Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 9

I. ĐỌC HIỂU ĐONG TẤM LÒNG Bà mẹ kể ngày xưa dì Chín nghèo nhứt gánh mình. Áng chừng còn ba tháng nữa tới đám giỗ bên nhà ngoại,

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 11 tất cả các môn - Cánh diều

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. ĐỌC HIỂU

            Đọc văn bản:

ĐONG TẤM LÒNG

Bà mẹ kể ngày xưa dì Chín nghèo nhứt gánh mình. Áng chừng còn ba tháng nữa tới đám giỗ bên nhà ngoại, Chín đi mua chục vịt con về nuôi. Vịt của Chín lớn lên không nhờ hột lúa nào (thứ đó dành cho bốn miệng người trong nhà còn không đủ), dì nuôi chúng bằng cám trộn bèo, cuối chiều có thêm mớ ốc bươu vàng tách vỏ bằm nhỏ. Đúng giỗ dì bắt cặp vịt xách về, cúng ông ngoại cái món ông ưa nhứt hồi còn sống; vịt luộc chấm mắm gừng. Có năm vịt còi vì ăn không đủ sức, lườn bén lẹm tóp khố. Có năm gió độc làm cả bầy lăn ra chết hết, Chín đi câu cá lóc mang về cúng. Và những gì Chín đem qua làm giỗ, ai cũng nâng niu cảm động. Con cá lóc với cái măng tre ấy cũng có giá trị ngang bằng với con heo quay cậu Hai chở từ ngoài chợ vô.

Với một gia đình đông con, tứ tán khắp nơi, đám giỗ ông ngoại là bữa tiệc huy hoàng. Hình dung linh hồn ông ăn hết từng ấy món, chắc lặc lè bay không nổi. Dọn mâm cúng đã thấy chóng mặt, ai cũng đem theo những thứ ngon nhất trong vườn nhà mình. Biết Chín có măng tre đầu mùa, mẹ mua giò heo, vậy là thành một món ngon. Không ai, kể cả Chín phải thấy tủi thân vì đã cúng ông già bằng những thứ còm nhom rẻ rề. Chẳng ai so đo chuyện nhiều ít, mà cũng không so đo được. Như Chín, làm sao tính được công đi bắt ốc vớt bèo nụm nịu nuôi bầy vịt, công xa xót khi chuột cống xông vào chuồng cắn cổ chết mấy con, công dầm mình đi cắm câu, đặt trúm.

Bà mẹ nói hồi xưa đám giỗ vui, giàu nghèo đề huê không khoảng cách. Ai đem gì về cúng cũng không quan trọng bằng đủ mặt. Đám giỗ giữa năm nhưng ngày từ Tết đã hẹn nhau về. Diễn ra chỉ hai ngày nhưng giỗ đã được nhen lên trong mỗi đứa con từ vài ba tháng trước. Người này trồng khóm, gieo cải sao cho ngay dịp giỗ đó là có rau trái lứa đầu, người kia để dành thứ nếp dẻo thơm gói bánh, cậu Út thì tự mình làm men, nấu rượu, cái thứ rượu trắng chưng đi cất lại để đám đàn ông uống không nhức đầu.

Hồi xưa đám giỗ vui, bà mẹ bần thần nói hoài. Khi đó Chín đã ra về. Nhắn Chín qua nhà là để cho dì ít tiền về đám giỗ ngoại. Bây giờ không cần nuôi vịt xách qua vì cậu nói không cần. Xóm mình đám giỗ, thôi nôi hay đầy tháng cũng bằng tiền tuốt. Đi bằng tiền gọn gàng và dễ dàng để nấu nướng những món đã tính trước.

Nhưng tiền thì đong đo được, bằng mắt thường. Nó làm tổn thương Chín, người sớm mai oằn vai gánh rau đi chợ, gánh thêm ông chồng hen suyễn với bầy con đông. Giỗ năm ngoái Chín líu ríu đưa cậu em năm chục ngàn, sau nghe mợ bĩu môi, thời buổi tiền mất giá chỉ nhiêu đó có mua được gì, không thấm tháp vô đâu. Ngoài chợ người ta đi đám cưới nhà hàng tệ lắm cũng phải ba trăm rồi.

Đám tiệc hiển nhiên là không nói tới, dân xóm Chiếc thăm bệnh, cúng chùa cũng bằng tiền, chẳng cần bày vẽ bỏ bao thơ. Lì xì Tết trẻ con so đo ngay lộc người này nhiều hơn người trước. Dúi cho Chín ít tiền, bà mẹ biết không có nghĩa là đứa em gái mình không tổn thương. Bồn chồn rờ nắn cái túi áo bà ba mỏng dính, Chín nói giỗ năm sau có khi em không về.

Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh, Chín tránh làm sao khỏi xây xước. Vài nhà trong xóm còn vay nợ để đi đám được rỡ ràng mày mặt, cũng giống có quãng vay mượn mua dàn karaoke hoành tráng hơn nhà bên. Như có những cơn sóng thực dụng vô hình cứ vỗ mãi vào bờ xóm Chiếc, làm long lở cái gọi là tình nghĩa…

Con sông chảy xiết qua xóm Chiếc mang theo gì trong lòng nó, chỉ nó biết.

(Đong tấm lòng, Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ, 2019)

            Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Những chi tiết nào gợi nên cuộc sống nghèo khó của nhân vật Dì Chín?

Câu 2. Xác định những từ ngữ địa phương được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo được thể hiện trong văn bản là gì?

Câu 4. Anh/Chị hiểu thế nào về nghĩa của nhan đề “Đong tấm lòng”?

Câu 5. Anh/Chị có đồng tình với câu nói “Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh” không? Vì sao?

II. VIẾT

Câu 1:

Theo anh/chị, vấn đề đặt ra trong văn bản có còn phù hợp với xã hội ngày nay không? Lý giải nhận định đó. 

Câu 2:

Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận phân tích nội dung và nghệ thuật của tám câu hát sau trong bài hát “Sống như những đóa hoa” của nhạc sỹ Tạ Quang Thắng1:

[…] Dù rằng tôi vẫn biết rằng gian khó đang chờ
 Rằng nếu tôi bước tiếp con đường này sẽ không dễ dàng
 Chẳng gì ngăn được tôi và những ước mơ này
 Vì tôi yêu lắm lắm cuộc đời và tôi tin vào con tim tôi.

Và tôi sống như đóa hoa này, tỏa ngát hương thơm cho đời
 Sống với nỗi khát khao rằng được hiến dâng cho cuộc đời
 Hôm nay dẫu có gian nan thì ngày mai là ngày tươi sáng hơn
 Tôi sẽ viết nên câu chuyện của cuộc đời riêng tôi.

1 Tạ Quang Thắng là một nam ca sĩ người Việt Nam, từng giành được 4 đề cử cho giải Cống hiến. Bài hát “Sống như những đóa hoa” nằm trong album cùng tên phát hành năm 2013, lời bài hát chất chứa những tâm sự sâu lắng, khát khao của những người khuyết tật không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn ngay từ lúc mới sinh. Nhưng họ đã vươn lên bằng ý chí, nghị lực sống, trở thành những đóa hoa tỏa ngát hương thơm.

HẾT 

Đáp án

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương pháp:

Đọc kĩ văn bản, xác định các chi tiết miêu tả về hoàn cảnh sống

Cách giải:

Những chi tiết gợi nên cuộc sống nghèo khó của nhân vật Dì Chín: nghèo nhứt gánh mình, nuôi chúng (vịt) bằng cám trộn bèo, ốc bươu vàng tách vỏ bằm nhỏ, có năm vịt còi vì ăn không đủ sức, lườn bén lẹm tóp khố, có năm gió độc làm cả bầy lăn ra chết hết, bắt ốc vớt bèo nụm nịu nuôi bầy vịt,  chuột cống xông vào chuồng cắn cổ chết mấy con, công dầm mình đi cắm câu, đặt trúm.

Câu 2:

Phương pháp:

- Vận dụng kiến thức về từ ngữ địa phương

- Đọc kĩ văn bản để xác định

Cách giải:

Những từ ngữ địa phương được sử dụng trong văn bản: nhứt, áng chừng, hột, cặp vịt, xách về, ưa , rẻ rề, ông già , bao thơ

Câu 3:

Phương pháp:

- Căn cứ vào nội dung toàn bộ văn bản

- Xác định mạch cảm xúc xuyên suốt văn bản.

Cách giải:

Cảm hứng chủ đạo được thể hiện trong văn bản: cảm thương với cái nghèo khó, chân chất của Dì Chín; kỷ niệm vui vầy đoàn tụ ngày giỗ ông; xót xa, ngậm ngùi vì đồng tiền làm mất đi tình nghĩa…

Câu 4:

Phương pháp:

- Phân tích nhan đề theo hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa biểu tượng.

- Liên hệ nội dung văn bản để rút ra thông điệp

Cách giải:

Nhan đề “Đong tấm lòng”: nhan đề đa nghĩa, độc đáo thể hiện qua từ “đong”

- Nghĩa đen: tấm lòng có thể cân đo đong đếm.

- Nghĩa chuyển: đong đầy tình cảm, tấm lòng.

=> Đề cao giá trị nhân nghĩa

Câu 5:

Phương pháp:

- Xác định rõ quan điểm (đồng tình/không đồng tình/đồng tình một phần).

