc mệnh.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 6

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: ĐÂY THÔN VĨ DẠ Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 5

    Đề thi học kì 2 Văn 11 bộ sách kết nối tri thức đề số 5 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close