- Lí giải bằng thực tế đời sống + giá trị đạo đức.

Cách giải:

Gợi ý: theo hướng đồng tình:

- Câu nói phản ánh một thực trạng đáng buồn: nhiều người dùng tiền bạc để đánh giá tình cảm.

- Trong các mối quan hệ giá trị vật chất đôi khi bị đặt lên trên tấm lòng. Điều đó làm tổn thương những người nghèo, khiến tình nghĩa trở nên hình thức, lạnh lẽo

- Tuy nhiên, không phải ai cũng như vậy; vẫn còn nhiều người coi trọng tình cảm hơn vật chất.

Đoạn văn tham khảo:

Tôi đồng tình với ý kiến “Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh”. Trong thực tế, không ít người có xu hướng đánh giá tình cảm thông qua giá trị vật chất mà người khác trao đi. Điều này khiến các mối quan hệ trở nên nặng nề, dễ nảy sinh sự so đo, hơn thua và làm mất đi sự chân thành vốn có. Khi tiền bạc trở thành thước đo, con người dễ quên rằng tình cảm thật sự được xây dựng từ sự quan tâm, chia sẻ và thấu hiểu. Tuy nhiên, vẫn có nhiều người giữ được cách sống coi trọng nghĩa tình hơn vật chất. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhìn nhận đúng giá trị của tình cảm, tránh để đồng tiền chi phối cách đánh giá và ứng xử trong các mối quan hệ.

II. PHẦN VIẾT

Câu 1:

Phương pháp:

Gợi ý:

1. Mở đoạn

- Giới thiệu khái quát về văn bản “Đong tấm lòng” của Nguyễn Ngọc Tư

- Giới thiệu vấn đề: tình nghĩa bị đong đếm bằng tiền bạc, lối sống thực dụng làm xói mòn giá trị truyền thống.

- Bày tỏ quan điểm cá nhân

2. Thân đoạn

- Phân tích

+ Các mối quan hệ vẫn bị “đong đếm” bằng vật chất, tiền bạc

+ Bệnh hình thức, sĩ diện ảo, vay mượn làm đám tiệc hoành tráng.

+ Người nghèo chân thành vẫn dễ bị tổn thương, mặc cảm.

+ Tình làng nghĩa xóm phai nhạt, sự gắn kết cộng đồng lỏng lẻo.

- Bình luận : Rút ra bài học

+ Sống chân thành, trân trọng tấm lòng hơn vật chất.

+ Không “đong” tấm lòng bằng tiền bạc.

3. Kết đoạn

Khẳng định lại giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn của vấn đề.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Văn bản “Đong tấm lòng” của Nguyễn Ngọc Tư đã đặt ra một vấn đề nhức nhối: tình nghĩa đang bị đong đếm bằng tiền bạc, lối sống thực dụng đang làm xói mòn những giá trị truyền thống tốt đẹp. Theo tôi, vấn đề ấy không chỉ tồn tại trong quá khứ mà vẫn còn nguyên tính thời sự trong xã hội ngày nay. Biểu hiện của nó thật phổ biến: các mối quan hệ bạn bè, gia đình đôi khi bị đặt lên bàn cân với những món quà, phong bì; bệnh hình thức, sĩ diện ảo khiến nhiều người vay mượn để tổ chức đám tiệc linh đình; những người nghèo chân thành như Dì Chín vẫn dễ bị tổn thương, mặc cảm khi tấm lòng của họ không được trân trọng; tình làng nghĩa xóm cũng vì thế mà phai nhạt, sự gắn kết cộng đồng trở nên lỏng lẻo. Từ thực tế đó, mỗi chúng ta cần rút ra bài học sâu sắc: hãy sống chân thành, biết trân trọng tấm lòng hơn những giá trị vật chất; đừng bao giờ lấy tiền bạc làm thước đo cho tình cảm. Có như vậy, những giá trị nhân văn tốt đẹp mới được gìn giữ và lan tỏa.

Câu 2:

Phương pháp:

* Giới thiệu chung (tác giả, tác phẩm, đoạn bài hát…)

* Trình bày tóm tắt nội dung của đoạn bài hát.

* Phân tích nội dung của tám câu trong bài hát:

- Bốn câu đầu: Vững tin bước tiếp trên con đường chính mình đã chọn, chẳng ngại nguy nan, gian khó.

- Bốn câu sau: Sống khát khao, biết cống hiến, biết hy vọng

* Phân tích nghệ thuật của các câu hát (từ ngữ, hình ảnh; biện pháp nghệ thuật; tiết tấu, giai điệu…).

* Những suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: Yêu thương con người, trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp của con người khi đối diện nghịch cảnh (dù có khiếm khuyết)…

Cách giải:

Bài văn tham khảo:

Trong dòng chảy âm nhạc Việt Nam đương đại, những ca khúc truyền cảm hứng sống tích cực luôn có sức lan tỏa mạnh mẽ, đặc biệt đối với người trẻ. Bài hát Sống như những đóa hoa của Tạ Quang Thắng là một trong những tác phẩm như thế. Tám câu hát tiêu biểu trong bài không chỉ thể hiện khát vọng sống mãnh liệt mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về ý chí, niềm tin và lẽ sống cống hiến của con người.

Đoạn lời ca mở ra bằng những suy tư chân thành về hành trình phía trước. Người hát ý thức rõ rằng con đường mình chọn không hề dễ dàng, rằng “gian khó đang chờ”. Đó là cái nhìn tỉnh táo, không né tránh thực tế. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả là một tinh thần kiên định: không gì có thể ngăn cản ước mơ và bước chân của con người. Niềm tin vào “con tim” và tình yêu tha thiết đối với cuộc đời đã trở thành động lực giúp con người mạnh mẽ tiến lên. Như vậy, bốn câu đầu đã khắc họa hình ảnh một con người dám đối diện thử thách, vững tin vào bản thân và lựa chọn của mình.

Nếu bốn câu đầu nhấn mạnh ý chí vượt khó, thì bốn câu sau lại mở rộng sang một quan niệm sống đẹp. Hình ảnh “đóa hoa” là một ẩn dụ giàu ý nghĩa, tượng trưng cho vẻ đẹp và sự lan tỏa. “Sống như đóa hoa” là sống để “tỏa ngát hương thơm cho đời”, tức là sống có ích, biết cống hiến và đem lại giá trị cho cộng đồng. Không dừng lại ở đó, con người còn mang trong mình “khát khao hiến dâng” và niềm tin vào một “ngày mai tươi sáng hơn”. Đặc biệt, câu hát “tôi sẽ viết nên câu chuyện của cuộc đời riêng tôi” thể hiện ý thức làm chủ cuộc đời, khẳng định giá trị cá nhân. Qua đó, đoạn ca khẳng định một lẽ sống cao đẹp: sống không chỉ vì bản thân mà còn để lan tỏa những điều tốt đẹp đến với cuộc đời.

Không chỉ sâu sắc về nội dung, đoạn lời ca còn giàu giá trị nghệ thuật. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu cảm xúc, dễ đi vào lòng người. Hình ảnh ẩn dụ “đóa hoa” mang tính biểu tượng cao, gợi liên tưởng về vẻ đẹp, sự cống hiến thầm lặng. Điệp từ “tôi” được lặp lại nhiều lần nhấn mạnh cái tôi cá nhân đầy bản lĩnh, tự tin. Giọng điệu thiết tha, chân thành kết hợp với tiết tấu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đã góp phần truyền tải thông điệp một cách mạnh mẽ và giàu sức thuyết phục.

Đoạn bài hát không chỉ là lời tự sự của riêng người nghệ sĩ mà còn là tiếng nói chung của những con người giàu nghị lực trong cuộc sống, đặc biệt là những người phải đối diện với nghịch cảnh. Từ đó, mỗi chúng ta càng thêm trân trọng vẻ đẹp của con người khi dám vượt lên số phận, dù có khiếm khuyết hay khó khăn vẫn không ngừng vươn lên và cống hiến. Đồng thời, đoạn ca cũng nhắc nhở chúng ta cần sống có ước mơ, có lý tưởng, biết yêu thương và lan tỏa những giá trị tích cực.

Tóm lại, tám câu hát trong Sống như những đóa hoa đã thể hiện một thông điệp nhân văn sâu sắc về ý chí, niềm tin và lẽ sống đẹp. Đó không chỉ là lời ca, mà còn là lời nhắn gửi ý nghĩa, thôi thúc mỗi người sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong cuộc đời của mình.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 10

    TIẾNG NÓI VIỆT NAM VANG LÊN GIỮA CẢM TÌNH NHÂN DÂN THẾ GIỚI Nguyễn Tuân (1)Từ cái nguồn gốc còn là một bộ lạc thời cổ đại, bắt đầu ghi việc mình bằng bẻ que, thắt que, thắt nút, khắc lưỡi dao vào cột tre

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 8

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 7

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Lược dẫn: Trong tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng với Thúy Vân và Vương Quan (là hai em của Kiều) đi chơi xuân. Khi trở về, gặp một nấm mộ vô danh ven đường, không người hương khói. Kiều hỏi thì được Vương Quan cho biết đó là mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi danh tài sắc nhưng bạc mệnh.

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 6

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: ĐÂY THÔN VĨ DẠ Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

  • Đề thi học kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 5

    Đề thi học kì 2 Văn 11 bộ sách Cánh diều đề số 5 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close